Gió vẫn thổi trên dòng sông…

 

Nhà văn  Tô Nhuận Vỹ  

Tôi may mắn có nhiều dịp trò chuyện với cô Chi, nhất là sau khi bị buộc không được làm tạp chí Sông Hương nữa. Là người hiểu và biết nhiều nên quý trọng truyền thống văn hóa Huế là điều nổi bật nơi cô, từ lời ăn tiếng nói  hàng ngày đến các ửng xử xã hội. Bởi vậy nên cô rất quan tâm đến quá trình hình thành, phát triển và cả những trắc trở mà tạp chí Sông Hương trải qua. Cô quan tâm đến Sông Hương rất “thâm trầm”. Cô đọc đều, nhớ kỹ những bài có sắc thái. Sông Hương là món quà cô thường mua tặng khách xa tới thăm hoặc trong mỗi chuyến đi nước ngoài. Cô buồn khi Sông Hương gặp thử thách tưởng không thể vượt qua được. Khi tôi bị buộc không được làm Sông Hương nữa, cô nhắn lên chơi. Suốt buổi cô không nói gì, để tôi tự do len lỏi giữa khu vườn rộng mát như mỗi lần đến thăm cô. Những gốc măng cụt sum suê cành lá tôi đã quá quen thuộc từ những trưa hè mấy năm trước khi lên nhà cô ngồi viết vở kịch đầu tiên trong đời tôi là vở Gió vẫn thổi trên dòng sông…như bàn tay cô đặt lên trán làm dịu đi sự căng thẳng trong đầu tôi mấy bữa nay. Cô thiệt thâm trầm. Cho đến khi ăn chén chè đậu ván sau bữa cơm với cô, cô mới nhỏ nhẹ:

- Vỹ có cách chi giúp Sông Hương tiếp tục tinh thần khi trước không?

Không oán hận, không trách móc, phải làm điều tốt trong bất cứ hoàn cảnh nào.Tôi hiểu cô muốn nói với tôi như vậy. Tôi thầm cảm ơn tấm lòng của một đại nhân nơi cô.

Và cũng với tấm lòng đó, không phải một lần cô đã nói với tôi mong muốn khu nhà vườn An hiên này sau khi cô mất sẽ trở thành Nhà Sáng tác của Hội văn nghệ, như lâu nay Hoàng Phủ ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân và tôi vẫn được cô dành cho ưu đãi mỗi lần viết lại lên đây. Tiếc rằng, vì nhiều lý do, ước muốn cao đẹp đó của cô không thực hiện được. Có lần, nhà láng giềng cạnh nhà cô cắt bán khu vườn đẹp. Cô giục vợ chồng tôi gom tiền mua khu vườn đó rồi làm nhà tử tế mà ở, thiếu bao nhiêu thì cô góp cho. Tôi cảm ơn cô lắm nhưng sợ phiền cô, vả lại nhà tôi lại muốn các con gần trường học, lên đây xa quá, cả nhà chỉ có hai cái xe đạp cọc cạch.

Mùa hè năm Tám tư, tôi lên nhà cô viết Gió vẫn thổi trên dòng sông…trong gần hai tháng. Cô bố trí cho tôi căn phòng đẹp bên cạnh phòng khách để ngồi viết. Cuối chiều tôi ra sông bơi lội, vẫy vùng thỏa thích. Bờ sông dạo đó còn bãi bắp xanh ngút mắt, về tận chân cầu Bạch Hổ. Gió chiều mênh mang và khi sương bắt đầu buông xuống thì thành phố dưới xa kia như những nét lung linh của bức tranh thủy mặc kỳ ảo. Dù muốn lặn ngụp mãi trong làn nước đêm của sông Hương nhưng tôi cũng đành cắt nguồn xúc cảm của mình vì biết cô vẫn chờ cơm tôi trên nhà. Đêm đêm, khi viết đã mệt, tôi ra nằm dài trên thành hồ trước nhà, nhìn trời đêm đầy sao và không gian chan chứa tỏa ra từ những bông sen bông súng ngay bên cạnh mình. Không gian thật kỳ ảo. Chưa bao giờ tôi có những ngày sáng tác êm đềm dịu ngọt như thế. Tôi viết về dòng sông máu thịt của bao thế hệ người Huế, dòng sông đã lưu giữ bao máu xương của tổ tiên cha ông chúng ta. Nhưng trong mỗi dòng viết ra của tôi ngày ấy như phảng phất bóng dáng bãi bắp này, bờ sông kia và cả bóng dáng Cô Chi nữa. Tôi chép lại một đoạn thế này để tưởng nhớ đến Cô.

…(Bà Tư chèo đò): Tôi chỉ cầu sao cho hết quách cái cảnh trớ trêu là làng xóm của mình, thành phố nhà cửa của mình, đường đất và bến nước của mình, cả đến ngọn gió vẫn thổi trên dòng sông cũng là của mình…mà mình phải lén lút rình mò như những thằng ăn trộm. Tức không chịu được!

Lưu (chiến sĩ biệt động thành phố):

Thôi dì…“xong xuôi” rồi dì nuôi con học tiếp cho đến ngày ra nghề nghe dì. Rồi chúng con sẽ xây cho dì một thành phố đẹp tuyệt vời hai bên dòng sông này, đẹp tới mức ai là người Việt Nam nếu chưa tới đây thì nhắm mắt cũng không yên! Con chỉ cần ngày ba bữa cơm với nước mắm chanh tỏi thôi. Nếu dì muốn thì con sẽ bắt cá bống dưới đáy sông lên cho dì, nước thì con sẽ chở tận ngọn sông thiệt ngon thiệt ngọt về cho dì. Còn khí trời và gió mát của con thì nó vẫn mênh mang và thổi vô hồi trên dòng sông đó…

Ông Hà (chỉ huy biệt động thành)

(Với bà Tư) Thằng Tư là ngọn gió trong lành vẫn thổi trên dòng sông này đó chị Tư (nhìn đồng hồ) Lưu à, đây là lần thứ bao nhiêu chúng ta vô phố?

Lưu: Thưa chú, lần thứ ba mươi.

Ông Hà: Chúng ta ngồi cạnh nhau bên dòng sông một chút nào.Lần thứ ba mươi…

Và đó là lần cuối cùng vô phố của Ông Hà.Chỉ ít phút sau, họ lọt vào ổ phục kích của địch và ông Hà hy sinh.

Đã bao nhiêu lần, mỗi khi nhớ đến vở kịch này hay chỉ đi qua vườn An hiên, tôi đều thầm nghĩ, Cô Chi là NGỌN GIÓ VẪN THỔI TRÊN DÒNG SÔNG  của tôi.

   Huế ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi, 25-8-2010

T. Nh.V

                

Cô giáo Đào Thị Xuân Yến

Th.s. Phạm Thị Cúc

Xuân Yến là tên của người phụ nữ đầu tiên được vào học ở trường nội trú Pháp Albert Sarraut (thời đó tư tưởng trọng nam khinh nữ còn quá nặng nề).

Năm 1933, cô đậu tú tài Tây, tấm bằng mà vào thời đó, đàn ông Việt Nam cũng ít người có được, nói chi đến một cô gái mới chỉ 24 tuổi.

Khi mới 18 tuổi, cô là “thủ lĩnh” của nữ sinh Đồng Khánh biểu tình bãi khoá chống thực dân Pháp (tháng 4 năm 1927).

Cô làm Hiệu trưởng Trường nữ Trung học Đồng Khánh (1952-1955) từ thời trường còn quy định nữ sinh mặc đồng phục áo dài tím, quần trắng (sau này, khi tôi là nữ sinh Đồng Khánh (1962), đồng phục mùa nắng là áo dài trắng quần trắng, còn mùa mưa là áo dài bleu marine[1] quần trắng).

Với phụ nữ Việt Nam thời đó, có lẽ cô Xuân Yến cũng là người trong số ít phụ nữ đầu tiên đi xuất ngoại tham dự những hội nghị Phụ nữ quốc tế: Năm 1952 tại Tân Tây Lan, 1955 tại Phi Luật Tân và đặc biệt là cô sang Nhật Bản năm 1958, lần đi này gắn liền với câu chuyện hoa anh đào sau này của cô.

Khoảng thập niên 1990, vào một buổi sáng đẹp trời, có một nhân viên của hãng Hàng không Việt Nam chở đến nhà cô hai cái thùng giấy các-tông thật to, chằng buộc cẩn thận. Họ nói với cô đó là của một tổ chức Nhật Bản gửi tặng cô. Khi mở cả hai hộp ra, thì bên trong là hai cây hoa anh đào, mỗi cây có một “bản lý lịch” dài: nào màu hoa, nào tuổi, nào cách trồng, cách chăm bón… Cô nói, chỉ là hai cây hoa này thôi, nhưng để chuyển từ Nhật Bản sang Việt Nam thì tiền vé máy bay cho “hai nàng” cũng bằng tiền vé của hai hành khách. Cũng phải thôi, vì hành khách khi đến sân bay thì tự đi về nhà được, còn hoa thì nhân viên sân bay phải chuyển đến tận nhà người nhận với đảm bảo là cây không hề bị một tí ti xây xước.

Hai vợ chồng tôi hỏi tại sao họ lại quá nhiệt tình với cô, đi làm một việc quá tỉ mỉ, kỳ công như vậy. Với nụ cười đôn hậu trên môi, cô nói:

-“Là họ thực hiện lời hứa với cô từ năm 1958…”

Số là năm 1958, trong lần đi dự Hội nghị Phụ nữ Quốc tế Thái Bình Dương và Đông Nam Á tại Nhật Bản diễn ra đúng vào mùa hoa anh đào nở, cô Xuân Yến mê hoa đến nỗi ngỏ lời có vài cây anh đào để trồng trong vườn An Hiên, và họ có hứa là sẽ tặng cô. Bẵng hơn 30 năm, cô những tưởng họ đã quên lời hứa đó rồi, thế mà họ vẫn nhớ và thực hiện lời hứa.

Khi đến thăm, tôi thấy hai cây hoa có cành lá dài gần cả mét, mỗi cây được rào quanh bởi một cái lồng tre đường kính khoảng 7 tấc, bên ngoài lồng còn phủ kín bằng lá chuối khô. Tôi hỏi cô:

- “Thưa cô, răng cô rào cây hoa chi mà kỹ rứa?”

Cô cười cười, nói:

-“Cô sợ kẻ trộm vô nhổ mất, phải giấu kỹ như rứa, thế mà anh Nguyễn Đắc Xuân còn “khoe” lên báo Lao Động để cho nhiều người biết là cô có hai cây hoa Anh đào Nhật Bản nữa chứ!”

Mãi sau này tôi mới biết cô với cái tên “bà Nguyễn Đình Chi”, mà bạn bè, bà con vẫn quen gọi tắt là bà Tuần Chi, vì chồng bà là ông Nguyễn Đình Chi với chức quan Tuần vũ. Thực ra ông Tuần vũ Nguyễn Đình Chi là chồng của cô Đào Thi Xuân Oanh, chị ruột của cô Xuân Yến, lớn hơn cô 6 tuổi. Nhưng bà này mất sớm nên năm 1935, ông Nguyễn Đình Chi cưới cô Xuân Yến làm vợ khi cô tròn 26 tuổi. Đây là một tục lệ của các ông quan thời phong kiến xưa của nước ta. Tương tự tục lệ của người Pa-cô, Tà ôi ở phía tây tỉnh Thừa Thiên Huế, khi một người phụ nữ chết chồng, thì phải lấy người em chồng nếu người này chưa có vợ, tức là từ chị dâu xuống làm vợ của em chồng[2].

Cứ mỗi lần đến thăm cô, được nói chuyện với cô, tôi rất vui và rất thích, tôi nghĩ thầm sao lại có một người phụ nữ uyên bác, lĩnh vực nào cũng am hiểu như vậy; một bà già lại ăn nói rất có duyên. Ở con người cô, từ dáng đi, kiểu ngồi, giọng nói, tiếng cười… toát lên vẻ ung dung tự tại, cao sang đài các mà không cách biệt, vẫn gần gũi thân tình.

Vườn An Hiên, ngoài một bà già Huế xưa đầy quyến rũ bởi tri thức uyên bác, bởi cách nói chuyện mà ai cũng muốn được nghe…, thì những cây cỏ, hoa lá trong vườn hấp dẫn tôi không kém. Nào là những chậu trà mi hoa đủ màu: đỏ, hồng đậm, hồng nhạt, vàng, trắng… xếp thành hàng; chậu nào cũng kèm theo ảnh chụp hoa của nó, để nếu ai đến xem gặp lúc không đúng mùa ra hoa cũng biết hoa của nó đẹp như thế nào. Nào là những chậu Túy lan ong (hoa tuý lan có cánh bên trong gần nhuỵ hình giống con ong) hoa màu vàng lục nhạt phớt tím, khoảng tháng 3 dương lịch bắt đầu ra hoa, chậu nào cũng nở hàng chục cành hoa vươn thẳng đẹp mê hồn. Nào cây Hải đường lá xanh lục trơn óng có răng cưa, chỉ riêng cành lá nhìn đã thấy đẹp, huống hồ khi những đoá hoa màu hồng đậm, cánh dày úp vào nhau, ở giữa có nhị vàng đua nhau khoe sắc thì còn đẹp biết chừng nào! Cô kể, có lần một du khách người nước ngoài, có lẽ là nhà thực vật học, khi vào thăm vườn An Hiên thấy cây Hải đường đang trổ hoa đẹp quá, ông xin chụp ảnh; và khi về nước, ông tra cứu tên, nguồn gốc, xuất xứ, sau đó làm một “bản lý lịch” về cây Hải đường và gửi cho cô. Cây hoa lài Nhật Bản: một đoá hoa lần lượt có ba màu: khi mới nở có màu tím đậm, dần dần chuyển sang màu tím nhạt rồi màu hồng, và cuối cùng khi gần lìa cành thì chuyển sang màu trắng. Đặc biệt những đoá lài này thơm suốt ngày đêm (ban đêm thơm hơn ban ngày). Bên cạnh các cây lài Nhật Bản là một cây to, nhiều cành, nhánh đâm loà xoà ra choáng cả một khoảng vườn hàng mấy chục mét vuông đất, nhưng trơ cành chẳng thấy một ngọn lá nào.

- “Thưa cô, đây là cây chi mà rụng hết lá? Nó có chết không?”

Vừa cười cười, cô vừa nói:

- “À, đây là cây hồng  do một người là cháu nội của thi hào Nguyễn Du tặng. Nó già lắm rồi, cả sáu bảy mươi năm, nhưng chưa chết đâu. Nếu có chết  thì cũng chỉ một số nhánh thôi!”.

Cô cười, nói thêm:

- “Có lần ông Vũ Thắng - Bí thư tỉnh ủy, đến thăm, thấy vậy ông nói: “cây chi mà chết rồi, sao không chặt đi cho rảnh đất”.

Đẹp nhất là cái hồ sen hình chữ nhật nằm giữa cái sân gạch ngay trước ngôi nhà rường cổ, ngôi nhà đặc trưng cho những ngôi nhà cổ xứ Huế. Ai đã xem phim “Trăng nơi đáy giếng” của đạo diễn người Huế Nguyễn Vinh Sơn dựa theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn Trần Thuỳ Mai, hoặc ai chưa xem khi có dịp, hãy nhìn thật kỹ ngôi nhà rường cổ với vô số cánh cửa ra vào, phần trên cửa là những lá sách, mà cô diễn viên chính (Hồng Ánh đóng vai Hạnh) cứ đóng đóng, mở mở mỗi sáng mỗi tối, nhìn đến sốt cả ruột; ngôi nhà đó chính là ngôi nhà rường cổ của vườn An Hiên, chủ nhân là bà Tuần vũ Nguyễn Đình Chi.

Sau năm 1975, nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Huy Cận, Nguyên Hồng, Thanh Tịnh, Chế Lan Viên..., cũng như nhiều nhà cách mạng lão thành, nhà lãnh đạo cấp cao của nước ta như Thủ tướng, Phó thủ tướng, Chủ tịch nước … khi vào Huế đều đến thăm bà Nguyễn Đình Chi cùng khu nhà vườn An Hiên.

Mỗi lần đến thăm, tôi cứ muốn ngồi thật lâu để được nghe bà kể nhiều chuyện Đông Tây kim cổ..., mà sao chuyện xưa chuyện nay, chuyện cũ chuyện mới gì, nghe bà nói tôi đều cứ thích mê đi!

Một lần, khi bà mới về sau một chuyến sang Pháp thăm co  con nuôi là vợ một vị tướng Sài Gòn trước năm 1975, và sau một chuyến sang Boston (Mỹ) thăm bà con họ hàng, tôi đến thăm bà và được nghe bà phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, điểm hay, điểm dở của hai nước tư bản giàu có, văn minh vào loại hàng đầu thế giới ấy. Bà đưa ra những so sánh, nhận xét rất sắc sảo, tinh vi, với giọng nói dịu dàng, từ tốn, chậm rãi… Tôi càng nghe càng khâm phục, càng nghe càng mê. Chao ôi! thật may mắn cho những cô nữ sinh Đồng Khánh nào ngày xưa được học với bà, được có một cô giáo như bà - thật là một mẫu người phụ nữ Huế xưa tài đức vẹn toàn. Chỉ tiếc là những năm sau này, tuổi bà đã cao, tôi không dám ngồi nghe bà nói chuyện lâu, sợ bà mệt.

Khi vui chuyện, bà thường nói đùa với chúng tôi: “anh Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh nào cũng có hai nàng Thuý Kiều và Thuý Vân cả” (lúc đó anh Điềm chưa có chàng “Kim Trọng”, còn anh Nguyễn Đắc Xuân và anh Vỹ chưa có đứa con gái thứ ba). Văn nghệ sĩ ở Huế có lẽ bà coi các anh như con cháu của bà nên có lần bà nói “Khi cô qua đời, cô sẽ để lại ngôi nhà cổ với vườn An Hiên này cho Hội Văn nghệ”. Thâm tâm cô nghĩ và muốn như vậy, nhưng chuyện đời cũng nhiều điều phức tạp, khó khăn, không như ý muốn của cô được.

Cô cũng rất thương và đối xử rất thân tình với vợ chồng tôi. Khi chúng tôi đang còn ở cả sáu người vào một phòng nhỏ của trường Đại học Sư phạm ở khu tập thể Nam Giao, thấy chúng tôi ăn ở chen chúc, có lần bà nói: “Hay Cúc với Vỹ lên đây mua đất làm nhà, ở gần cô cho vui. Ở đây có một sở đất đang bán, rộng và đẹp lắm…” Cô biết chúng tôi vừa nuôi con, nuôi mẹ già và các em chồng, chúng tôi nghèo lắm, nên cô nói thêm “Cúc và Vỹ cứ mua đi, nếu có thiếu thì cô bù thêm cho”. Với tấm lòng tốt, cô nói vậy, chứ chúng tôi chẳng có đồng nào, ăn chưa đủ, nói gì mua đất. Vả lại, từ chỗ cô ở về nơi chúng tôi làm việc quá xa, con đường dọc bờ sông lúc đó về mùa đông hễ mưa là lụt, nên chúng tôi cảm ơn lòng tốt của cô thôi.

Khi mẹ chồng tôi mất, lúc đó cô đã 81 tuổi, đi lại khó khăn, thế mà cô cũng thuê xe xích lô đến viếng. Nhìn thấy cô khi xuống xe phải có người dìu đỡ, tôi vô cùng cảm động và nhớ mãi tấm lòng của cô.

Cô mất năm 1997, năm cô 88 tuổi, như vậy là đã thọ lắm rồi. Nhưng những người phụ nữ như cô mất đi đã để lại nhiều niềm tiếc thương cho nhiều bà con, bạn bè, và nhiều người dân quanh vùng quen biết cô.

                                           Huế, 18-8-2010

                                            Ph. Th. C.

Cây lá sớt chia

Nguyễn Đình Xê

Không còn đóng khung thân phận và chức năng trong bốn bờ rào cây lá, thông điệp của vườn An Hiên có lúc vang tận chiều sâu văn hóa của một vùng đất Vườn An Hiên đây rồi! Ai đó reo lên khi xe dừng trước chiếc cổng vòm xưa cũ, tường vôi và mái ngói đã ngả màu có ghi số 58 đường Nguyễn Phúc Nguyên bên bờ Bắc sông Hương, TP Huế.

Cung kính, chân thành và một chút rón rén như sợ bước chân mình có thể phá vỡ vẻ tĩnh lặng, chúng tôi bước qua cổng, từ giã màu nắng hè chói chang ngoài kia, từ giã tiếng ồn của những chiếc xe ngược xuôi đưa đón khách ghé thăm chùa Thiên Mụ. Một thế giới khác mở ra trước chúng tôi, thế giới của cây lá và hương thơm các loài hoa. Nắng rọi xuống con đường lát gạch sau khi lọc qua những tán cây đủ kiểu, từ cái bóng đậm thấp của chanh, cam, mãng cầu ở sân trước, vẻ mỏng manh, nhẹ nhàng của lê, lựu bên tường nhà đến dáng hào phóng, chở che của xoài, dừa, sầu riêng, măng cụt ở sân sau. Và hương thơm của đủ loài hoa trái cứ theo gió quyện vào, khi ngào ngạt, lúc phảng phất, cơ chừng mỗi bước chân của chúng tôi luôn được bao bọc trong không gian trong trẻo, quý phái của đất trời.

Giữa trưa nắng mà hương hoa dặt dìu đến thế thì huống chi trong khuya hôm dưới trăng thanh gió mát! Mỗi loài cây, một kỷ niệm, một tâm hồn Mải say sưa, miên man trước đủ loài cây trái, đến khi ngước lên, chúng tôi bỗng giật mình trước cái bóng cao to của một cụ già quắc thước đứng ở ngạch cửa trong bộ bà ba nãy giờ lặng lẽ dõi theo chân khách. Từ chỗ nghiêm nghị, gương mặt ông chuyển sang thân tình, mời gọi, sau đó là một nụ cười gần gũi. Cảm giác mát mẻ, thân thiện lại ùa vào chúng tôi, lần này từ giọng nói, cung cách chân thành, cởi mở nhưng vẫn giữ nếp gia phong của bác Nguyễn Đình Châu, một trong những người cháu ruột của chủ nhà, từ TPHCM tình nguyện về coi sóc khu vườn. An Hiên là khu nhà vườn xây dựng năm 1895 và được ông bà Nguyễn Đình Chi mua lại vào năm 1936. Đó là một ngôi nhà rường 3 gian, 2 chái có kiến trúc như rất nhiều ngôi nhà cổ còn sót lại đến bây giờ ở miệt Kim Long này.

Càng về sau, ngôi nhà càng được bổ sung, tôn tạo với một số thiết kế phụ trợ cho hợp thời (chẳng hạn năm 1954, nhà xây thêm một bể cá trước sân). Như bao nhà cổ khác ở VN, cảm giác dễ nhận ra khi đứng dưới mái ngói âm dương trong lòng nhà An Hiên là vẻ ấm cúng, thân thiện, nét gia phong và chất sâu lắng bàng bạc trong từng viên gạch, thớ gỗ. Bên cạnh những bài thơ Đường nổi tiếng, đập vào mắt mọi người khi ngồi vào bàn khách đặt ở gian phải là 4 chữ “Văn võ trung hiếu”. Người xưa đã dạy con cái và tự răn mình những câu tâm huyết, thiết thực. Người chủ quá cố của ngôi nhà là bà Nguyễn Đình Chi, hiệu trưởng trường Đồng Khánh, Huế vào đầu thập niên 1950. Trong thời chống Mỹ, người hiệu trưởng của trường nữ Trung học nổi tiếng này từng lên chiến khu và sau đó ra Bắc để tiếp tục hoạt động cách mạng. Mỗi cây trái ở An Hiên, qua lời bác Châu[1], thường gắn liền với một kỷ niệm.

Có phải vì thế mà đứng trước cây, nhiều người như đối diện và trò chuyện thân quen với một tâm hồn? Này là cây quế nhập vườn sau chuyến công cán vùng núi của người chú ruột, lá quế nồng thơm như bao cây quế lớn lên ở vùng cao. Cây sim trồng ở mái hiên phía Tây thì được các con bà Nguyễn Đình Chi mang về trồng để giúp mẹ khua đi nỗi nhớ rừng. Sinh thời, bà Chi vẫn thường đến bên gốc sim này đứng hồi lâu trước khi hái vào lòng bàn tay những quả tím nhỏ, như nhặt nhạnh từng kỷ niệm háo hức và thơ mộng của thời thanh xuân đi làm cách mạng. Cổ nhất và quý phái nhất có lẽ là cây hồng trồng trước sân, bên cạnh mặt ao long lanh mây trời. Thời gian đã làm thân cây có phần già cỗi nhưng sức sống thì dường như vẫn còn nén chặt trong thân cành. Mùa này hồng ít trái, chúng tôi vì thế chỉ thưởng thức vị ngọt của nó qua lời nhận xét của bác Châu: đó là giống hồng không hột, vị ngọt lịm người, nhất là những trái chín đỏ trên cây.

Còn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thì cảm nhận vị ngọt của cây hồng này theo cách riêng: “Những trái hồng ngọt và thanh đến độ tưởng chừng mỗi miếng của nó có thể tan thành dư vang của một tiếng chim”. Chắc chắn vị ngọt đó phải xuyên suốt thời gian và phải cảm nhận bằng tâm thức, nếu hình dung gương mặt rạng rỡ của ông Nguyễn Đình Chi một chiều gần 70 năm trước, khi ông nhận cây hồng này từ tay ông Nghè Mai, cháu nội của thi hào Nguyễn Du. Đó là giống hồng chiết từ thân một cây hồng mà chính Nguyễn Du đã cất công mang về nước sau chuyến đi sứ ở Trung Quốc. Vậy đó, từ kỷ niệm, dấu ấn riêng tư trong gia đình chủ vườn An Hiên đến giai thoại, huyền thoại và cả cổ tích, sử thi, khu vườn đong đầy cảm xúc, bàng bạc bóng hình quá khứ và sinh động đời sống hiện tại.

Hình như ngay từ lúc xây dựng, chủ nhân của vườn An Hiên- cũng như bao khu vườn khác bên bờ sông Hương này- không nghĩ sự hiện diện của vườn chỉ dành riêng cho bản thân, gia đình họ mà còn nghĩ đến cộng đồng bên ngoài như những đối tượng cảm thông, chia sẻ và cộng hưởng. Cho nên, dù rộng đến 6.000 m2 nhưng lúc nào và ở góc nào, vườn cũng giữ được vẻ ấm cúng, khoáng đạt như mở sẵn lòng ra với mọi người. Gạch nối giữa bao thế hệ Giữa vô vàn những lời trầm trồ ngưỡng vọng dành cho An Hiên và sự kính trọng dành cho chủ nhân khu vườn, tôi chú ý đến dòng chữ của một người New Zealand có tên Denise Arcus viết trong sổ lưu niệm đặt ở phòng khách: “Biết về một đời cây, một vườn cây từ lúc bắt đầu gầy dựng cho đến khi kết thúc trong một khu vườn như thế này quả là điều thú vị. Khác nào ta khám phá về lai lịch và đời sống phong phú của con người được dẫn truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở chính nơi họ sinh ra, lớn lên”.

Như một thế giới thu nhỏ, khu vườn là nhân chứng sống bao dung và hiền thục của các thế hệ, một chứng tích của đời người, nuôi dưỡng quá khứ và làm thăng hoa đời sống hiện đại trong những tàn lá xanh, trong vị ngọt cây trái và hương thơm của những loài hoa. Không còn đóng khung thân phận và chức năng trong bốn bờ rào cây lá, thông điệp của khu vườn có lúc vang tận chiều sâu văn hóa của một thành phố, một vùng đất. Từ Huế, bác Châu kể cho tôi qua điện thoại rằng vườn An Hiên vừa được một đoàn làm phim của truyền hình Nhật chọn làm cảnh để thực hiện một phim tư liệu mang chủ đề bảo tồn, khôi phục giá trị truyền thống văn hóa phương Đông, trong đó đề cao nếp gia phong và mối quan hệ giữa các thế hệ, giữa con người và thiên nhiên hoa trái. “Họ đem cả đào kép theo đoàn- giọng bác Châu hào hứng - cũng khăn đóng áo dài và đủ thứ y phục truyền thống Nhật, cũng vái lạy trước bàn thờ”.

Trong phút nghỉ tay, trưởng đoàn làm phim đến từ nước Nhật hiện đại phân trần với bác Châu rằng lỗ hổng về kiến thức văn hóa truyền thống trong tâm hồn thế hệ trẻ nước Nhật ngày nay lớn quá. Đó là lý do khiến họ lặn lội mấy nghìn cây số đến khu vườn này để tìm thêm tư liệu minh chứng về vai trò và sức sống trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, cây trái cùng bao giá trị tinh thần gần gũi với nếp sống, bản lĩnh người xưa. Chen giữa tiếng ho khục khặc, tôi nghe giọng bác Châu run lên vì xúc động. Tội nghiệp và đáng phục cụ già 78 tuổi, người lính đặc công, chiến sĩ tình báo năm xưa từng có 10 năm bị giặc bắt giam ở Côn Đảo, người sinh ra ở Huế nhưng từ tuổi thanh niên phải rời Huế để tham gia chiến đấu ở miền Nam! Dù hiện đang mang trong mình cùng lúc chứng cao huyết áp và căn bệnh thấp khớp, di chứng của những tháng năm đánh giặc, ngủ hầm, 10 năm qua, bác Châu vẫn sẵn sàng từ bỏ cảnh sống an nhàn, sung túc ở TPHCM để về đây trông coi khu vườn như một cố gắng bảo tồn gia phong và chất nhân văn của Huế.

Ông cụ đã về vườn một cách thực chất bằng cách làm cho khu vườn thân yêu của mình ngày mỗi thêm xanh, hồn vườn ngày thêm đằm thắm. Về vườn nhưng chất hào sảng qua giọng nói, tiếng cười của ông thì dường như không hề vơi bớt, như buổi trưa nào ông tỉ mẩn dắt chúng tôi đi suốt khu vườn để giới thiệu với khách về lai lịch, đời sống từng ngọn cỏ, loài hoa. Ở nơi xa cả ngàn cây số, tôi hình dung gương mặt chịu đựng nhưng đầy niềm vui và cái dáng âm thầm, cần mẫn của bác Châu. Và tôi tin có ông bên cạnh, cây lá An Hiên sẽ thêm sức sống để tiếp tục dâng tặng cho đời tầng tầng hoa trái. Ai nói An Hiên như khu vườn u nhàn, trầm mặc, ký thác vào đời triết lý sống phương Đông cùng bao nỗi niềm về một thời xa xưa, tôi ngưỡng vọng An Hiên như khu vườn biết sẻ chia, san sớt bao buồn vui của phận người...

                                            Nguyễn Đình Xê,

                                                 Báo Người Lao Động


[1] Màu xanh nước biển

[2] Theo lơi bà Nguyễn Đình Chi kể với tôi: Việc cô Đào Thị Xuân Yến thành hôn với ông Tuần Nguyễn Đình Chi là một sự tự nguyện của cô để trả ơn ông Nguyễn Đình Chi đã cưu mang gia đình mình chứ không phải theo một tục lệ nào cả. NĐX

[1] Cháu nội ông Nguyễn Đình Miến - anh cả của ông Nguyễn Đình Chi. Chú thích của  NBS                                                

 

Thư của cô học trò cũ Thương Thương gởi cho cô giáo Đào Thị Xuân Yến

Người biên soạn: Những ai yêu thơ mới, yêu thơ Hàn Mặc Tử không thể không nhớ tuyệt tác thơ  4 câu của Hàn Mặc Tử sau đây:

Đêm qua năm mộng gặp Thương Thương

Má đỏ au lên đẹp lạ thường

Bàn tay mềm mại nên duyên quá

Tà áo lung linh dày tợ sương” .

Trong trường hợp nào cái tên Thương Thương xuất hiện trong đời Hàn được nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trên một trang Web gần đây đã cho biết:: “Hàn Mặc Tử biết cái tên Trần Thương Thương là do bạn của ông là Trần Thanh Địch giới thiệu qua thư. Đấy là giai đoạn mà thi sĩ Hàn ốm nặng, lại bị thất tình. Trần Thanh Địch muốn “cứu bạn” nên đã thêu dệt nên những bức thư của nàng Thương Thương mê thơ Hàn. Và quả thực, cái tên Thương Thương và những lá thư mê thơ ấy đã khiến Hàn Mặc Tử xúc động viết nên tập thơ “Cẩm Châu Duyên” và hai vở kịch “Duyên kỳ ngộ”, “Quần tiên hội” mà nhân vật chính là Thương Thương (còn có tên là Quỳnh Tiên). Cuối vở kịch Duyên kỳ ngộ, Hàn Mặc Tử còn ghi: “Tặng Thương Thương, người lụa bến sông Hương”. Trong những lá thư mà thi sĩ Hàn gửi cho nàng Thương Thương (qua địa chỉ của Trần Thanh Địch, mà kỳ thực không bao giờ đến tay nàng) có đoạn thật xúc động: “Thương Thương, cái tên thi vị quá chừng. Thương Thương là một bài thơ, hơn nữa, một nguồn thơ bất tuyệt... Ở lòng anh có Thương Thương nghĩa là có thơ, có nguồn thơ vĩnh viễn đấy... Sau này văn thơ anh ảnh hưởng ở em, nếu có chút giá trị gì với văn học, cái công của em không phải là nhỏ”.  Nhưng khi anh trai của Thương Thương là Trần Tái Phùng đọc được những tác phẩm của Hàn Mặc Tử gửi ra Huế cho Trần Thanh Địch, Trần Tái Phùng giật mình sợ em gái mình bị đồn oan, mang tiếng cả gia đình. Và Trần Tái Phùng đã viết thư cho Hàn Mặc Tử nói rõ sự thật và đề nghị thi sĩ không viết tiếp vở “Quần tiên hội” nữa. Hàn Mặc Tử nhận được thư, tưởng trời đất sụp đổ và không viết tiếp đoạn kết của vở kịch “Quần tiên hội” nữa. Vở kịch này mãi mãi dang dở. Rồi ông bị đau nặng, phải vào trại phong Quy Hòa. Cuối cùng, ông đã ra đi ở đó vào ngày 11-11-1940, đau đớn như những câu thơ ông viết trước cho nàng Thương Thương:

Hình ảnh Thương Thương trong thơ Hàn Mặc Tử thật tuyệt vời. Nhưng hình ảnh chính Thương Thương kể lại thời cô nữ sinh Đồng Khánh của mình với cô giáo cũ cũng hết sức nên thơ. Tôi xin phép tác giả được trích lá thư tay của bà vào cuốn sách nầy. Nếu có gì sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Đa tạ.

Falls church ngày 6 tháng 3 năm 1995

Kính thưa cô,

Anh Qụy[1] con và con được thư cô, chúng con rất mừng. Hơn nữa thấy chữ cô viết còn đẹp và mạnh mẽ lắm, chúng con mừng nữa là thấy cô còn khỏe khoắn, vững vàng

Con đọc đi đọc lại thư cô ba, bốn lần và tự nhiên con nhớ lại rất rõ ràng ngày con học với cô, cách đây đúng 55 năm.

Năm ấy là niên khóa 1939-1940, con học 1ère Année[2]. Thầy Bửu Cân dạy chúng con về Toán và Histoire du Việt Nam[3] (hồi ấy gọi là Histoire d’Anman[4]   học bằng tiếng Pháp) còn Histoire de France[5]  và Géographie[6] thì Bà Le Bossé dạy. Thầy Cận dạy toán và đối với môn học mới với chúng con là Algèbre[7] chúng con thật ngơ ngẩn. Thầy Cận dạy độ 1 tháng thì Cô vào thế Thầy Cận, dạy chúng con về Toán, chúng con rất mừng vì chúng con như ngồi trong phòng tối mịt mà có người cho một ngọn đèn. Nhờ thế mà năm 2e amée[8] học với bà Dục con theo kịp và Bà thương con lắm. Chưa hết năm ấy bà Duc vì juive[9] nên bị bắt thôi, hôm buổi chiều trường làm buổi tiễn đưa bà Duc con khóc hết nước mắt. Nhân nhắc lại ngày xa xưa mà con rất quý mến ấy, con xin kể cô vài chuyện vui để cô đọc vừa vui mà cũng để phản phất một hương vị ngọt ngào của một thời dưới mái trường Đồng Khánh thân yêu..

Ngày ấy cô dạy môn Toán, cô Thanh dạy Việt-văn, cô Rérat Pháp văn, bà Le Bossé Histoire & Géo[10], bà Nivou moralJnstructions Civiques[11], Bà Harter Puériculture[12]Economie domestique[13], cô Vinot dạy may, cô Crayol Physiques &Chimie[14], Sciennnces Naturelles[15] là bà người Pháp tên lạ lạ tự nhiên con bỗng quên tên, cô Cúc dạy nấu ăn. Bà Le Bossé bao giờ vào lớp cũng xoay cái đầu một, hai vòng và nói:”La terre tourne tourne...’’[16] Không bao giờ bà quên câu ấy. Cô Crayol thì bao giờ trời mưa là mang một cái áo tơi lá của Huế và lúc nào phạt học trò là ứa nước mắt khóc. Cô Vinot dạy rất giỏi và rất nghiêm, bao giờ sáng mai có giờ may là tối ấy chúng con ở nội trú phải lén vào phòng W.C đứng dưới đèn cả đám mà thêu hay may cho xong. Bà Nivou thì dạy Moral[17] nhưng lại chú ý về grammaire[18] prononciation[19] kỹ lắm. Còn thầy Cận để lại cho chúng con nhiều kỷ niệm vui lắm. Mới vào giờ đầu thầy bảo:

- “Ta dạy mấy người, mà học hay không là tùy mấy người. Học cho mấy người chớ không phải học cho ta. Thành thử đứa nào không ưng học thì cứ việc lên đây xin ra sân nhảy cò cò, là ta cho ngay, ta không phạt. Nhưng trong lớp là ta bắt buộc mấy người phải im lặng’’

Rồi thầy bắt cứ mỗi lần, thầy vào lớp mà chúng con mỗi đứa phải lấy một miếng giấy tự viết tên mình, lên bàn thầy, xếp lại để chung một góc bàn. Một hôm trong lớp có mấy chị nói chuyện rầm rì, thầy không la lối gì cả, với tay bốc một tờ giấy giở ra đọc tên rồi trừ 10 điểm hạnh kiểm hay cho 0 điểm hạnh kiểm người có tên trong giấy. Hôm ấy nhằm tên một chị rất ngoan và không hề nói chuyện, chị ấy khóc quá và bọn con cả lớp khóc theo, xin thầy tha. Thầy bảo:

- “Nếu đứa nào nói chuyện mà ta cho điểm 0 hay trừ điểm hạnh kiểm của đứa nớ, thì nếu gặp đứa rắng mắt, coi thường điểm hạnh kiểm thì cứ tha hồ mà nói chuyện. Đây đứa nớ nói chuyện mà bạn bị phạt, thì mới biết sợ và chừa’’

Mà quả thật không đứa nào dám nói chuyện giờ thầy nữa. Thầy gọi chúng con không gọi bằng tên mà gọi bằng số ghi tên trong sổ. Vào lớp thầy gọi độ 5,6 đứa lên đọc bài, thì thầy bảo rất nhỏ ‘’7-12’’. Thế là đứa số 7, rồi đến số 8 cho đến số 12 lên đọc bài. Đến giờ giảng mới, thầy bảo ‘’25-35’’thế là tuần tự người nào có số 25 đứng dậy đọc một đoạn trong bài Histoire[20], ở cái texte[21] dài ở trên; cứ đến chấm câu xuống hàng thì tự ngồi xuống, đến phiên người số 26 đọc đoạn tiếp cho đến số 35 thì hết. Xong thầy bảo:

- “Cái Résumé[22] ở dưới bỏ câu 1, bỏ câu 3, câu 5. Chỉ đọc câu 2, câu 4, câu 6, câu 7 thôi’’.

Đến khi thi Lục-cá-nguyệt, thầy viết lên bảng mấy câu hỏi, xong xây xuống chúng con thầy bảo:

- “Maintenant, en travail! Et uses de tous vos moyens pour copier!”[23]

 Chúng con sững sờ và sợ hết vía vì không biết thầy có ý bảo chúng con cái gì. Và trái lại với lời thầy bảo chúng con im lặng làm bài không đứa nào dám hó hé, nhìn qua nhìn lại hay chuyện trò gì cả. Sau này con kể chuyện với anh Qụy con thì anh con bảo thầy Cận dạy bên Khải Định cũng giống đúc như vậy.

Kính thưa cô, con cũng như cô Cáo con (dạy con lớp nhất) và các thầy cô đều để lại cho con nhiều kỷ niệm mà mỗi lần nhắc lại con đều cảm thấy thương nhớ, quý mến vô cùng và chỉ ước mơ mong được sống lại một ngày của thuở học trò trong vòng tay trìu mến của các thầy cô.

Kính thưa cô, con còn nhớ lúc ấy con đã học 3è année[24] rồi. Một hôm cô Crayol vào lớp buồn lắm, đến cuối giờ cô tâm sự với chúng con là cô có một vấn đề khó giải quyết là cái ông Bếp mà cô rất thương đòi nghỉ việc. Ông bảo ông đi ra chợ mấy người bán hàng họ chê cười ông bảo ông: “ở cho một bà đầm mang tơi cá’’ thành ông cảm thấy nhục quá xin thôi việc. Cô bảo với chúng con:

- “Cô không hiểu người Việt Nam, cô thích cái áo tơi lá kè ấy, cô mặc áo tơi lá thì mắc mớ gì mà ông Bếp xấu hổ, mà mắc mớ gì mà ngoài chợ bàn tán?”

Cô nói mà cặp mắt đỏ rực. Lúc ấy Chị Thân Trọng Thị Hường làm trưởng lớp của chúng con, chị thưa cô cho phép một nhóm chúng con chiều thứ 7 đến nhà cô. Thế là chúng con kéo đến nhà cô năng nỉ ông Bếp đừng có bỏ cô. Thế là chúng con làm được việc.

Cô mất độ năm 1977 hay 78 tại Pháp. Thầy Cận mất 73 hay 74 ở Nha Trang.

Chúng con tưởng nhớ và qúy mến quý cô quý thầy và bao giờ con cũng xin đốt nén hương lòng để tưởng niệm quý thầy cô đã về miền vĩnh cữu.

Kính thưa cô, con viết thư dài kể chuyện ngày xưa để cho cô đọc cho vui. Con cũng sẽ viết thăm cô Cáo[25] và con sẽ xin kể lại những chuyện này cho cô Cáo đọc cho vui. Con còn nhớ lâu rồi có lần con viết thư cho cô Cáo con, con thưa với cô là trong đời con có 2 vị thầy mà con quý  mến nhất và cứ tâm niệm nhìn lên để làm gương là cô và cô Cáo con. Thế là cô Cáo viết cho con một thư rất dài cô bảo là Cô và Cô con là bạn rất thân, cùng sinh một năm, một tháng, một ngày, chỉ sớm trên có 1 giờ thôi. Con mừng quá sức. Cô Cáo con lại có bảo ngày xưa lúc hai cô ở nội trú, cô có cái chăn laine[26] rất ấm vì vậy đêm nào mùa đông rét lắm là cô Cáo con đến ngủ chung chăn ấm của cô.

Chúng con cũng trông mong có một ngày trở về lại Việt Nam. Thế nào chúng con cũng tìm lên Kim Long hầu thăm cô, Kim Long nơi chúng con đã lên nhiều lần từ ngày em Hoài Nam[27] còn nhỏ mới 7, 8 tuổi.

Kính thưa cô, cô thích cảnh đẹp và hoa đẹp, xin cô ở lại đây[28]  lâu hơn để Bà Án[29] và chị Thăng, chị Diệp và mấy em được vui và cũng để cô chữa bệnh cho thật mạnh và để hưởng mùa xuân đẹp ở đây, muôn hoa muôn sắc. Mùa đông này cô ở đây là một mùa đông đặc biệt, ít lạnh ít tuyết, đúng là trời đãi khách phương xa. […]

                                                    Tr.Th.Th.

 

 

Một mảnh chiều

                      Kính tặng chị Tùng Chi

            Ơ...nắng tắt đi tự lúc nào

Sắc vườn như lạc giữa chiêm bao

Lá cây trầm mặc trong yên tĩnh

Mà mắt đang vờn nỗi xốn xao

 

Góp lại màu hoa một ánh đèn

Thắp vào suy nghĩ trãi vô biên

Hải đường e ấp chi trong mộng

Hoa súng xây trời sao mới nhen

 

Lập lòe đom đóm dạo nương tre

Đò vắng ra đi chẳng mái về

Biết đợi bao giờ sau tiếng trúc

Canh gà bến nước nhịp sông quê

 

Linh Mụ chuông đưa chiều ẩn chùa

Nơi đây chùa của những lời thơ

Cây mai mỗi gốc ươm trời đất

Phủ xuống sân nhà những bóng mơ

 

Khói nồng un bếp gợi hương thôn

Cổng khép vườn xưa sưong lạnh dồn

Bà huyện Thanh Quan đâu đó nhỉ

“Chiều trời bảng lảng bobngs hoàng hôn...”

Huế đêm 14-3-1982

Hải Bằng


[1] Luật gia  Phạm Quỵ, chồng bà  Trần Thị Thương Thương  

[2] Năm thứ nhất (Trung học)

[3] Lịch sử Việt Nam

[4] Lịch sử Trung Kỳ

[5] Lịch sử nước Pháp

[6] Địa lý

[7] Số học

[8]  Năm thứ hai (Trung học)

[9]  Không hiểu nghĩa từ  juive là gì. NĐX.

[10] Lịch sử và địa lý

[11] Công dân giáo dục

[12] Khoa nuôi trẻ

[13] Đièu hành gia đình

[14] Lý hóa

[15] Vạn vật

[16] Trái đất quay

[17] Đao đéc

[18] Văn phạm

[19] Cách phát âm

[20] Lịch sử

[21] Bản văn

[22] Tóm tắt

[23] Bây giờ làm bài. Dùng mọi phương tiện để cóp chép. 

[24] Năm thứ ba

[25] Tức bà phu nhân của Kiến trúc sư  Hồ Đắc Cáo

[26] Len

[27] Hoài Nam sinh khoảng năm 1937, con nuôi của bà Đào Thị Xuân Yến/ Nguyễn Đình Chi, hiện ở Pháp.  

[28] Tức ở Boston (Hoa Kỳ) - noi bà Nguyễn Đình Chi thăm gia đình năm 1995.  

[29] Tức bà Đào Thị Xuân Nhạn (em út của bà Đào Thị Xuân Yến/ Nguyễn Đình Chi) - phu nhân của ông Án sát Trương Như Hy, thường gọi là bà Án Hy. Bà Án Hy là thân mẫu của bà Trương Thị Sương Hà (tức bà Nguyễn Cao Thăng) và bà Trương Thị Bích Diêp - Những người sáng lập và điều hành hãng thuốc Tây OPV trước năm 1975 và OPV Oversea ngày nay.   

 

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123