Một chút tâm tình với di sản của nước Đại Nam xưa
Triều Nguyễn trị vì 143 năm (1802-1945), có 36 năm lấy tên nước là Việt Nam (1802-1838), 107 năm lấy tên nước là Đại Nam. Sáu mươi năm Pháp thuộc (1885-1945), người Pháp đã chia nước Nam thành Bắc Kỳ, (Tonkin) Trung Kỳ (An Nam), Nam Kỳ (Cochinchine) với ba chế độ cai trị khác nhau, nhưng triều Nguyễn vẫn giữ tên nước là Đại Nam cho đến ngày vua Bảo Đại thoái vị trao quyền cho chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (30-8-1945). Nước Đại Nam sống bên cạnh nước lớn Trung Hoa, với hàng ngàn năm lịch sử bị uy hiếp, chiếm đoạt rồi lại bị chế ngự bởi văn minh vật chất của phương Tây nhưng không hề run sợ.

Giặc đến là đánh, đánh không nổi thì hòa, thất thế không hòa được thì tìm mọi cách hạn chế sự thiệt hại. Lãnh thổ mất nay đã độc lập, hòa bình, thống nhất trên 40 năm. Di sản vật chất, di sản phi vật chất của nước Đại Nam đã trải qua 3 cuộc chiến tranh (1885, 1947, 1968) phá hoại vô cùng ác liệt, nhưng giống như một lực sĩ dù đầu mình chân tay bị cắt cụt, thân hình vẫn là thân hình của một lực sĩ. Dù chế độ Quân chủ đã bị thay thế hơn 70 năm, nhưng ngày nay vào tham quan điện Thái Hòa trong Hoàng thành Huế vẫn thấy lồng lộng tuyên ngôn của nước Đại Nam đính ở gian chính trung, ô chính giữa trên điện:  

Bài thơ ở gian chính trung, ô chính giữa trên điện Thái Hòa

"Văn hiến thiên niên quốc

Xa thư vạn lý đồ

Hồng Bàng khai tịch hậu

Nam phục nhất Đường Ngu,

Dịch nghĩa

Nước ngàn năm văn hiến

Mở rộng quy mô xưa

Từ Hồng Bàng mở cõi

Phương Nam một Đường Ngu.

      Đường Ngu ở Phương Nam ấy là nước Việt Nam/Đại Nam bên  bờ Thái Bình Dương.

 "Đại Nam nhất thống toàn đồ" bên bờ Thái Bình Dương vẽ gộp
hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa

Sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam/Đại Nam của triều Nguyễn bắt đầu từ sau ngày Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long (1802). Với sự trợ giúp kiến thức của các “chuyên gia” đến từ nước Pháp, vua Gia Long xây dựng Kinh thành Huế với kiến trúc Đông Tây kết hợp được đánh giá là vĩ đại nhất trong vùng Đông Nam Á thời bấy giờ. Tiếp tục công việc của vua cha, vua Minh Mạng đã hoàn thành việc xây dựng Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành - Những kiến trúc chính trong quần thể di tích cố đô Huế mà sau này được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

I. Di sản của nước Đại Nam 

Từ Kinh thành Huế, các vua đầu triều Nguyễn đã thiết lập được một chính quyền thực hiện những công việc vô cùng quan trọng của một nhà nước sau chiến tranh vốn bị chia cắt ra nhiều vùng miền.

1.1. Ban hành Hoàng Việt luật Lệ: hướng cho thần dân trăm họ sống trong khuôn khổ pháp luật;

1.2. Nhanh chóng thiết lập đường Thiên lý thông suốt từ Lạng Sơn xuống đến mũi Cà Mau. Mệnh lệnh, chiếu, chỉ của triều đình Huế, trong vòng 6 ngày đêm ngựa trạm có thể chuyển đến các tỉnh tận cùng hai đầu đất nước;

1.3. Đào kênh, đắp đường vừa làm ranh giới quốc gia (kênh Vĩnh Tế), ranh giới các tỉnh phủ huyện, vừa dẫn thủy nhập điền, làm đường giao thông thủy cho tàu thuyền của nhà nước, quân đội và dân chúng đi lại;

1.4. Khuyến nông, sản xuất tiểu thủ công nghiệp; nền tảng kinh tế của xã hội;

1.5. Cùng với các nước Nhật Bản, Triều Tiên, triều Nguyễn vận dụng văn hóa chữ nghĩa của Nho giáo xây dựng một nền văn hoá giáo dục riêng cho nước Đại Nam.

1.5.1. Tổ chức giáo dục từ xã, huyện lên đến tỉnh. Tại Kinh đô mở trường Quốc tử giám đào tạo nhân tài cho đất nước.

1.5.2. Xây dựng Văn Thánh, Võ Thánh để thờ phụng tôn vinh những người tài có công trong lãnh vực văn và võ. Tôn trọng người có học, từ Kinh đô đến các tỉnh, huyện và cả xã đều có đền Văn thánh; 

1.5.3. Mở Quốc sử quán sưu tầm sách trên toàn quốc đem về Kinh đô, tuyển chọn người có tài giúp biên soạn sách sử (trường hợp Phan Huy Chú); tổ chức biên soạn in ấn quốc sử, quốc chí, tỉnh chí, thơ văn ngự chế... Các sách sử của Quốc Sử Quán triều Nguyễn là một di sản vô cùng quý giá đối với dân tộc Việt Nam trong mọi thời kỳ [Phụ lục ở cuối tham luận];

1.5.4. Đặt Khâm Thiên giám theo dõi thời tiết, làm lịch riêng cho dân Đại Nam;

1.5.5. Trùng tu chùa Thiên Mụ (thờ Phật), xây dựng Văn Thánh (thờ Khổng Tử), nhà Nguyễn còn xây dựng Linh Hựu Quán (thờ Lão Tử) để thể hiện chủ trương Tam giáo đồng nguyên của nước Đại Nam.

1.5.6. Các vua Nguyễn đã xây dựng các lăng tẩm cho mình để họ được sống sau khi qua đời. Mỗi khu lăng mộ là một công trình kiến trúc tuyệt vời. Lăng Gia Long hùng vĩ, lăng Minh Mạng uy nghi, lăng Tự Đức thơ mộng và lăng Khải Định tráng lệ. Lăng Tự Đức là một mẫu hình kiến trúc phong cảnh ra đời từ giữa thế lỷ XIX.  

1.6. Quản lý xã hội, triều Nguyễn có những quy định, điển lệ để giữ trật tự xã hội rất sâu sát. Bộ sách Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam hội điển sự lệ tục biên qui định từ những việc nhỏ nhất như: các món ăn, điệu nhạc, nhà cửa, áo quần, đến việc lớn như: tiếp khách quốc tế, khách các nước lớn, khách nước nhỏ, lễ tết trong cung đình... Những luật lệ, điển lệ có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của chế độ quân chủ của nhà Nguyễn đến 143 năm là luật “Hồi tỵ” (quan lại không được đứng đầu địa phương của mình, không được đưa bà con nội ngoại của mình vào cùng làm việc một nơi, đi chấm thi nếu trong kỳ thi có con cháu nội ngoại đi thi thì phải "Hồi tỵ" khai báo rõ để tránh bao che gian lận; luật tuyển dụng người phải công khai bằng hai cách là qua khoa cử và những người tài giỏi mà không qua khoa cử thì phải được địa phương đề cử; các điển lệ về “Đình Nghị” (Cuộc họp các quan văn võ trong triều đình để thảo luận bàn bạc đề xuất với vua một vấn đề gì, những người dự họp đều phải có ý kiến), “Dưỡng Liêm” (Phụ cấp tiền cho những người đi thanh tra, điều tra, khám xét để tránh ăn hối lộ). Đặc biệt cấm đưa người họ ngoại của vua và thái giám vào làm quan. (Để tránh người họ ngoại dựa vào thế của vợ vua hành xử bất chính và người sinh lý không bình thường xử lý việc quan sẽ không bình thường). Hai điển lệ nầy được khắc lên bia đá dựng ở Quốc Tử Giám để giáo dục sĩ tử.

1.7. Mặc dù nhà Nguyễn vận dụng văn hóa tư tưởng của đạo Nho vào việc xây dựng đất nước và trị nước, nhưng nước Đại Nam có những thành tựu mà nước Trung Hoa to lớn gấp nhiều lần không có. Ví dụ như nước Trung Hoa trước thời hội nhập quốc tế chưa hề nghĩ đến nguồn tài nguyên biển. Do đó, ngày nay họ rất thất thế trong việc tranh chấp chủ quyền các biển đảo với Philipine và Việt Nam. Đứng trước nền văn chương, văn hóa của nước Trung Hoa vĩ đại, nước Đại Nam không hề sợ hãi. Vua Tự Đức khen các văn thần và các Hoàng tử giỏi thơ văn của nước Đại Nam rằng: Văn như Siêu Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường.

[Văn của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, thơ của hai ông Hoàng tử con vua Minh Mạng là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương.]

Có nhà văn, nhà nghiên cứu Trung Quốc nào phê bình vua Tự Đức đã trịch thượng xem thường văn của thời tiền Hán và thơ thời thịnh Đường của Trung Quốc đâu!  

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Sự nghiệp văn chương văn hóa của nước Đại Nam thế kỷ XIX bằng 19 thế kỷ trước cộng lại. Sự nghiệp đó đã hình thành rõ bản sắc văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XIX.

Nhưng…

II. Di sản nghiệt ngã trong nhiều cuộc chiến tranh

Di sản văn minh văn hóa vật chất và phi vật chất của nước Đại Nam đã trải qua những biến cố máu lửa vô cùng nghiệt ngã.

2.1. Sau ngày thất thủ Kinh đô (1885), thực dân Pháp đã cướp phá Kinh thành, họ cử một đại đội lính Pháp di chuyển của cải vật chất, trong đó có nhiều sách vở, cổ vật quý hiếm trong Hoàng thành xuống tàu đậu trên sông Hương. Công việc di chuyển này phải thực hiện ba tháng mới xong. Với một lực lượng như thế chuyển tài sản của triều Nguyễn trong 90 ngày mới xong như thế chứng tỏ số lượng tài sản của nước Đại Nam đã bị chiếm đoạt lớn đến chừng nào!

2.2. Ngày 30-8-1945, vua Bảo Đại thoái vị, nhà vua cùng với ông Phạm Khắc Hòe – nguyên Đổng lý Văn phòng của vua Bảo Đại, đem nộp cho Chính phủ VNDCCH ngoài ấn kiếm đã trao còn biết bao bảo vật quý như ấn triện bằng vàng, kim sách và nhiều bảo vật quý khác;

2.3. Cuối năm 1946, chuẩn bị toàn quốc kháng chiến, hầu hết sách vở quý của triều Nguyễn di chuyển ra làng Hiền Lương, huyện Phong Điền, một số khác người dân đem bán ở chợ Đông Ba, sử dụng làm giấy hút thuốc. Thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, hầu hết các kiến trúc chính năm trên đường chính đạo từ cửa Ngọ Môn ra đến cửa Hòa Bình đều bị phá sập hoặc đốt cháy, tiêu biểu nhất là các điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, điện Kiến Trung;

2.4. Thời Ngô Đình Diệm (1954-1963), chính quyền sợ chiến tranh có thể xảy ra ở sông Bến Hải phía bắc Huế nên cho chuyển toàn bộ mộc bản Địa Bạ vào Sài Gòn, mộc bản sách sử vào Đà Lạt;

2.5. Năm 1968, quân đội Giải Phóng đánh chiếm và làm chủ thành phố Huế 26 ngày đêm, quân đội Mỹ và VNCH phản kích bằng máy bay và pháo hạm đội, 80% di tích trong Hoàng Thành đều bị hư hại nặng;

2.6. Sau năm 1975, thành lập tỉnh Bình Trị Thiên, cán bộ thiếu chỗ ở, chính quyền thiếu cơ quan làm việc, một số kiến trúc ở các lăng, trong Hoàng Thành bị trưng dụng như: lăng Thiệu Trị làm kho chứa hàng viện trợ của các nước Đông Âu, cung Trường Sanh làm nhà in BTT, cung Diên Thọ làm cơ quan Xí nghiệp Truyền Thanh ... ;

2.7. Chiến tranh lâu dài, nhiều quan tượng ở lăng Gia Long bị chặt đầu, điện Minh Thành hư hại nặng, lăng hoang phế. Lăng Thiệu Trị xuống cấp mãi cho đến nay vẫn chưa phục hồi lại được, lăng Dục Dức bị sử dụng làm đồn lính Tây. Cũng do chiến tranh dân nông thôn, dân nghèo đô thị chiếm đất dựng nhà trên Thượng Thành cho đến nay vẫn chưa giải tỏa hết được. Điều đáng sợ hơn nữa, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục – anh ruột của Tổng thống Ngô Đình Diệm từng đề nghị sử dụng Hoàng thành Huế làm Câu lạc bộ Thanh niên. Thời tỉnh Bình Trị Thiên cũng đã có quan chức văn hóa thông tin đề nghị phá giở bớt Kinh Thành Huế để mở rộng Thành phố như mô hình ở Ba Lan. May mắn là những đề nghị ấy đã không thành hiện thực.

III. Thành tựu thật to lớn

Tiếp nhận một Di sản vĩ đại và nghiệt ngã như vậy, hơn 40 năm qua, dưới sự lãnh đạo về chuyên môn của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch), sự trợ giúp về kỹ thuật và tiền bạc của quốc gia và quốc tế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã cứu vãn và phát huy được nhiều công trình di tích có ý nghĩa. Thành quả này Trung tâm có trách nhiệm thông báo với Hội thảo và dân chúng. Trong những thời gian khác nhau Bộ Văn hóa Thông tin, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và ngành Văn hóa tỉnh Lâm Đồng đã làm hồ sơ đệ trình UNESCO và Di sản vật chất và phi vật chất của nước Đại Nam đã được UNESCO công nhận 5 di sản: 

- Di sản vật thể: Quần thể di tích Cố đô Huế;

- Di sản phi vật thể: Nhã nhạc, nghệ thuật diễn xướng cung đình,

- Di sản tư liệu: Mộc bản;

- Di sản tư liệu: Châu bản;

- Di sản tư liệu: Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế.

Sau ngày thống nhất đất nước (1975), Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thăm Huế và nói chuyện với trí thức Huế. Thủ tướng nói “Giải phóng xong may ra còn có Huế để đối ngoại về văn hóa”. Với thành quả 4 di sản được UNESCO công nhận nêu trên đã chứng thực ý kiến của người đứng đầu Chính phủ lúc bấy giờ là đúng sự thực.  

Thành quả của Trung tâm BTDT Cố đô Huế đã thu hút khách tham quan trong và ngoài nước, giúp cho ngành du lịch Huế trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thừa Thiên Huế. Chỉ trong 8 tháng đầu năm 2016 này, doanh thu của Trung tâm đã đạt đến con số trên 192 tỷ đồng VN. Ngoài việc trùng tu, xây dựng lại, chống đỡ cứu vãn bao nhiêu di tích, Trung tâm BTDT Cố đô Huế còn phục hồi nhiều sinh hoạt cung đình như lễ tế Nam Giao, tế đàn Xã Tắc, múa hát cung đình, lễ hội truyền thống điện Huệ Nam (điện Hòn Chén)... Điều ấn tượng nhất là qua quá trình trùng tu, xây dựng di tích với sự giúp đỡ kiến thức của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung tâm BTDT Cố đô Huế đã hình thành một trường phái trùng tu di tích Huế được giới trùng tu xây dựng di tích trong nước quan tâm.

Thành quả thật to lớn nhưng ….

IV. Thực tế còn đòi hỏi nhiều hơn nữa

4.1. Số lượng di tích được trùng tu tôn tạo mới khai thác được cái vỏ (tham quan di tích), chứ chưa phục hồi tôn tạo được cái ruột. Khai thác phần vật chất chứ phần phi vật chất còn rất hạn chế;

4.2. Chưa giáo dục cho quần chúng vùng có di tích để họ tự hào góp phần cùng Trung tâm BTDT Cố đô Huế gìn giữ, bảo vệ. Trung tâm cũng chưa có chính sách cụ thể ưu tiên cho người địa phương có di tích phục vụ du lịch ở địa phương có di tích;

4.3. Trung tâm có một hội đồng tham vấn gồm các nhà nghiên cứu ngoài Trung tâm, nhưng chế độ đãi ngộ không khác gì những người ngoài hội đồng. Ngoài thù lao dự các cuộc họp giống như tất cả các thành viên khác ngoài hội đồng, các thành viên Hội đồng không có bất cứ một quyền lợi nào khác do đó nghĩa vụ của họ cũng rất sơ sài; 

4.4. Hàng lưu niệm, xuất bản phẩm bán trong khu di tích chưa được kiểm định chất lượng, còn quá nhiều hàng lưu niệm của Trung Quốc; đặt chỗ bán hàng lưu niệm không đúng chỗ so với thông lệ các nơi trên thế giới;

4.5. Bộ phận thuyết minh nói tiếng Hoa quá nhỏ so với các ngoại ngữ khác;

4.6. Thư viện của Trung tâm, bộ phận nghiên cứu khoa học của Trung tâm mới quan tâm đến thông tin trong các sách sử tài liệu của triều Nguyễn, chứ chưa sờ đến mộc bản, thơ văn, câu đối liên quan đến triều Nguyễn trong các Phủ, Phòng của các ông Hoàng, bà Chúa, gia đình các đại tộc Thân Trọng, Nguyễn Khoa, Hà Thúc, Hồ Đắc... ở Huế. Chưa khai thác được các thông tin trong sách của người châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản đến Việt Nam viết về các chúa Nguyễn, các vua Nguyễn như: Thích Đại Sán (thời chúa Nguyễn Phúc Chu), Jean Koffler, Pierre Poivre James Bean (thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát/Hoạt), John Barrow (thời Tây Sơn). Nguồn tài liệu nầy giúp ta soi sáng được những góc khuất trong lịch sử, văn hóa, địa lý triều Nguyễn. Đặc biệt, Trung tâm BTDT Cố đô Huế cũng chưa tích cực khai thác thông tin lịch sử trong bộ Đô Thành Hiếu Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế, gọi tắt là BAVH) ấn hành trong vòng 30 năm (1914-1944) với 121 tập và 1 tập danh mục có khoảng 13.000 trang in và hàng ngàn phụ bản, bảng khắc đen trắng hoặc màu. Như các nhà nghiên cứu Huế đã biết: BAVH là một nguồn tư liệu quý giá mà ngày nay chúng ta khó lòng thực hiện được. Nguồn tư liệu nầy còn giữ lại được nhiều hình ảnh, di tích đã bị chiến tranh hủy hoại như Văn Thánh, điện Cần Chánh, Đại Cung Môn...

V. Xin có một vài đề nghị

5.1. Tôi quan niệm nước Việt Nam ta tự hào với hàng ngàn năm văn hiến. Hà Nội ngày nay là Thủ đô của nước Việt Nam thời hiện đại. Trong quá khứ Việt Nam từng có những Kinh đô nổi tiếng mà Kinh đô Huế-Phú Xuân to lớn, hoàn chỉnh, gần gũi nhất với Thủ đô Hà Nội ngày nay. Do đó, để cho con cháu và thế giới biết Việt Nam có một Kinh đô/Thủ đô xưa như vậy. Cho nên tôi đề nghị Trung ương nên nâng cấp Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế thành Trung tâm Phục hồi Bảo tồn Di sản Cố đô Huế.

5.2. Cố đô Huế không chỉ là phần vật chất đền đài lăng tẩm mà lâu nây Trung tâm BTDT Cố đô Huế gìn giữ trùng tu phát huy giá trị mà còn có phần nội dung phi vật chất vô cùng giá trị nữa. Cho nên tôi đề nghị Trung ương nên có chủ trương “Giao lại cho César những gì của César”: Mộc bản gởi ở Lâm Đồng, Châu Bản giữ ở Hà Nội, Địa Bạ tồn kho ở TP HCM... Nhưng báu vật vua Bảo Đại nộp cho Trung ương nay không chuyển trả lại cho Cố đô Huế được thì cũng phải có những “bản sao” để trưng bày ở Di tích Huế..

5.3. Lâu nay chúng ta nghiên cứu Nguyễn để trùng tu tôn tạo di tích và đưa vào phục vụ du lịch, nhưng chưa nghiên cứu Nguyễn để học những gì quý giá Nguyễn đã để lại và tránh những gì không hay của triều Nguyễn. Nếu chúng ta sớm biết và thực hiện các điển lệ Hồi tỵ, Khoa cử, Đình nghị, Dưỡng Liêm của triều Nguyễn thì hạn chế được rất nhiều tệ nạn tham nhũng, bằng cấp dỏm, bè phái, nhóm lợi ích. Qua hội thảo nầy tôi đề nghị Trung ương Thành lập một Viện Nghiên cứu Nguyễn ở Huế;

5.4. Để đáp ứng được nhu cầu nhân sự có chất lượng, tôi đề nghị TTVTDT Cố đô Huế phối hợp với ĐH Huế mở lớp đào tạo thuyết minh, thợ  trùng tu di tích, chuyên gia nghiên cứu Nguyễn;

5.5. Trung tâm thành lập một Công-ty chuyên lo kinh doanh trong khu di tích, dành một không gian thích hợp để kinh doanh, ở đó không những bán hàng lưu niệm mà còn ẩm thực Cung đình và cũng có thể tổ chức cho khách ngủ qua đêm ở Hoàng Cung. Khu vực kinh doanh phải được thiết kế mỹ thuật mang phong cách Nguyễn không được tùy tiện như hiện nay. Khu kinh doanh cũng là một điểm du lịch hấp dẫn ngày và đêm. 

5.6. Phải có Quyết định thành lập Hội đồng tham vấn (Council consultations/Consultations du Conseil). Tiêu chuẩn thành viên: chuyên ngành nghiên cứu Nguyễn, kiến trúc cổ, thay mặt Nguyễn Phước tộc, dịch thuật (Pháp, Hán, Anh, Nhật, Hàn), sưu tầm tư liệu... Quy chế tham vấn. Thẻ chức danh tham vấn. Chế độ thù lao. Thành viên hội đồng tham vấn không chỉ mời người ở Thừa Thiên Huế mà còn có thể mời người ngoài tỉnh và ngoài nước. Hội đồng tham vấn phải được công bố trên Websites của Trung tâm để các nhà nghiên cứu và độc giả có thể trực tiếp gặp tham vấn;

5.7. Trung tâm chủ trương làm tập san Di Sản Huế rất cần thiết. Tôi đề nghị hình ảnh tư liệu in trong tập san phải được in ít nhất cũng phải trang trọng khổ lớn giống như BAVH đã ra đời hàng trăm năm trước. Trước khi ra số mới cần có cuộc họp nhỏ ngoài Ban biên tập mới thêm Hội đồng tham vấn để thông báo những tài liệu hình ảnh gì mới sưu tập được từ sau số vừa ra, góp ý với các nghiên cứu, sách liên quan đến triều Nguyễn vừa ra đời, nếu tốt thì Tập san giới thiệu, nếu chưa tốt thì góp ý để độc giả khỏi nhầm.

5.8. Nhiều người, nhiều dòng họ, nhất là dân Nam Bộ - chịu ơn triều Nguyễn rất. Họ đến tham quan Huế họ muốn thắp một nén hương tưởng nhớ nhà Nguyễn nhưng không biết thắp ở đâu, trong các miếu thì cấm tuyệt. Tôi đề nghị chọn một nơi thuận tiện trước Thái Miếu và trước Thế Miếu thiết lâp một bàn thờ có đầy đủ bài vị (phục chế) của các chúa và các vua Nguyễn, bát hương, bình hoa, đèn. Bên cạnh bàn thờ đặt một thùng phước sương và một tập giấy ghi cảm tưởng in sẵn (Họ tên, tuổi, quê quán, địa chỉ, lời cầu nguyện). Qua đó ta thấy được lòng dân đối với triều Nguyễn. Tiền phước sương dùng để cúng giỗ các chúa, các vua, các bà hoàng hậu Thừa Thiên, Thuận Thiên, Từ Dũ, Từ Cung và cả bà Nam Phương. 

5.9. Trung tâm nên có những hoạt động quảng bá lớn cho việc thu hút khách tham quan Cung An Định, lăng vua Gia Long.

                                                                                                ...        

Kết luận: Thời gian qua tôi dồn hết tâm sức cho công trình khám phá về Phủ Dương Xuân thời các chúa Nguyễn/Cung điện-lăng Đan Dương của Hoàng đế Quang Trung nên không dám nhận viết bất cứ một vấn đề gì. Nhưng do yêu cầu của Ban tổ chức Hội thảo nầy đối với một thành viên trong Hội đồng tham vấn, tôi không từ chối được. Tôi viết bài nầy trong hoàn cảnh thị lực của đôi mắt tôi chỉ còn nhìn được một phần tư. Việc tra cứu tư liệu không thực hiện được. Những gì tôi viết ra đã có sẵn trong tâm trí tôi. Cho nên bài viết chỉ là một phát biểu chi tiết hơn là một tham luận khoa học. Thông tin, nhận định của tôi trong bài viết chắc chắn không tránh được bất cập. Kính mong Hội thảo lượng thứ cho những sai sót và giúp tôi sửa chữa những lỗi do thiếu thông tin. Xin trân trọng cám ơn.

                                                                                                                  Huế, 16 tháng 9 năm 2016

                                                                                                                                  N.Đ.X. 

                                                         

Phụ lục

Các sử sách của Quốc sử quán triều Nguyễn như tôi biết.

1. Lịch sử, văn học, pháp luật

Đại Nam thực lục (Tiền biênChính biên), Đại Nam liệt truyện (Tiền biênChính biên), Minh Mệnh chính yếu, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đồng Khánh Khải Định chính yếu, Quốc triều Chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệKhâm định tiễu bình lưỡng kỳ nghịch phỉ chính biên, Minh Mệnh ngự chế văn, Minh Mệnh ngự chế thi tập, Ngự đề đồ hội thi tập, Thiệu Trị ngự chế thi, Tự Đức ngự chế thi, Tự Đức ngự chế văn, Ngọc điệp Tôn phổ, Hoàng Việt Luật Lệ, Đại Nam Sử Lược ( sách nầy chỉ in một bản để tặng Đông Cung Hoàng Thái tử).

2. Quốc chí: -Hoàng Việt nhất thống địa dư chí của Lê Quang Định soạn năm 1806 nhưng chưa được in: nội dung chủ yếu về các trấn, sở và hệ thống giao thông Việt Nam thời bấy giờ;

Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú in lần đầu năm 1833 thời Minh Mạng, viết về thay đổi về địa lý hành chính, người nổi tiếng, sản vật, nghề thủ công các địa phương Việt Nam.

Đại Việt địa dư toàn biên (hay Phương Đình dư địa chí) do Nguyễn Văn SiêuBùi Quỹ soạn thời Tự Đức, in năm 1900 do Nguyễn Trọng Hợp đề tựa.

Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức do Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường soạn. Viết về từng tỉnh trong cả Việt Nam và một số lãnh thổ kề cận bấy giờ. Bản thảo đã soạn xong nhưng vua Tự Đức chưa cho in.

Đại Nam nhất thống chí đời Duy Tân trích các địa phương thuộc Trung Kỳ trong bản thảo soạn thời Tự Đức biên tập lại, bổ sung thêm một số mục mới ra đời sau thời Tự Đức, xuất bản vào năm 1014;

Đồng Khánh địa dư chí lược nội dung lấy từ Đại Nam nhất thống chí và sắp xếp lại.

3. Địa phương chí: Bắc thành địa dư chí của Lê ChấtNguyễn Văn Lý, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Bắc Ninh tỉnh chí, Hưng Yên nhất thống chí, Hưng Hóa chí lược, Sơn Tây tỉnh chí, Nam Định tỉnh địa dư chí, Hoan Châu phong thổ chí, Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch, Thanh Hóa tỉnh chí, Quảng Nam tỉnh chí lược, Cam Lộ phủ chí.

 
 
Các bài Bài mới viết khác
Các bài Bài mới viết