May mà có Huế...
Hơn 60 năm trước, một cô gái Thanh Hoá đã yêu và kết hôn cùng một người đàn ông Huế. Đứa con trai ra đời tại Phú Xuân-Huế nên đã được cha mẹ đặt tên là Xuân. Nhưng cuộc hôn nhân ấy đã sớm tan vỡ. Người vợ đã đưa đứa con trai 3 tuổi đến nương nấu tại làng Túy Sơn (một làng hẻo lánh ở sâu trong vùng núi Đà Lạt).

Với cụ Bửu Cầm -nhà giáo, nhà nghiên cứu Hán Nôm tiêu biểu của Huế

Cậu bé lớn lên trong một cuộc sống hoang dã, nói tiếng Quảng Nam và không được đi học nên đến 15 tuổi mà cậu bé vẫn mù chữ. Đến lúc đó, năm 1952, người cha mới cho người đi tìm con. Và sau 12 năm xa cách cha con mới gặp lại, người cha đón con về Đà Nẵng sống chung với gia đình. Cậu bé 15 tuổi nhìn thấy những người con của cha - các anh chị em cùng cha khác mẹ của mình, tất cả đều được học hành tử tế thì mặc cảm vô cùng về sự mù chữ của mình. Thế là cậu bé xin cha hãy để cậu trở về sống với mẹ và ông gởi tiền chu cấp để cậu đi học. Người cha đồng ý và cậu quay về với mẹ. Năm đầu tiên cậu học liền 3 lớp. Năm thứ nhì cậu học 2 lớp. Kỳ thi tiểu học cậu đã đậu hạng nhì. Sau đó cậu về Huế sống với ông nội (vốn là người phụ trách đội nhạc Nam triều).Vừa học, vừa làm gia sư, năm 1961 cậu đậu tú tài và vào học Đại học Huế, tham gia phong trào sinh viên đấu tranh chống Mỹ-Diệm. Năm 1966, chàng trai Nguyễn Đắc Xuân vào chiến khu và đến năm 1975 anh mới trở về Huế...

Những năm đầu sau ngày miền Nam được giải phóng, do nhận thức không đúng đắn của một số người nên nhiều di tích, di sản... của Huế đã bị phá hoại. Đau lòng trước điều này, anh đã nghĩ phải làm cách nào để giữ gìn và bảo vệ những di tích, di sản... của Huế. Chỉ có cách là phải hiểu biết về những giá trị đó của Huế và làm cho mọi người cũng hiểu biết thì mới có thể giữ gìn và bảo vệ... Muốn thế thì phải học hỏi, tìm hiểu, sưu tầm tư liệu... Và anh đã lao vào học thêm chữ Hán, chữ Pháp..., lặn lội khắp nơi, gặp gỡ nhiều người để tìm kiếm tư liệu. Hai mươi bốn năm miệt mài nghiên cứu và viết với trên 30 đầu sách, anh đã có công bảo vệ những di tích, di sản..., những giá trị Huế và giới thiệu Huế với người Việt ở mọi miền đất nước, giới thiệu Huế với thế giới. Hiện nay anh đang viết về Bảo Đại-vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn và chuẩn bị cho một tiểu thuyết lịch sử về triều Nguyễn thế kỷ 19. Anh cũng vừa ký hợp đồng với NXB Trẻ về cuốn sách 1001 câu hỏi đáp về triều Nguyễn và Huế xưa. Không chỉ nghiên cứu về Huế, anh còn làm thơ, viết văn và làm báo. Anh đã từng là Tổng thư ký Hội Văn nghệ TP Huế, phụ trách văn phòng đại diện ở miền Trung của báo Lao Động, Phó tổng biên tập tạp chí Sông Hương.

* PV: Đã từ lâu, người ta vẫn gọi anh là nhà Huế học. Anh có thích được mọi người gọi như vậy?

 - Nhà văn- nhà báo- nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân: Tôi là người cầm bút và là người nghiên cứu Huế. Người nghiên cứu Huế và nhà Huế học ở hai tầm mức khác nhau. Tôi đang phấn đấu trở thành nhà Huế học.

 * Theo anh, đặc điểm quan trọng nhất của Huế để phân biệt Huế với các nơi khác là gì?

 - Văn hoá Huế là văn hoá Đại Việt phát triển trong vùng chịu ảnh hưởng của văn hoá Chăm-pa lâu đời, nên vừa có yếu tố mạnh mẽ, vui tươi... của phương Bắc, lại vừa có yếu tố sâu lắng, da diết... của phương Nam. Điều này biểu hiện rõ trong mọi phương diện của Huế. Thí dụ như âm nhạc chẳng hạn.

* Những nét đặc trưng của tính cách người Huế là...?

 - Tính cách người Huế cũng bị quy định bởi yếu tố tôi vừa đề cập. Ở người Huế vừa có yếu tố tính cách người Bắc lại vừa có yếu tố tính cách người Nam. Người Huế lại vừa mạnh mẽ lại vừa sâu lắng, thâm trầm. Huế là kinh đô lâu năm, nên người Huế được hưởng mọi tinh tuý của Việt Nam thế kỷ 19. Người Huế có văn hoá cao. Văn hoá Huế tương đối hoàn chỉnh nên khó bị đồng hoá. Người Huế sống nề nếp, bản lĩnh vững vàng để giữ lấy cái tôi rất Huế của mình. Điều này là ưu điểm nhưng cũng chính là nhược điểm của người Huế; nó dễ làm nảy sinh cái tâm lý bảo thủ, khó tiếp nhận cái mới.

* Anh có thể lý giải vì sao xưa nay trong ngành ngoại giao của Việt Nam đa số là người Huế?

 - Người làm ngoại giao cần phải khôn ngoan, thông minh, biết cương nhu tiến thoái đúng lúc khi cần thiết... và phải có phong cách dân tộc. Người Huế đáp ứng được những yêu cầu này.

 * Anh có quan tâm đến tính cách của phụ nữ Huế thể hiện ở nhiều phương diện trong cuộc sống như tình yêu, gia đình, công việc...?

- Đây là vấn đề tôi rất quan tâm. Phụ nữ Huế cũng mang nét Nam và Bắc như người Huế nói chung. Họ dịu dàng, nhỏ nhẹ, rất khéo léo về việc gia chánh, biết cách ăn mặc... Phụ nữ Huế được giáo dục rất kỹ và họ có một nền văn hoá tương đối hoàn chỉnh. Phụ nữ Huế có vai trò giữ sự thăng bằng trong gia đình. Họ cũng chính là người giữ gìn bản sắc Huế mạnh mẽ như đàn ông. Nhưng cũng như nước sông Hương, bềmặt lặng lẽ mà bề sâu lại sóng gió, một khi phụ nữ Huế bung thoát khỏi sự bình thường điều hoà cố hữu thì sẽ rất dữ dội, quyết liệt, dễ sợ...

Nhân nói về phụ nữ Huế, tôi nhắc đến 4 phụ nữ tiêu biểu cho phụ nữ Huế thế kỷ 20. Một là hoàng hậu Nam Phương, biểu tượng của nhan sắc thế kỷ 20. Hai là Đạm Phương nữ sử (cháu nội vua Minh Mạng), một phụ nữ yêu nước, giỏi cả chữ Hán lẫn tiếng Pháp, làm thơ, viết văn. Bà là người phụ nữ miền Trung đầu tiên viết báo. Bà đã mở trường Nữ công học hội đầu tiên ở Đông Nam Á (dạy phụ nữ nữ công gia chánh, cách làm vợ, văn minh văn hoá Tây phương...) Đó là biểu tượng của người phụ nữ hoạt động xã hội. Ba là Thích nữ Diệu Không (con gái của Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung), một nữ tu hoạt động xã hội, có nhiều đóng góp trong cải tổ đời sống nữ tu. Đây là một hình mẫu phụ nữ hoạt động tôn giáo. Người thứ tư là bà Nguyễn Đình Chi (Đào Thị Xuân Yến), người phụ nữ miền Trung đầu tiên đỗ tú tài Pháp, nữ sinh Huế đầu tiên chống Pháp. Bà đậu tú tài mà không chịu làm việc cho Pháp, là hiệu trưởng Trường Đồng Khánh mà không đi đón Ngô Đình Diệm. Bà là người cả đời thuỷ chung đi theo cách mạng và có ảnh hưởng rất lớn với cách mạng. Bà cũng là người phụ nữ giữ chức vụ cao nhất trong Chính phủ Cộng hoà Miền Nam Việt Nam. Bà là mẫu người phụ nữ hoạt động chính trị, Bốn người phụ nữ ấy đã có ảnh hưởng rất lớn đối với phụ nữ Huế.

* Ở các tác phẩm nghệ thuật (văn hoá, hội hoạ, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu...) của các tác giả Huế bao giờ người ta cũng thấy toát ra rất rõ chất Huế đặc trưng. Anh có thể giải thích điều này?

- Người nghệ sĩ phải trung thực với chính mình. Tác phẩm phải bộc lộ chính con người tác giả. Sáng tác của một người Huế phải phản ảnh văn hoá Huế, tư duy Huế, cách nhìn Huế... nghĩa là phải mang chất Huế. Đây là lẽ tự nhiên và tất yếu.

* Khi xa Huế, những người Huế thường tập họp thành hội đồng hương với tính quần tụ và đoàn kết rất cao mà không có hội đồng hương của một vùng đất nào có thể sánh kịp. Tại sao vậy, thưa anh?

 - Khi xa Huế, người Huế có nhiều điểm chung để quần tụ: nền văn hoá chung, giọng nói chung, trang phục kiểu Huế, ăn uống món Huế, có nhiều chuyện về Huế để nói với nhau... Họ họp lại với nhau vì nhớ Huế. Gặp bạn bè đồng hương là gặp lại kỷ niệm, gặp lại Huế, gặp lại chính mình...

* Tính cách Huế vốn được gìn giữ với ý thức sâu sắc và mạnh mẽ của người Huế. Cơ chế thị trường hiện nay đã va chạm, cọ xát tính cách Huế như thế nào?

- Đây là vấn đề cần báo động. Chưa bao giờ hoạt động du lịch ở Huế được nâng lên như bây giờ. Hoạt động du lịch đã đem lại nguồn thu lớn cho Huế, đồng thời cũng góp phần giới thiệu Huế với thế giới, nhưng nó cũng chính là nguyên nhân dẫn tới những sa sút, những chuyện đáng buồn. Những người quản lý di tích quên mất nhiệm vụ của họ là quản lý di tích mà chỉ lo chạy theo làm thoả mãn các yêu cầu của du lịch. Họ cố sức sơn phết làm cho di tích mới hơn, đẹp hơn và không còn là di tích. Điều này nếu không được chặn đứng sẽ rất nguy hiểm vì nó sẽ làm ta mất Huế. Những người làm công tác bảo tồn di tích chỉ chú ý đến những di tích thu hút khách du lịch mà bỏ quên những di tích khác cho cỏ mọc thoải mái. Lăng mộ của 9 đời chúa Nguyễn có công mở nước cũng bị bỏ phế không ai ngó ngàng tới... Âm nhạc Huế và các món ăn Huế vốn là những điều tự hào của Huế, nhưng do nhu cầu phát sinh từ số đông khách du lịch nên nhiều người không biết nấu ăn cũng lao vào nấu và bảo rằng đó là món ăn cung đình, món ăn đặc trưng của Huế. Tất nhiên, khách du sẽ kinh hoàng khi ăn những món này... Ngay cả ca Huếm nhiều cô ca không đúng nhịp, không đúng lời nhưng vẫn cứ ca và thậm chí còn chạy sô vì khách đông, mà người biết ca thực sự lại ít... Tất cả những điều đó là tác động đáng buồn của cơ chế thị trường đổi với những giá trị Huế.

* Sau cơn lũ lớn vừa qua, nhiều di tích, di sản... của Huế đã bị tàn phá nặng nề. Anh tiên liệu gì về khả năng phục hồi những di tích, di sản... đó?

- Cơn lũ vừa qua đã làm hư hại, xuống cấp và thậm chí mất trắng nhiều di tích, di sản... của Huế. Có những cái có thể phục hồi được, nhưng cũng có những cái vô giá đã mất là mất vĩnh viễn không bao giừo có thể tìm lại được. Thí dụ những bộ sách quý chỉ còn duy nhất một bản mà một bản duy nhất đó lại bị lũ huỷ hoại. Ngay cả chuyện phục hồi những gì có thể phục hồi cũng đòi hỏi rất nhiều tiền bạc, thời gian và trí tuệ - sự đòi hỏi này lớn đến mức nó vượt qua cả khả năng quốc gia. Những tư liệu về Huế cũng bị hư hại và mất đi rất nhiều. Tôi sẽ viết một phóng sự về sự thiệt hại của tư liệu về Huế và sẽ tiến hành tìm kiếm tư liệu về Huế ở nước ngoài.

* Đã có bao giờ người ta tỏ vẻ nghi ngờ hay báng bổ những công trình nghiên cứu của anh? Nếu có, anh tiếp nhận và phản ứng điều này bằng thái độ nào?

Tôi đã gặp nhiều lắm những chuyện như vậy! Cuốn sách Đi tìm lăng mộ vua Quang Trung của tôi chưa kịp xuất bản thì đã bị công kích dữ dội trên báo chí. Nhưng sau đó sách đã được Viện Sử học in và được cụ Hoàng Xuân Hãn công nhận, đánh giá cao, viết lời tựa... Vừa mới đây là một vụ rắc rối lớn: Quảng Nam-Đà Nẵng đã công nhận Nguyễn Hiển Dĩnh là một danh nhân văn hoá, một nhà yêu nước, một nhà soạn tuồng vĩ đại...; đã in sách về ông và đã quyết định lấy tên ông đặt tên đường. Nhưng tôi đã chứng minh ngược lại hoàn toàn rằng Nguyễn Hiển Dĩnh là một đại Việt gian. Cuối cùng mọi người đã công nhận sự thực mà tôi chứng minh. Thật tình, mỗi khi viết ra cái gì mà được sự góp ý của người khác, bao giờ tôi cũng rất cám ơn.

 * Hai mươi bốn năm nghiên cứu Huế, niềm an ủi lớn nhất và nổi buồn lớn nhất của anh là gì?

 - Tôi học hành, làm thơ, viết văn... không bằng ai. Sau năm 1975, may mà có Huế để tôi nghiên cứu, làm việc... Nếu không có Huế, tôi không biết mình sẽ sống và làm việc thế nào! Huế là đam mê, là nguồn sống của tôi. Tôi rất vui vì mình đã là người đầu tiên làm rõ 10 năm thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế, làm rõ giai đoạn vua Duy Tân bị đày ở đảo Réunion đến khi chết, làm rõ giai đoạn vua Hàm Nghi ở nước ngoài và tìm được dấu tích lăng mộ vua Quang Trung ở Huế. Tôi buồn vì có quá nhiều người phá hoại Huế (trong số đó có người quan trọng) và tôi bức lực trong việc bảo vệ Huế. Tôi cũng buồn vì bây giờ người ta chỉ chăm chăm bán vé cho khách du lịch vào tham quan các di tích Huế mà không biết tiếp thu những cái khôn của triều Nguyễn (chẳng hạn cách sử dụng người). Nếu người ta biết tiếp thu những cái khôn đó thì ngày nay đã tránh được nhiều chuyện tiêu cực.

* Bà xã anh có phải là người Huế? Chị có ủng hộ việc nghiên cứu Huế của anh?

 - Vợ tôi là người Huế gốc. Buổi đầu, thấy công việc của tôi có vẻ phiêu lưu và cứ như bơi ngược dòng lịch sử nên vợ tôi đã không mấy tán thành. Nhưng dần dần về sau, thấy công việc của tôi mang lại thành quả và khiến tôi được nhiều người quý trọng, bà xã tôi đã hết lòng ủng hộ. Tôi lao vào làm việc cật lực. Kể từ cuốn sách đầu tiên Hương giang cố sự in 100.000 bản và 3 tháng sau tái bản với 50.000 bản , sau đó hầu như năm nào tôi cũng viết và in một vài cuốn. Không chỉ gánh vác toàn bộ việc gia đình cho tôi tập trung làm việc, với chuyên môn của một giáo viên dạy Văn, nhiều khi vợ tôi còn đọc và biên tập, góp ý cho bản thảo của tôi. Thông qua vợ tôi, tôi hiểu thêm nhiều điều về Huế. Vợ tôi cũng rất nhạy bén trong phẩm định nhu cầu và xu hướng của thị trường sách...

 * Cám ơn anh. Mong rằng những giá trị Huế sẽ được quan tâm giữ gìn và bảo vệ như anh mong muốn!

Diễm Chi

(Báo Phụ nữ - Chủ nhật số 48  ngày 12 -  12 - 1999)

 

 
 
Các bài Dư luận báo chí khác