Từ hồi ức đến lịch sử thường có một khoảng cách
Tạp chí Sông Hương số 127 (tháng 9/1999) có đăng bài “Bác Hồ, thời niên thiếu ở núi Ngự, sông Hương” do nhà văn Nguyễn Quang Hà - Tổng biên tập t/c Sông Hương, phỏng vấn tôi. Chín tháng sau, đột nhiên Nguyễn Quang Hà đưa cho tôi một bài được viết vào ngày 10.5.2000 với tựa đề Nguyễn Đắc Xuân nói sai sự thật của ông Lê Tự Đồng, và yêu cầu tôi viết bài trao đổi để độc giả Sông Hương thấy đâu là sự thật.

Hồ Chủ tịch với Luật sư Vũ Trọng Khánh - Bộ trưởng Bộ Tư pháp, GS Đặng Thai Mai, ông Nguyễn Vĩnh Thụy, ông Vũ Đình Huỳnh (người đeo kính đen đứng sau ông Vĩnh Thụy) - Bí thư của Hồ Chủ tịch, ông Ngô Quang Châu, ông Trần Huy Liệu - Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, ông Lưu Văn Lợi, ông Nguyễn Đình Thi (từ trái sang phải).

Tôi đã đọc kỹ hồi ký Bước ngoặt lịch sử (1) và Tình Dân Biển Cả (Nxb Thuận Hoá, 1993) của ông Lê Tự Đồng, tôi được biết ông Lê Tự Đồng là một trong những người lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền ở Huế vào tháng8/1945, cho nên khi nhận được bài viết của ông góp ý với tôi, tôi  hết sức trân trọng. Đọc qua bài viết cái cảm giác trân trọng lại sáng lên một nỗi vui mừng. Mừng vì bài viết của mình được một vị lão thành, là người “trong cuộc” góp ý, và mừng hơn nữa là trong bộ sưu tập tư liệu về Cách mạng tháng Tám /1945 ở Huế của tôi có thêm một tài liệu “đầu tay”. 

Năm 1985, với tư cách phụ trách tổ nghiên cứu Lịch sử Đảng  Thành phố Huế, tôi đã sưu tầm và ghi chép được một số hồi ký về Cách mạng tháng Tám/1945 ở Huế của các ông Hoàng Anh, Trần Huy Liệu, Lê Tự Đồng, Cù Huy Cận, Trần Anh Liên, Thanh Tịnh, Trần Thọ, Hoàng Phương Thảo, Trịnh Xuân An, Lê Văn Hiến và được Nxb Thuận Hoá đưa vào tập Bình Trị Thiên Tháng Tám Bốn Lăm xuất bản nhân kỷ niệm 40 năm Cách mạng tháng Tám ở Huế thành công. Theo tôi, sự thành công của của Cách mạng tháng Tám ở Huế, chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế do ngoại bang sai khiến ở Việt Nam là một sự kiện lịch sử trọng đại có ý nghĩa nhất của Huế thế kỷ XX. Vì thế trong 15 năm qua tôi đã tích cực hình thành bộ sưu tập về sự kiện nầy. Đến nay tôi đã có thêm hồi ký của các ông Tố Hữu, Trần Quý Hai, của các ông từng ở trong Chính phủ thân Nhật như Trần Trọng Kim, Vũ Đình Hoè, Phan Anh, Hoàng Xuân Hãn, Phạm Khắc Hoè...và của cả ông Bảo Đại. Ngoài ra còn sách sử của các nhà sử học Pháp như Philippe Devillers (Histoire du Viet Nam de 1940 à 1952), Jean Lacouture (Hô Chi Minh, Seuil, 1967), Daniel Grandclément (Bao Dai, JC Lattès, 1997) tướng tá Pháp như Jean Julien Fonde (L’ aventure viet-minh, Plon 1980), tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944-1947.v.v. Là một người nghiên cứu không chuyên, tôi không đủ điều kiện để có được đầy đủ tư liệu như mình muốn, nhưng với những gì đã có trong tay, càng nghiên cứu tôi càng thấy ảnh hưởng to lớn của tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng của Đồng chí Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các tầng lớp đồng bào, càng thấy sự lãnh đạo tài tình của Mặt trận Việt Minh trong cách mạng tháng 8/1945 ở Việt Nam nói chung và ở Huế nói riêng.

Bài viết Nguyễn Đắc Xuân nói sai sự thật của ông Lê Tự Đồng có nhiều thông tin, nhiều nhận định-đánh giá về con người và trường hợp ông Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng mà các hồi ký của các vị lãnh đạo cách mạng cùng thời với tác giả (và ngay của tác giả) chưa nói đến. Giá trị lịch sử của bài viết của ông Lê Tự Đồng được như thế nào tôi xin dành cho độc giả. Đối với tôi là một người nghiên cứu (dù không chuyên), đó là một tư liệu “đầu tay” rất quý. Tài liệu phản ảnh trung thực cái nhìn và tư duy của một trong những người trong cuộc. Trong bài viết nầy, tạp chí Sông Hương chỉ cho phép tôi được đề cập đến những gì mà ông Lê Tự Đồng đã phê phán tôi như:

 -“Nguyễn Đắc Xuân nói sai sự thật”, đã “ bóp méo sự thật về cách mạng tháng Tám - 1945”,

-“Nguyễn Đắc Xuân đã lồng ghép Vĩnh Thụy, một tên suốt đời bán mình cho ngoại bang bên cạnh Bác Hồ, làm cho bức tranh bị hoen ố”, “Nào là công dân Huế số 1...”

-“Vĩnh Thụy ngồi bên cạnh Bác thì không ai có thể thay thế được.”

-“Nguyễn Đắc Xuân còn tô đậm thêm công lao của Bảo Đại: Nhờ y mà cách mạng Việt Nam tránh được một cuộc lưu huyết”

Sở dĩ ông Lê Tự  Đồng hạ những lời phê phán nặng nề có tính qui chụp như trên vì ông đã căn cứ vào câu trả lời phỏng vấn của tôi và được Quang Hà ghi lại khá trung thực sau đây: 

Quang Hà hỏi - Ngoài những khó khăn về tư liệu, về cán bộ và cũng phải nói là khó khăn về tiền nữa, thì theo anh (trong nghiên cứu về Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế, của Bác Hồ với đồng bào Huế. NĐX chú thêm)  còn có khó khăn gì nữa không ? 

Tôi trả lời: Nếu còn, có lẽ là về nhận thức. Theo tôi có mấy vấn đề cần phải thống nhất sau đây:1. Thành phần xuất thân của Bác: ...2. Bác Hồ không của riêng ta:...; 3.Bác Hồ với nhân dân TTH .- Cho đến bây giờ một số người vẫn còn nghĩ  Bác Hồ với nhân dân TTH Huế có nghĩa là Bác Hồ với bộ phận dân chúng đi theo cách mạng hay đã tham gia cách mạng trong bí mật. Thực tế cho thấy, không những đồng bào mà ngay cả những người vì hoàn cảnh đứng trong hàng ngũ địch họ vẫn tự hào VN có Bác Hồ. Do đó theo tôi nên dùng cụm từ Bác Hồ với đồng bào Thừa Thiên Huế thì thích hợp hơn cụm từ nhân dân Huế. Người công dân Huế số một được ngồi bên cạnh Bác sau ngày Cách mạng tháng 8/1945 thành công là ông Vĩnh Thụy. Sau 1948, vì hoàn cảnh ông Bảo Đại trở lại cộng tác với Pháp đối đầu với Cách mạng, nhưng nếu không có Bảo Đại thì có Ngô Đình Diệm, không có Diệm thì có Nguyễn Văn Thiệu, có Trần Văn Hương....nhưng tháng 8.1945, sự có mặt của Vĩnh Thụy bên cạnh Bác thì không ai có thể thay thế được. Và cho đến nay cũng chưa ai nghiên cứu để hiểu hết cái giá trị của sự có mặt đó đếún đâu. Vĩnh Thụy đã giúp cho Cách mạng VN tránh được một cuộc lưu huyết và ngược lại chính người đáng tội chết trở thành người phò tá cho một chính quyền cách mạng còn trong trứng nước giá trị biết chừng nào” (Tcđd,tr.17-18).

Đây là nội dung trả lời một câu phỏng vấn, không phải là một bài nghiên cứu. Nhưng ý tưởng nầy là kết quả của một quá trình nghiên cứu của tôi và trước khi trả lời cho Quang Hà tôi cũng đã phát biểu như thế trong cuộc họp góp ý về nội dung trưng bày nhà Bảo tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên Huế mà người tham dự gồm các Đồng chí lão thành cách mạng (trong đó có ông Lê Tự Đồng), các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu về Bác. Nhân đây tôi nói rõ hơn vì sao tôi phát biểu như thế. 

1.Vĩnh Thụy - người công dân Huế số một sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công:

Cụm từ “ Công dân Vĩnh Thụy” không phải của tôi bày đặt ra mà là của nhà sử học Trần Huy Liệu - Trưởng đoàn đại diện Chính phủ lâm thời vào Huế nhận sự  thoái vị của Bảo Đại. Trong hồi ký Vào Huế Nhận Sự Thoái Vị của Bảo Đại ông Cù Huy Cận (cùng đi trong đoàn đại diện với ông Trần Huy Liệu), viết: Sau khi trao ấn kiếm xong, ông Bảo Đại “lúng túng không biết làm gì, nói gì. Một lúc sau, ông ta nói: “Bây giờ tôi được làm dân một nước độc lập, xin đoàn đại biểu Chính phủ cho tôi một vật gì làm kỷ niệm giờ phút này”. Sau khi trao đổi ý kiến giữa anh Liệu, anh Bằng và tôi (Huy Cận), chúng  tôi lấy một huy hiệu cờ đỏ sao vàng (mà Uíy ban Nhân dân Cách mạng Huế  đã gài vào áo chúng tôi) gài cho Bảo Đại. Anh Liệu bảo tôi báo cho đồng bào biết điều đó và đề nghị đồng bào hoan nghênh người công dân Vĩnh Thụy (NĐX nhấn mạnh). Nghe đồng bào “hoan hô”. Bảo Đại có vẻ cảm động, rồi chào chúng tôi ra về” (2)

Ngay sau giờ phút Cách mạng tháng Tám ở Huế thành công và trước lúc Vĩnh Thụy được gắn huy hiệu Cờ đỏ sao vàng được gọi là công dân Vĩnh Thụy tôi không thấy có vị quan lại triều Nguyễn nào được như thế cả nên tôi đã gọi Vĩnh Thụy là công dân số một trong giờ phút ấy. Với chứng lý lịch sử  như thế, tôi viết như thế không có gì là xuyên tạc hay bóp méo lịch sử cả.

2.Ngồi bên cạnh Bác sau ngày Cách mạng tháng 8/1945 thành công là ông Vĩnh Thụy. Sau ngày trao ấn kiếm (30.8.1945), người công dân Vĩnh Thụy của Huế được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Thủ đô Hà Nội làm Cố vấn cho Chính phủ Lâm thời. Đây là một sự kiện hết sức đặc biệt của Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc ấy vừa chứng tỏ sự nhân ái của Cách mạng Việt Nam, vừa tỏ sự đại đoàn kết để lôi kéo những thành phần chưa thực tình ngã theo Cách mạng, vừa không để cho các đảng phái, các thế lực nước ngoài lợi dụng danh nghĩa của “Hoàng đế Bảo Đại” để quậy phá chính quyền cách mạng, vừa chứng tỏ cái tính pháp lý của chính quyền mới (tiếp nối chính quyền cũ) trong việc đương đầu về ngoại giao với quân đội Anh-Pháp và quân đội Trung Hoa đang được phe Đồng Minh cho đổ bộ vào Việt Nam để giải giới quân đội Nhật. Trong những lần làm việc với nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đem Cố vấn Vĩnh Thụy đi theo. Chúng tôi đã tìm được 3 tấm ảnh quý hiếm: Tấm thứ nhất: Bác Hồ ngồi giữa Cố vấn Vĩnh Thụy và viên tướng Mỹ Gallagher (đại diện Đồng Minh) và các nhân sĩ trí thức tại Phủ Chủ tịch ngày 9/10/1945(3); tấm ảnh thứ 2: Lễ ra mắt Chính phủ kháng chiến với Quốc Hội khóa 1 vào ngày 2.3.1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng giữa cụ Huỳnh Thúc Kháng và Cố vấn Vĩnh Thụy(4) ; tấm ảnh thứ 3: Cố vấn Vĩnh Thụy ngồi giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyễn Giáp trong một cuộc họp của Hội đồng Bộ trưởng (Conseil des Ministre). Và tôi được biết trong các kho lưu trữ ở nhiều nơi còn có một số ảnh Cố vấn Vĩnh Thụy ngồi cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nữa. Căn cứ vào những hình ảnh ấy tôi viết “Ngồi bên cạnh Bác sau ngày Cách mạng tháng 8/1945 thành công là ông Vĩnh Thụy”. Lúc ấy còn có một công dân Huế nào khác có được sự vinh dự ấy nữa ? Vậy tTôi viết như thế có gì sai và bóp méo lịch sử đâu ?

3.”Sau 1948, vì hoàn cảnh ông Bảo Đại trở lại cộng tác với Pháp đối đầu với Cách mạng, nhưng nếu không có Bảo Đại thì có Ngô Đình Diệm, không có Diệm thì có Nguyễn Văn Thiệu, có Trần Văn Hương....nhưng tháng 8.1945, sự có mặt của Vĩnh Thụy bên cạnh Bác thì không ai có thể thay thế được”.

Ông Bảo Đại là ông vua cầm trong tay ấn kiếm tượng trưng cho quyền lực của nhà nước Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, ông ấy trao ấn kiếm cho chính phủ Cách mạng, Chính phủ Cách mạng được chính phủ Bảo Đại trao quyền lực để cầm quyền (tính pháp lý), để đương đầu với thù trong giặc ngoài, Chính phủ Cách mạng mời ông vua vừa mới thoái vị làm cố vấn để  góp sức cho Cách mạng. Chỉ có một ông vua, chỉ có một bộ ấn kiếm, chỉ có một người được mời làm Cố vấn. Ngoài ông Vĩnh Thụy ra, có còn ai có thể làm được việc đó không ? Sau 55 năm Cách mạng tháng Tàm thành công, có ai đề cử được một người nào khác có thể thay thế được vai trò của Bảo Đại-Vĩnh Thụy hồi tháng 8/1945 không ?  Nếu chưa tìm ra được người đó thì không thể bảo tôi viết sai, bóp méo lịch sử  được !

4.Vĩnh Thụy đã giúp cho Cách mạng VN tránh được một cuộc lưu huyết.

Như lời thuật của ông Lê Tự Đồng, lúc đó, với khí thế cách mạng như triều dâng thác đổ như thế, nhìn ông Bảo Đại như “một tên suốt đời bán mình cho ngoại bang” thì theo tôi nếu ông Bảo Đại vẫn cứ ngoan cố không chịu thoái vị thì chắc chắn Bảo Đại và gia đình ông đã cùng được sử dụng chung một huyệt mộ với ông Phạm Quỳnh và cha con ông Ngô Đình Khôi rồi. Cách mạng tháng Tám/ 1945 của Việt Nam xử tử vợ chồng Bảo Đại Nam Phương dễ gấp nhiều lần so với Cách mạng Pháp 1789 xử tử vợ chồng Louis 16 và Marie Antoinette. Với một bạo lực cách mạng ở Huế dưới quyền chỉ huy của ông Lê Tự Đồng như thế, chuyện giết ông Bảo Đại quá dễ. Ông Bảo Đại không trao ấn kiếm thì cách mạng tháng Tám ở Huế cũng thành công nhưng chắc chắn kết quả không được trọn vẹn như lịch sử đã diễn ra. May sao, Bảo Đại đã tuyên bố thoái bị kịp thời, tránh cho những người làm cách mạng phải cầm dao giết ông (lưu huyết). Cách mạng lật đổ chế độ quân chủ thân ngoại bang thành công mà không làm đổ máu ông vua đứng đầu chế độ đó chắc chắn được lòng người hơn so với các cuộc cách mạng thấm đỏ máu đã có trong lịch sử. Ngoài việc ông Bảo Đại thoái vị, ông còn kêu gọi Hoàng tộc, kêu gọi quan lại, kêu gọi những người dưới trướng ông ngã theo Cách mạng. Khi quân Pháp đổ bộ lập lại thuộc địa ở Nam kỳ, bà Nam Phương đã gởi Thông điệp kêu gọi Phụ nữ thế giới đấu tranh chận bàn tay xâm lược của thực dân Pháp. Những hành động góp sức với Cách mạng của vợ chồng ông Bảo Đại hồi Cách mạng tháng Tám/1945, về sau đã bị thực dân Pháp lên án rất gay gắt.(5)

Theo tôi, có được sự nhân ái mà chúng ta thường tự hào trong cách mạng tháng Tám ở Huế, một phần nhờ vào sự thoái vị kịp thời của Bảo Đại. Nói cách khác sự thoái vị kịp thời của Bảo Đại đã giúp cho Cách mạng tháng Tám ở Huế tránh được một cuộc lưu huyết. Đó là một sự thật rõ ràng, có gì mà ông Lê Tự Đồng phê phán tôi đã “tô đậm thêm công lao của Bảo Đại” ?  55 năm qua người dân Huế đều đã biết rõ chuyện ấy, có gì phải nhắc lại. Sở dĩ tôi nhắc lại chuyện đó để phục vụ hội nghị góp ý nội dung trưng bày của Nhà bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thừa Thiên Huế. Ý kiến phát biểu của tôi nhằm vào lúc đề cập đến Phòng trưng bày “Bác Hồ với nhân dân Thừa Thiên Huế” (mà tôi đã đề nghị thay từ nhân dân bằng từ đồng bào). Ảnh hưởng của Bác Hồ với đồng bào Huế rất lớn. Cái ảnh hưởng mang tính lịch sử là chuyện Bảo Đại - một người được Tây đào tạo, ăn chơi, “một tên suốt đời bán mình cho ngoại bang “ (LTĐ), mà khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo Cách mạng, đã không cần suy tính gì nữa, quyết định thoái vị trao quyền lực ngay cho Cách mạng. Điều nầy ông Lê Tự Đồng không hề đề cập đến trong hồi ký của ông. Nhưng  hồi ký Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của cụ Phạm Khắc Hoè- nguyên Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại, đã phản ảnh lại khá đầy đủ. Để cho những ai thiếu thông tin về chuyện nầy có dịp được biết tôi xin thuật lại theo hồi ký của cụ Phạm Khắc Hoè như sau: 

Sau khi nhận được bức điện của Ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc bộ ký tên Nguyễn Xiển, Nguyễn Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường với nội dung:” Một chính phủ nhân dân cách mạng lâm thời đã thành lập. Chủ tịch là Cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu đức Vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà”, Bảo Đại rất phân vân, không biết :’’ Cụ Hồ Chí Minh là ai mà lâu nay ở Huế chưa hề nghe tiếng? Biết đâu cụ Hồ Chí Minh và cụ Nguyễn Aïi Quốc lại không phải là một ? Tôi (tức Phạm Khắc Hoè) nói như thế với Bảo Đại rồi chạy ra nhà anh Tôn Quang Phiệt để hỏi. Nhưng anh Phiệt đi vắng. Tôi chạy qua nhà anh Đào Duy Anh. Anh này liền lục hết mọi tài liệu, sách vở giở ra xem thì cụ Nguyễn Ái Quốc có rất nhiều tên trong quá trình hoạt động cách mạng, nhưng không có tên nào là Hồ Chí Minh cả. Sực nhớ đến Vũ Văn Hiền vừa mới ở Hà Nội về, tôi chạy tới hỏi thì Vũ Văn Hiền nói ngay: “Đúng rồi! Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc”.

Tôi mừng quá, lên xe cấp tốc về báo tin vui với Bảo Đại thì Bảo Đại bật ngay ra một câu tiếng Pháp “ìa vaut bien le coup alors”, nghĩa là “Như  thế  thì thật đáng thoái vị”(6)

(Đối với những người rất thân mật biết tiếng Pháp, Vĩnh Thụy thường nói tiếng Pháp. Riêng  đối với tôi, thường ông ta nói tiếng Việt. Nhưng khi bột phát, ý kiến thốt ra từ đáy lòng thì lại bằng tiếng Pháp. Chú thích của PKH.)

Một nông dân, một công nhân, một sinh viên học sinh, một trí thức khi nghe tiếng Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh mà bỏ cày, bỏ búa, bỏ bút  đi theo Cách mạng đã là chuyện quý lắm rồi, đằng nầy ông vua Bảo Đại - một người như ông Lê Tự Đồng nói “suốt đời bán mình cho ngoại bang để được vinh thân phì gia” mà khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc liền quyết định bỏ hết tất cả những gì mình đã có để theo Nguyễn Ái Quốc, thì thấy cái sức thuyết phục, cái ảnh hưởng yêu nước của Bác Hồ lớn lao biết chừng nào ! Một sự kiện lịch sử có một không hai trong lịch sử  Cách mạng tháng Tám ở Huế như thế mà nếu trong nhà Bảo tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên Huế không có thì thật là một thiếu sót. Còn như sau nầy ông Bảo Đại qua Hồng Kông - ngoài vùng phủ sóng yêu nước và cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Bảo Đại trở lại con người cũ làm tay sai cho ngoại bang của ông là chuyện dễ hiểu. Hành động trở lại cộng tác với Pháp chống phá Cách mạng của ông Bảo Đại, sử sách, báo chí từ 1949 đến nay đã  hết lời lên án rồi. Nhưng dù sao, cho đến nay chưa có một sử gia nào phủ nhận được sự thật: Nhờ ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, Bảo Đại đã có một hành vi thoái vị tuyệt vời ngày 30.8.1945 với câu nói lịch sử:” Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.

Với cuộc đời hết lòng vì Huế, với chút học vấn ít ỏi về phương pháp sử học, với những tài liệu do tình yêu Huế mà sưu tập cho cá nhân, tôi đã suy nghĩ, phát biểu và viết lên như thế. Từ hồi ký của ông Lê Tự Đồng đến kết quả nghiên cứu của tôi rõ ràng đã có một khoảng cách. Khoảng cách đó gần hay xa tùy sự  nhận định của mỗi độc giả. Nếu kết quả nghiên cứu của tôi có điều gì thất thố, sai sự thực kính mong các bậc lão thành, các nhà nghiên cứu, độc giả gần xa chỉ giáo.

Xin đa tạ.

Ghi chú quan trọng: Bài phê bình của Trung tướng Tướng Lê Tự Đồng và bài trả lời của tôi in trên đây, như đã nói trên, đã được đăng trên Tạp chí Sông Hương số 136/ Tháng 6-2000, từ tr. 87 đến tr. 93. Đầu tháng 6/2000, số tạp chí 136 chuẩn bị phát hành thì được lịnh trên cho thu hồi và xé bỏ cả hai bài trên và thay vào hai bài khác: bài 1. Âm nhạc trong lễ cầu mùa của người Tà-Ôi ở Thừa Thiên Huế (tr. 87-91), bài 2: Dị bản một bài thơ hay về Huế (tr.92-93). Tôi không được giải thích vì sao hai bài viết trên bị xé bỏ. May sao một nhà văn làm việc trong Toà soạn Tạp chí Sông Hương ưu ái phát cho một tập chưa bị xé để lưu trong hồ sơ cuộc đời cầm bút của tôi. Nay đến Tuổi Trăng Tà không còn gì để phải cất giấu nữa tôi sao lục lại và đưa hai bài viết trên vào cuốn sách nhỏ nầy. Nếu có bạn đọc nào trách móc tôi xin tạ tội vậy.

Nguyễn Đắc Xuân,

T/c Sông Hương số 136/ Tháng 6-2000, tr. 89-93


(1) Bình Trị Thiên Tháng tám bốn lăm, Hồi ký, Nxb Thuận Hoá 1985, tr.60-76

(2) Bình Trị Thiên Tháng Tám bốn lăm-Hồi ký, Nxb Thuận Hóa-Huế, 1985, tr. 81

(3) Tấm ảnh nầy được phóng lớn in trọn trang 15 sách Huế di sản thế giới do Bộ trưởng Văn hóa Thông tin Nguyễn Khoa Điềm viết Lời tựa, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản vào đầu năm 2000. Lần in nầy ghi nhầm tên tướng Mỹ là Garogret.

(4) Xem T/c Xưa và Nay của Hội KH Lịch sử Việt Nam, số 74, tháng 4/2000, tr. 10

(5) Jean Renaud, Ho-Chi-Minh Abd-El-Krim et Cie, Guy Boussac. 1949, tr. 234-235; bản dịch  Thông điệp của bà Vĩnh Thụy đã đăng trên báo Kiến Thức Ngày Nay số 291/1.9.1998

(6) Phạm Khắc Hoè, Sđd. tr. 76

 

 
 
Các bài Giao lưu - Đối thoại khác