Với tôi nghiên cứu Huế giống như một thứ đạo
Biết tôi có ý định tìm tư liệu viết về Cố đô Huế, nhân dịp Festival 2002, nhiều nhà văn đã khuyên nên đến gặp nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, bởi”ông là một bảo tàng sống về Huế với những công trình nghiên cứu có giá trị”. Tôi gặp ông, Nguyễn Đắc Xuân chỉ nhận mình là một nhà nghiên cứu nghiệp dư, đâu có gì đáng viết. Nhưng điều đó chỉ càng làm tôi thêm tò mò muốn tìm hiểu về “nhà Huế học” như bạn bè vẫn gọi ông như thế.

Cùng với Thiền sư Thích Nhất Hạnh

1. Hà Nội Mới: Thưa nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, điều gì đã gắn bó ông với những công trình về Cố đô Huế và triều Nguyễn?

Nguyễn Đắc Xuân: Sau ngày giải phóng, tôi cùng làm công tác tuyên huấn ở Thành ủy Huế. Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thăm Huế có bảo : “Giải phóng xong, Việt Nam may còn có Huế để đối ngoại về văn hoá”. Đồng thời chúng tôi cũng nhận thấy: “Nếu không hiểu triều Nguyễn và Huế xưa thì không thể làm công tác tư tưởng ở Huế được”. Do đó, từ Ban Tuyên huấn Thành ủy tôi đã bắt đầu nghiên cứu triều Nguyễn và lịch sử  Huế.  Điều nhận định của chúng tôi rất thực tế khi tôi lao vào nghiên cứu đề tài Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế. Nếu không hiểu được triều Nguyễn và Huế xưa thì không thể hiểu được Thời niên thiếu của Bác Hồ. Còn lời phát biểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì chỉ mấy năm sau Cuộc vận động UNESCO công nhận di tích lịch sử văn hóa Huế là di sản văn hóa của nhân loại bắt đầu (1980). Từ năm 1988, tôi được chuyển qua làm văn nghệ và làm báo, không còn làm tuyên huấn nữa, nhưng tôi vẫn theo đuổi việc nghiên cứu. Một người có ăn học ở Huế, được cầm bút như tôi mà không tham gia nghiên cứu triều Nguyễn và lịch sử Huế thì có làm được gì tốt hơn nữa đâu ! Và đến nay, việc nghiên cứu triều Nguyễn và Huế xưa của tôi đã trở nên một thứ đạo.

2. HNM: Theo ông nghiên cứu về Cố đô Huế xưa và thành phố Huế hôm nay có gì khác nhau?

NĐX: Câu hỏi nầy quá rộng rất khó trả lời. Muốn thấy sự khác và giống nhau của hai thời phải biết cái đó là cái gì ? Ví dụ như  về việc qui hoạch  Kinh thành Huế xưa và qui hoạch Thành phố Huế đến năm 2020, việc sử dụng con người xây dựng các công trình.v,v. hai thời rất khác nhau. Ngày xưa người ta qui hoạch lấy Kinh thành Huế làm trung tâm, bây giờ thì phát sinh nhiều trung tâm; ngày xưa không ai được xây dựng vi phạm cảnh quan vùng phía Tây nam Huế, năm 1911, thực dân Pháp xây dựng nhà máy nước Vạn Niên cũng phải thuê kiến trúc sư Bossa thiết kế một kiến truc giống như một cái lăng để khỏi phá vỡ cảnh quan bên sông Hương gần lăng Tự Đức. Bây giờ thì đoạn đường Quốc Lộ  1A chạy qua Huế được chuyển lên vùng đồi núi giữa lăng Minh Mạng và lăng Khải Định. Phố xá, nhà cao tầng nhí nhố sẽ mọc lên dọc đoạn đường quốc lộ huyết mạch nầy. Môi trường yên tĩnh vô giá của vùng lăng tẩm Huế chắc chắn sẽ không còn nữa. Về con người thiết kế xây dựng, trùng tu ngày xưa là những người giỏi nhất nước. Làm là chắc chắn đúng và có giá trị lâu dài. Ngày nay không thiếu những cán bộ vừa học vừa làm, có làm có sai, sai đâu sửa đó, không sửa được thì bỏ.  Biết bao thứ đã phải bỏ đi làm lại như Đài Liệt sĩ trên đàn Nam Giao, nhà Thủy tạ trước cửa Nhà Đồ, bờ kè sông An Cựu và bờ kè sông Hương v.v.

3. HNM: Mặc dù là triều đại phong kiến gần nhất với thời đại hiện nay  nhưng lịch sử thời nhà Nguyễn vẫn còn nhiều bí ẩn. Ông vẫn còn theo đuổi đến cùng đề tài nầy?

NĐX: Cái bích chương vận động cho Huế, UNESCO viết : “Huế Toujours Recommencé”. Huế luôn luôn phải bắt đầu trở lại. Tôi hiểu ý của UNESCO là người ta tưởng đã hiểu Huế nhưng sự thực là chưa, luôn phải bắt đầu trở lại. Điều đó có nghĩa là Huế còn nhiều bí ẩn còn phải khám phá. Các đoàn du lịch đến Huế là để khám phá (découvrir). Cho đến nay tôi vẫn thấy mình đang đứng ở điểm xuất phát của con đường nghiên cứu mà mình đã may mắn chọn đúng. Tôi sẽ dành trọn những năm tháng còn lại của đời mình để đi. Còn đi được đến đâu thì gục ngã để cho người sau đi tiếp thì chưa biết được.

4.HNM: Ông tìm kiếm nguồn tư liệu như thế nào?

NĐX: Sách sử của triều Nguyễn (những bộ sử chính tôi đã có đủ), sách sử của người Pháp viết về triều Nguyễn và Huế xưa (quan trọng nhất là hơn 120 tờ tập san Đô Thành Hiếu Cổ Bulletin des Amis du Vieux Hué), gia phả, tộc phả các đại gia (Nguyễn Phước, Nguyễn Khoa, Thân Trọng, Hoàng Trọng, Hà Thúc .v.v), hiện vật di tích còn trên đất Huế, hồ sơ lưu trữ của Mật thám Pháp, và đặc biệt nhất là nhân chứng lịch sử hiện còn sống ở Việt Nam và một phần ở Pháp… Phương tiện hiện đại và nghiệp vụ báo chí cũng đã giúp cho tôi rất nhiều trong việc sưu tập tư liệu lịch sử của tôi.

 5.HNM: Ông gặp khó khăn gì trong công việc của mình?

NĐX: Thời bao cấp việc đánh giá triều Nguyễn và Huế xưa chưa có sự thống nhất do đó tôi gặp rất nhiều khó khăn khi một Đảng viên “đi nghiên cứu triều Nguyễn”. Từ  sau ngày Di sản Huế được công nhận là di sản văn hóa nhân loại thì những khó khăn ấy dần dần được khoa học thuyết phục. Lịch sử triều Nguyễn và Huế xưa liên quan đến Trung Quốc, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Pháp…Tôi là một người đi kháng chiến về lại làm nghiên cứu nghiệp dư cố gắng lắm mới đọc được tài liệu bằng chữ Việt, chữ Pháp và chút đỉnh chữ Hán, còn các cổ sử viết bằng chữ Thái, Lào, Cămpuchia thì có lẽ đến cuối đời cũng không đọc được. Cũng vì nghiên cứu nghiệp dư nên cũng chưa có điều kiện xem các bộ sử  Trung Quốc viết có liên quan đến triều Nguyễn và Huế xưa như thế nào. Cho nên khi viết về triều Nguyễn có liên quan đến lịch sử các nước mình còn mù mịt tôi rất sợ. Và cái khó quan trọng nhất của tôi là cũng vì nghiên cứu nghiệp dư nên tôi chưa hề được nhà nước tài trợ cho đi nghiên cứu ở trong nước cũng như ở nước ngoài do đó rất thiệt thòi. Tất cả những gì tôi làm được cho đến nay là nhờ độc giả và sự phấn đấu của gia đình và bạn bè mà thôi. Mà độc giả và cá nhân thì làm sao giải quyết được những khó khăn của một người nghiên cứu khoa học.

6. HNM: Nhiều người nhận xét xứ Huế vừa trầm lắng vừa sâu sắc như cảnh vật Cố đô. Vậy ông tự nhận xét về bản thân mình như thế nào?

NĐX: Cha tôi người Huế, mẹ tôi người Đông Sơn Thanh Hoá, trưởng thành ở Đa Lạt, chơi với bạn bè người Quảng Nam (tôi nói tiếng Quảng), theo đạo Phật, được học Mác-xít. Có lẽ tôi đã chịu ảnh hưởng của tất cả con người, địa phương, tư tưởng trên. Cha mẹ tôi cho tôi sự hiền hòa sâu lắng của xứ Huế-xứ Thanh, Quảng Nam cho tôi tính bộc trực thẳng thắn (Quảng Nam hay cải), đạo Phật nhắc nhỡ tôi điều nhân quả, Mác-xít dạy cho tôi tinh thần khoa học.

5. HNM: Được biết ông đã nghỉ hưu chia tay với nghề báo để tập trung vào công việc nghiên cứu. Ông sẽ có những dự định gì trong thời gian tới ?

NĐX: Chương trình làm việc cuối đời của tôi có 3 việc chính: 1. Quan trọng nhất: Tôi phải trả “món nợ đời” là viết về những năm tranh đấu và kháng chiến của bạn bè thế hệ của tôi; 2. Hoàn thành những công việc tôi đã khởi động từ nhiều năm qua, trong đó có việc hoàn thành bộ sách “Hỏi đáp về triều Nguyễn và Huế xưa” (đã in 4 tập) ; 3. Sử dụng những hiểu biết và tích lũy sẵn có để viết một bộ tiểu thuyết lịch sử  triều Nguyễn thế kỷ XIX.

6. HNM: Ông có thể kể đôi điều về gia đình mình?

NĐX: Gia đình tôi có nhiều đời đánh trống thổi kèn trong triều Nguyễn, Ông nội tôi (cụ Nguyễn Đắc Tiêu) làm Nhạc chánh Nam triều (trưởng đội nhạc thời Thành Thái Duy Tân), bác tôi (Nguyễn Đắc Vọng) làm Ngũ Đẳng Thị Vệ (triều Khải Định-Bảo Đại), mẹ tôi người Thanh Hoá hát Ả đào, hiện còn sống ở Đa Lạt. Tôi không có anh em ruột, chỉ có 2 người anh em cùng cha khác mẹ và 6 người cùng mẹ khác cha.

Vợ tôi (Võ Thị Cẩm Tú, 1946), tốt nghiệp ĐH Sư phạm (1970), dạy Văn tại trường Đồng Khánh (cũ), nay đã nghỉ hưu; tôi có ba cháu gái: 1. Nguyễn Vũ Tú Anh (1976) hiện nay là sinh viên Cao học tại Đại học Sorbonne (Pháp), Tú Uyên (1980) sinh viên năm thứ tư Đại học Ngoại thương (Phân viện II, tại TP HCM ), Xuân Huy sinh viên Nha khoa năm thứ 2  ĐH Y Huế.

7. HNM: Cám ơn những điều tâm đắc ông vừa trao đổi với Hà Nội Mới.

Nguyễn Đức Kiên

báo Hà Nội Mới, CN 28/4/2002

(PV ngày 8/12/2001)

 
 
Các bài Phỏng vấn