Hoa trái quanh tôi

 

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Có thiên nhiên đã giữ một vai trò nào đó, thực hiện quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là “bản sắc Huế”. Bởi vì thiên nhiên bao giờ biểu hiện một cách nhất quán giữa cái hằng cửu và cái cái biến dịch, giữa cái biến động và cái tĩnh tại. Hình như khi xây dựng nên đô thị của mình, người Huế không bộc lộ cái ham muốn chế ngự thiên nhiên theo cách người Hy Lạp và La Mã, mà chỉ tìm cách tổ chức thiên nhiên trở thành một kẻ có văn hoá để có thể tham dự một cách hài hoà vào cuộc sống của con người, cả bên ngoài và bên trong. Lớn lên ở Huế, không lúc nào tôi không cảm thấy thành phố này như một khu vườn thân mật của mình, ở đó tôi có thể tư duy cùng với hoa sen, khát vọng với hoa phượng, mơ mộng với mùi hương sâu thẳm của hoa ngọc lan ban đêm, và khi thành phố lộng lẫy trong sắc mai vàng mùa xuân, không hiểu sao lại thấy lòng thức dậy một niềm ngưỡng mộ bao la đối với cuộc sống.

Có lẽ ít có một thành phố nào như nơi đây, giữa tạo vật và con người luôn luôn gắn bó một tình bạn thân thiết và tươi xanh đến như vậy. Cho đến nay, người Huế vẫn còn duy trì một phong tục cổ xưa về tình bạn cao quý đó: Khi người chủ vườn qua đời thì những người già đem buộc băng tang và những cây quý trong vườn để cây khỏi tàn lụi theo, vì người ta tin rằng cây cũng vui buồn cùng với con người. Không nên nhầm lẫn mối thân tình này với điều vẫn gọi là “tình bạn” mà người phương Tây, như người Anh chẳng hạn, thường cảm thấy đối với loài vật. Ở đây, quan hệ con người – cây cỏ xuất phát từ một truyền thống triết lý sâu xa của phương Đông rất được nhấn mạnh trong tâm thức người Huế, rằng con người  vốn là kẻ cư ngụ trong căn nhà lớn của vũ trụ; từ đó, trong cố gắng vươn tới niềm hạnh phúc về tinh thần, con người luôn biểu hiện nỗi khát khao tìm về nơi ăn chốn ở nguyên khởi của nó, nơi thực sự nó đã sinh ra. Dân gian kể rằng trong nỗi bất hạnh của đời người, cô Tấm đã hai lần sống ngụ trong cây thị và cây sầu đông. Tôi thường đọc thấy cái ý tưởng bàng bạc khắp nơi trong trong cảm hứng của nghệ sĩ Huế; những nghệ nhân trang trí thích dùng mô-típ con chim phượng (chim phượng luôn tượng trưng cho sự thăng hoa của tâm linh) hoá thân từ lá cây; trong một tác phẩm lụa của hoạ sĩ Tôn Thất Đào, núi Ngự Bình được nhìn thấy như la một cô gái nằm mơ màng giữa những cánh thư màu xanh vốn là những ruộng lúa; hoặc trong bài hát quen thuộc của Trình Công Sơn, “Đời ta có khi tựa lá cỏ - ngồi hát ca rất tự do”.

Lật lại cuốn sổ ghi chép về Huế, tôi chợt thích thú một cách bất ngờ khi đọc lại một câu của Mác, không ngờ tôi đã ghi lại từ lúc nào. Mác viết rằng:  “Chúng ta không thể đối xử với thiên nhiên, thống trị thiên nhiên như kẻ xâm lược thống trị dân tộc khác, như một kẻ đứng ngoài thiên nhiên. Trái lại, chúng ta thuộc về nó, cả xương, thịt, máu, trí tuệ và chúng ta ở bên trong nó”. Giữa những điều tôi đang suy nghĩ, như trong một văn cảnh chung, lời của Mác vang lên trong từng ý nghĩ của mỗi từ; và tôi tưởng chừng như trong khi đưa mắt nhìn khắp thế giới bằng cái nhìn xoáy tận bản thể của ông, Mác đã nhìn thấy thành phố xanh biếc của đất nước tôi.

Cùng với mọi nhu cầu của con người hiện đại, có lẽ người Huế vẫn giữ riêng trong tâm hồn mình bản chất của một nhà thơ đồng nội.

*

*     *

Có một khái niệm kinh tế rất được chú ý đối với Huế, gọi là “ kinh tế vườn”. Tất nhiên là vậy, vì vườn Huế được tạo dựng nên đâu phải nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các vị Thám Hoa,  chỉ nhìn ngắm mà không cần ăn quả. Nhưng dù là nơi nỗi tiếng về cây trái đôn hậu, sẽ là vô ích nếu người ta định tìm kiếm ở Huế  những khu vườn cao sản kiểu vựa trái của miền Đông Nam Bộ, và nếu người ta quên không nhìn đến diện mạo văn hoá của cái thế giới thực vật nho nhỏ kia.

Thuở  xưa, thành phố chưa trồng phượng, cây hoè nở hoa vàng trước cửa sổ luôn luôn đánh thức nỗi xôn xao của đèn sách: người học trò xưa vẫn nhớ câu “hoè hoa hoàng, cử tử mang”. Vườn Huế, dù giàu hay nghèo, thường vẫn có cổng gạch, mái khá rộng, phía ngoài trồng vài cây có quả: ấy là chỗ dừng chân qua cơn mưa, là chút bóng mát dành cho người đi đường, là chút lộc hoa trái dành cho trẻ con trong xóm; cổng nhà nhìn ra nên luôn luôn ngụ tấm lòng người nhu mì thơm thảo. Người Huế lập vườn, trước hết như nơi cư ngụ của tâm hồn mình giữa thế gian, ước mong sẽ là chút di sản tinh thần để đời cho con cháu.

 Vườn An Hiên là một kiểu vườn Huế như vậy.

Những năm gần đây, bà Lan Hữu phải tiếp khách hơi nhiều trong ngôi nhà cổ kính của bà, ở khá xa thành phố. Khách ngoài Bắc trong Nam, quen hay lạ, đến Huế đều muốn tìm thăm khu vườn của bà. Điều này hình như không hợp với thói quen của bà, bởi vì dù ham hoạt động, bà vẫn thích dành riêng cho mình cuộc sống tĩnh mịch của người làm vườn. Chồng mất từ hồi bà còn trẻ, bà về sống một mình với khu vườn này đã gần năm chục năm qua, trồng cây như ở đời, thẩm nhập vào trong hoa trái cả niềm cảm hứng tự do của một nghệ nhân tự thể hiện “cái tôi thứ hai” của mình.

Dù trong những ngày thanh thản nhất, tôi vẫn cứ thấy như yên lòng trở lại mỗi lần bước qua cái vòng cống kia, thấy nhô lên ở cuối sân chiếc mái ngói cổ với những nét uốn cong giống nụ cười nhếch mép của thời gian phảng phất giữa ngàn lá xanh biếc. Một lối đi khá dài, hai bên trồng mai trắng, lá đan vòm che trên đầu người như nối dài thêm cái vòm cống vào đến sân. Tôi vẫn dành một niềm ngưỡng mộ riêng về chất trí tuệ của lối kiến thức dân tộc ở Huế qua cái “ngõ hạnh” này ở đây, qua vài chục bước thong thả dưới lá xanh, nó thường mang lại cho tôi một món quà tâm hồn nửa thực nửa ảo rất khó tả - một chút hương đẳng đắng của rừng mùa thu, một mảnh nhỏ xa xôi của biển. Trong phút chốc, nó đánh thức con người mơ mộng trong tôi để rủ nhau vào cuộc đối thoại với cây cỏ.

Vườn có một cây ngọc lan già năm chục tuổi, đứng sát cổng, cây cao bóng cả, đồ sộ như một áng thơ dân gian. Thu tàn đông lạnh, nó cũng chỉ rụng lác đác một ít lá vàng, vẫn giữ một màu lục tươi nguyên khối không hề biết đến năm tháng; cây già mà hoa trẻ những cánh mầu ngà thon thon dáng ngón tay thiếu nữ, cầm hoa như giữ trong tay một kỷ niệm xao xuyến. Hồi tôi đến đây, cây ngọc lan vẫn còn, hoa nở không có mùa, cứ mỗi cơn mưa, cơn nắng chợt đến lại bừng lên để đến hàng vạn đoá trên cây, hương bay xa mấy dặm, giống như người danh sĩ dân giã trong vùng, chưa gặp đã biết. Tiếc quá pháo Mỹ hồi tết Mậu Thân đã găm vào thân cây một mảnh đạn không gắp ra được; nó vẫn xanh tươi nhưng rỗng ruột dần; nấn ná bao lâu rồi, bà Lan Hữu đành phải cho đốn đi, sợ có lúc nó đổ xuớng làm sập cổng. Tôi đi xa về, không còn cây ngọc lan, lòng cứ bâng khuâng như thể mùa thu đã mất đi trong trời đất. Hôm nọ, đi quanh vườn, tôi lại chợt nghe mùi hương ngọc lan thơm nồng, cứ tưởng là ảo giác.Tìm mãi , thấy ở góc vườn cò một cây hoa lạ, cũng là ngọc lan, nhưng hoa vàng màu đu đủ chín hườm, tôi mới biết lần đầu.

Hỏi bà Lan Hữu, mới hay đó là hoa hoàng lan, thường gọi là bông sứ vàng, giống còn lại ở Huế rất hiếm. Tôi thường đi dạo trong vườn, đưa mắt nhìn cây cối trong vẻ đẹp của nó; thế mà thỉnh thoảng cứ thấy bị bất ngờ về những bí mật được ấp ủ trong hoa trái; khu vườn đối với tôi vẫn mãi giữ được sức hấp dẫn của một cuốn sách hay chưa đọc hết.

Tôi đã nghe được nhiền nhận xét thực tế, và vẫn chưa được giải thích, về tính tổng hợp đắc biệt của môi trường sinh thái riêng của vùng Huế. Không hiểu vì sao đất Huế lại là nơi quần cư của các loại cây trái đặc sản của hai miền Nam - Bắc: cây măng cụt chẳng hạn, từ miền đông Nam bộ nó nhảy băng qua suốt một dải miền Trung rồi xuất hiện trở lại ở khu vườn Huế; Đông Hà trở lại không còn thấy bóng dáng. Tương tự nư vậy nhưng theo chiều ngược lại, có thể kể cây vải Hưng Yên hoặc nhiều thứ hoa quả khác của phong thổ miền sông Hồng. Vườn An Hiên thực là Huế, trong cái nét tổng hợp và đa dạng đó của đất nước. Nó cũng thật là Huế, khi trong phòng tiếp khách của bà Lan Hữu vào cuối mùa đông, người ta có thể tìm thấy trên một đĩa cắm hoa, những bông mai trắng điểm tuyết bên cạnh mấy nụ đào hồng mới chớm. Đó là bóng dáng của mùa Đông đang ra đi, trong âm vang xa xôi của mùa Xuân sẽ về. Và đó cũng chính là cái nhìn hướng vọng của tâm hồn mà bà nuôi dưỡng lặng lẽ qua bao nhiêu cái bi và cái hài, cái ảo và cái thực, cái thực và cái đẹp, giữa tháng năm, đất nước, đời người…

Mùa xuân lên vườn An Hiên, đầu óc tôi không còn muốn bận bịu gì, để buông mình giữa cuộc sống sôi động của cây cối. Sau Tết trở đi, mọi cây lớn trong thành phố nối tiếp nhau rụng lá, thì chính trong khu vườn này, tôi mới cảm nhận hết cái sức sống kỳ diệu của “Người Mẹ Tạo Vật”. Từ mặt đất ướt lạnh và quạnh hiu kia, mùa Xuân chợt như đánh thức dậy cả một thế giới lộng lẫy, rạo rực, như một khúc múa rối loạn xiêm áo.

Vườn An Hiên trồng nhiều hoa, mỗi thứ một ít nhưng đủ loại, dân dã có các loại nhài, lí, thạch lựu, mặt trời, tường vi và các giống hồng bản địa; quý phải như các loại thổ lan và phong lan, bên cạnh những khóm hồng hiện đại nhập giống từ các hãng vườn Gaujard và Meilland ở châu Âu, người ta có thể nhìn thấy một bụi hoa sim dại.

Từ cổng vào lần nào tôi cũng phải đứng lại ngắm những cây hải đường trong mùa hoa của nó; hai cây đứng đôi nhau trước tấm bình phong cổ, rộ lên hàng trăm đoá ở đầu cành phơi phới nhu một lời chào hạnh phúc. Nhìn gần hải đường có một màu đỏ thẳm rất quí, hân hoang, say đắm. Tôi vốn không thích cái lối văn hoa của nhà nho cử muốn tôn xưng hoa hải đường bằng hình ảnh người đẹp vương giả. Sự thật thì ở ta, hải đường đâu phải chỉ mọc nơi sân nhà quyền quí; nó sống khắp các vườn dân, các đình chùa, nhà thờ họ. Dáng cây cũng vậy, lá to thật khoẻ, sống lâu nên các cội cành thường sần lên những lớp rêu da rắn màu rỉ đồng, trông dân dã như cây chè đất đỏ. Hoa hải đường rạng rỡ nồng nàn, nhưng không có vẻ gì là yểu điệu thục nữ, cánh hoa khum khum như muốn phong lại cái nụ cười má lúm đồng tiền. Bỗng nhớ năm xưa, lần đầu từ miền Nam ra Bắc lên thăm đền Hùng, tôi đã ngẩn ngơ đứng ngắm hoa hải đường nở đỏ núi Nghĩa Lĩnh.

Hoa đẹp mảng khai vào dịp Tết ở đây, không thể nhắc tới hoa trà mi, trồng trong những chậu sành lớn. Trà mi đỏ tươi, màu đỏ rất sâu, cứ hút lấy cái nhìn của người xem. Hoa đỏ đã đẹp, hoa trắng càng đẹp lạ; có cái gì thật trong và tinh khôi trong màu trắng hoa trà, toàn đoá hoa nhu một khuyến ngọc bạch. Chậu trà trắng này bà Lan Hữu mang từ Hà Nội về là kỷ niệm riêng của bà trong những năm đi kháng chiến xa nhà; bà rất yêu quý, thường đưa vào nhà đặt ngay chỗ ngồi uống trà. Có lần thấy tôi nhìn hoa với con mắt chăm chú, bà hỏi tôi:

- Anh có thích hoa trà không?

 - Dạ. nhưng có lẻ thích đấy rồi quên nó đấy!

- Cô ít nghe người khác nói như vậy, thường ai cũng khen hoa trà…

- Hoa thì im lặng, hương chính là tiếng nói riêng của nó. Mà hoa trà thì tuyệt đối không có mùi hương.

- Chắc gì như vậy. Biết đâu hoa trà vẫn thơm, mình không nghe nhưng con ong thì bắt được. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Du lại nói rằng con ong nó tỏ đường đi lối về, anh không để ý à?

Tôi vẫn giữ cái thành kiến của tôi về hoa trà, đáp lẹ:

 - Cháu cho rằng chỗ này cụ Nguyễn Du nói hớ.

Bà Lan Hữu cười to:

- Bậy nào! Cô chơi hoa trà mới biết con ong bầu nó mê hoa này lắm, đuổi mấy cũng như không, phải lấy que hất nó ra. Này, thơ Kiều bóng bảy vậy chớ có cơ sở cả đó, đọc phải cẩn thận nghe.

Đúng là cụ Nguyễn Du thật đáng sợ về cái vốn sống của nhà văn. Nghe bà Lan Hữu nói tôi mới nhận ra cái sai lầm nguy hiểm của mình trong bao năm đọc Kiều đến chỗ này tôi vẫn cho rằng cụ Nguyễn Du đã viết sai thực tế. Lại nhớ đến câu: “Hải đường lả ngọn đông lân”, nhiều người vẫn chê rằng từ “lả ngọn” dùng không chính xác, so với cái dáng thô cứng của cành và lá hải đường. Tình cờ đọc tài liệu cổ ở nhà bà Lan Hữu, tôi mới biết rằng rốt cuộc Nguyễn Du vẫn đúng. Hải đường Trung Quốc (quê hương nàng Kiều) thì cây thấp, cành mềm, lá nhỏ; xem hình vẽ thấy hoa chỉ có một lớp cánh hoa xếp quanh nhị, không tạo thành hình khối gợi cảm như hải đường ở ta.

Tháng ba…Khi các màu sắc trong khu vườn đã quá độ mãn khai của chúng vào tiết Xuân, lùi lại dần trong cảm giác quen mắt, thì bắt đầu tháng Ba, hoa lê nở. Năm ấy tôi về muộn sau một chuyến đi dài. Mùa hè năm trước tôi tham dự một cuộc đi thực tế qua các đơn vị tiên tiến của quân khu 3, về thăm một xã nổi tiếng làm vụ đông giỏi ở Hải Hưng, ngồi cùng một vài người bạn về nằm tại một vùng lấn biển tại cửa sông Đáy. Mùa Thu tôi vào Nam ngược sông Vàm Cỏ đông lên mấy xã biên giới Tây Ninh đã phục hồi cuộc sống sau cuộc chiến tranh xâm lược của bon Pôn Pốt; băng qua rừng Dương Minh Châu nhìn lại những vết tích thánh địa của cuộc kháng chiến trước khi chúng vĩnh viễn lặng mất dưới đáy hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng. Tôi quay về trèo núi bà Đen trong ngày hội truyền thống của cán bộ Rừng cũ, lại xuôi Long An thăm một làng người Huế chuyển nghề nấu dầu tràm giữa Đồng Tháp Mười; vừa kịp cuối năm về chơi Nô-en và uống rượi mừng khánh thành khu công nghiệp liên hợp của nông trường An Hạ. Một năm tôi đi dài, như dự vào một cuộc chạy việt dã băng qua bấy nhiêu vẻ đẹp của cuộc sống; cuộc sống tháo vác với những thành tựu làm say mê lòng tôi ở khằp mọi nơi, dù thầm lặng như không cần ai biết đến, ở tận nơi đầu núi cuối sông. Những sự kiện thật xô bồ trong hai cuốn sổ dày đã ghi đến hết trang cuối, nhưng chữ nghĩa thì cứ bò qua dưới mắt tôi như một bầy kiến, không hồi hộp, không vang động, tôi ngồi vào bàn, từng chốc lại đứng dạy. Hình như Gô-ganh từng nói rằng ông ta chỉ có thể bắt đầu vẽ khi đã ngoảnh mặt về phía khác, để khỏi bị cái bên ngoài lấn át.

Tôi về Huế, lên An Hiên. Bà Lan Hữu đang ở sau vườn. Bà mặc bộ ba ba lụa trắng, mãi ngắm cây thanh trà vừa ra trái mùa đầu, trái non kết từng chùm tròn, sai như chẽ cau. Tôi về bất ngờ, bà rất vui, nói ngay: 

- Mấy năm nay, lúc nghe anh ở Hà Nội, lúc ở thành phố Hồ Chí Minh, có người nói không chừng anh đã sang Campuchia. Anh về hôm nào?

- Dạ, mới năm hôm nay. Phải làm tất cả mọi việc để ổn định chỗ ở, cứ như một người mới dọn về thành phố này, cô ạ.

- Người ta nói anh định rời Huế hẳn, nhưng cô không tin. Anh về lại là cô mừng. Vô nhà uống nước rồi đi xem hoa lê. Lê năm nay sao muộn, mãi hôm qua mới nở. Nghe anh về, cô cứ nghĩ trong bụng không chừng nó chờ anh lên.

- Hai con bé của tôi đang ríu rít quanh bụi bông cẩn không màng gì đến mọi thứ hoa trái nào khác. Đúng là bông cẩn có một chất tuổi thơ riêng không hoa nào thay thế được. Hai cô bé, cùng với các bạn của chúng vẫn dành lấy một thế giới riêng dưới bụi hoa này: bày đồ hàng, là món ăn, làm lồng đèn, và với những cuốn nhị lấm tấm vàng, chúng còn làm những đôi tằm đeo tai xinh đẹp. Mấy năm đi xa, chúng nó cũng thấy nhớ, thỉnh thoảng hai chị em lại kéo nhau chạy, nói vu vơ “mau về nhà mình ở dưới bụi hoa”.

Uống trà xong, tôi đi dạo quanh vườn. Vườn bà Lan Hữu bao giờ cũng sạch, không hề có một mảnh giấy vương vãi, chỉ có lơ thơ vài lá khô. Đã quá giữa Xuân: cam, bưởi, thanh trà đã già mùa hoa, toả lan khắp vườn một mùi hương rộng rãi, sung thiệm, sâu vào tận phổi, và hình như còn bay xa vào những khu vườn khác. Lâu nay vì xem chúng là cây ăn quả, tôi vẫn nghe hương thơm của chúng một cách như là ngẫu nhiên. Bây giờ tôi mới lưu ý tới điều này, rằng cái họ cam-chanh-bưởi này, trước khi cho quả, chúng đã mang đến cho con người một mùa hoa thật sự của riêng chúng, với đầy đủ là tư cách của hoa, cũng giống như hoa hồng vậy.

Tôi đi vòng lại góc sân, nơi đó cây lê đang nở hoa trên những cành thẳng có những chấm mắt nhỏ gồ ghề dáng đốt trúc, mấy chùm hoa trắng điểm lên ít lá non xanh mơn mởn, bóng loáng. Cành to khoẻ, hoa chỉ điểm năm ba chùm, nhưng người ta không cảm thấy là ít, hình như hoa lê sợ sự thừa thải. dưới trời quang đãng của tiết Xuân muộn, trong nắng trong gió, những chúm hoa rung động nhẹ trước mắt tôi giống như bướm trắng, nhưng là những cánh bướm bay đén từ một cỏi trời nào khác. Bà Lan Hữu đang đứng bên thềm loay hoay buộc mấy cành hoa tường vi lên giàn.

Bà ngản lên, nói với tôi:

- Hoa lê nở dưới trăng càng bộc lộ hết cái thần của nó. Người xưa khen hoa này là biết tự cảm ở nơi tịch mịch.

Tôi ngồi bệt xuống thềm, duỗi chân, nhìn lan mau ra vườn. Vườn măng cụt đang nẩy lộc chi chít, trên ngọn mỗi chùm là đều chỉa ra một cặp lá non thật nhọn hình cánh chim, tưởng chừng có ngàn vạn con chim anh vũ đang giấu mình dưới lá, đôi cánh biếc của chúng xoè ra ở đầu cành. Cảnh tượng trước mắt làm tôi xúc động: nơi trang thơ của Nguyễn Du đã đọc, tôi nhớ lại một ngày thanh minh trời đẹp như thế này, cành hoa trắng kia đã làm chứng cho khát vọng lớn của tâm hồn nhà thơ trước cuộc sống. Tôi hài lòng đã trở về. Như vậy thôi, tôi hiểu, ở thành phố này, sự yên tĩnh cũng giống như lòng mẹ, không có gì đồng nghĩa với sự yên nghĩ.

Với bà Lan Hữu, vườn An Hiên không chỉ là nơi ở, mà còn là một cuốn tự truyện viết bằng nét chữ của cây cỏ. Tôi cảm thấy như đọc thêm nhiều điều ở đấy, khi biết thêm ít nhiều chi tiết về đời riêng của người chủ nó. Trước kia, tôi chỉ biết bà Lan Hữu như một trí thức tên tuổi có thái độ tiến bộ trong các vấn đề chính trị, được nhiều người kính trọng về nhân cách. Nhưng tôi chưa có dịp gần bà hơn, vì bà thuộc lớp trước, lại sống nơi xa khuất, và hình như luôn luôn tự mình giữ một khoảng cách với cái xã hội quyền bính đương thời đang tìm cách lôi cuốn những người như bà. Tôi vẫn giữ những hình ảnh về bà trong những năn tranh đấu, khi bà len lỏi qua đám đông đẻ mang đến cho sinh viên những quà tặng ủng hộ và ký tên vào sổ vàng của phong trào. Sau đó, các chương trình phát thanh của sinh viên thường loan đi một hình ảnh đầy cổ vũ về Người Chị của thế hệ trước: cô gái áo trắng cài khăn nguyệt bạch, đã cầm đầu cuộc bãi khoá chống thực dân Pháp của nữ sinh Đồng Khánh năm 1927. Có một sự kiện khác có liên quan đến bà, như một biến cố được mọi người theo dõi trong những năm thành phố tương đối yên tĩnh: lúc này bà đang dạy học ở ngôi trường cũ. Năm ấy, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt những nữ sinh của bà vác gậy di diễu hành ngoài phố bà từ chối và bỏ về vườn. Một ngày hoàn toàn bất ngờ, tôi được gặp lại bà trong một bưổi tiếp của Thành ủy Huế, phòng khách là một hang đá Trường Sơn rền tiếng bom; lúc ấy tóc bà đã bạc nhiều. Từ đó cho đến ngày trở về vườn cũ, bà còn phải xa nhà lâu năm. Sức bền bỉ của tấm lòng giúp nước nơi độ tuổi của bà mãi mãi làm cho tôi ngạc nhiên, như thể bên trong tâm hồn bà, cuộc hành trình đã được chuẩn bị từ trước. Điều tôi nghĩ quả không lầm. Có một cuộc gặp gỡ ít khi bà nhắc đến đã vang dội sâu xa trong cuộc sống cảu bà mãi về sau. Ngầy Huế vỡ mặt trận năm ấy bà Lan Hữu được mời ra gặp một đồng chí lãnh đạo Mặt trận tại một làng phía bắc Huế. Người ấy chính là đồng chí Nguyễn Chí Thanh, đồng chí phân tích yêu cầu lớn của cuộc kháng chiến, đề nghị bà tham gia, đưa mẹ cùng đi. Bà phấn khởi tự nguyện, quay về thu xếp việc nhà. Nhưng chuyến đi đã không thực hiện được, vì bà cụ đã già yếu, bà không thể để mẹ lại một mình và kháng chiến thì không chờ đợi. Thỉnh thoảng nghĩ lại lần bỏ cuộc ấy, bà lại thấy dội lên trong lòng mình một cơn giằn vặc không nói được, nỗi đau đớn tưởng như đã qua hẳn cùng với tuổi trẻ của bà. Phật thì cười vô thường nhưng Tổ quốc luôn luôn phán xét, Tổ quốc nghiêm nghi trong sâu thẳm cửa mỗi con người. Bà thường nhớ lại, như một ám ảnh, câu thơ u uẩn tâm trạng của Tuy Lý: “Bóng lá tre trong chén rượu- cũng tuồng như khinh dễ”. Bà tự nhủ lòng: “ Không đi được thôi đành, thì hãy sống như người ở lại”. Bà đã sống như vậy khiêm cung tự giữ mình trong ý thức cảu một người công dân khi đất nước chưa giành được độc lập. Cây cỏ đã nói với bà điều gì, không ai biết, nhưng chắc không phải là chuyện quyên đời. Bà chăm chút khu vườn với tất cả ý thức văn hoá, giống như nghề dạy học mà bà đã phải từ bỏ, và đã nhận lại từ cây cối những lời ngụ ngôn thầm lặng. Đó là câu chuyên tâm sự của bà dành cho tôi, trong những ngày tôi sống cạnh bà ở rừng. Bà nói thêm: “Cô đã ngoài sáu mươi, biết không còn làm được gì, chỉ mong đền chút nghĩa làm dân”.

Buổi chiều, bà thường ngồi im lặng nhìn ra sân, nơi cây bách vẫn còn giữ một vệt sáng trên ngọn, khi cây cối trong vườn đều đã lắng xuống dần trong bóng tối, cây bách này cao nhất vùng. Từ mấy làng bên kia sông nhìn sang, thấy cái chóp nhọn của nó vút lên, ngàn lá giống như một mũi tên màu xanh, tôi vẫn nhận ra chỗ ở của bà. Bà nói:

- Nhìn cái ngọn nắng trên cây bách, mình cứ nhớ những ngày ở trên rừng…

Đúng như vậy. Tôi nhớ lại hồi sống ở hang đá, khi bóng tôi đã buông kín thung lũng, bà vẫn ngồi nhìn theo vệt nắng lên cao dần trên những ngọn cây ở đỉnh núi bên kia. Nó cứ chói sáng như vậy, tưởng như không xuất phát từ đâu cả, lúc mà mặt trời đã vòng qua phía bên kia trái đất. tr.215

Vào hạ sự chuyển dịch của trời đất như chùng lại trên cây cối; vẻ bay bướm Xuân đã qua đi, thiên nhiên ổn định hẳn trong màu lục trầm trầm của lá già. Vườn bà không đẹp, dù vậy, nó chưa bao giờ làm cho tôi chán mắt; bởi nó toát ra khí mạnh của nhựa cây, vào trong những ổ lá rậm rịt kia, các loại trái đang lớn lên dưới sức nóng hun đúc. Hạ chí trở đi, vườn An Hiên vào mùa quả, khởi đầu là mùi thơm, giống như Nguyệt Biều vỏ chín đỏ như lửa, cắt ra lát tròn to vừa bằng cái lòng dĩa bàn, vàng rệu màu mật ong, tưởng chừng có cô gái nào đó ở trong cây đã làm săn một chiếc bánh kem sinh nhật. Dâu chín vào tháng Năm, tháng Sáu. Cây dâu Truồi ở nhà bà Lan Hữu rất đẹp, tán lá khum khum ấp sát mạt đất, kín mít, bên trong rỗng, trái chín vàng hương từng chuỗi dài đổ ún thành đống quanh gốc cây. Nhìn đống quả đầy ứ như là ai đã hái sẵn đổ ra kia, tôi chợt mỉn cười với một ý nghĩ lạ lùng: giá như đời chẳng còn nhiệm vụ gì, tôi sẽ trải một tấm chiếu nhỏ dưới vòm lá kín đáo kia, nằm đó đọc sách ăn dâu và đùa nghịch với chú ve sầu ca hát suốt mùa Hè. Sau vườn, cạnh giếng nước, có một vạt đất trồng mức lám choái cho những loại cây leo: hồ tiêu, thanh long v.v…Cây thanh long đặc sản nổi tiếng vùng Nha Trang, có lẽ là giống cây hiền nhất trong vườn: thân nhánh dài ngoẵng năm ún đống trên chạc mức trồng như một đống dây chão; trồng một lần rồi chẳng bao giờ cần ngó lại, nó giống như một vật bỏ quên sau vườn, đến mùa lại cho con người hoa trái. Cây xấu xí mà hoa đẹp thế, hoàn toàn giống hoa quỳnh, cũng nở và tàn trong một đêm, nên nhiều khi muốn ngắm hoa, bà Lan Hữu phải thắp đèn ra vườn lúc nửa đêm. Trái thanh long màu cánh sen chín vào những ngày nắng nhất của mùa hè, ruột trong như bột lọc làm mát và khoẻ người; ấy là món quà hảo tâm của thiên nhiên dành cho con người làm vườn. Cuối Hạ, mỗi hoàng hôn lũ dơi lại xuất hiện, đão liệng khắp vườn rồi chui vào những vòm lá tối, nơi đó toả ra mùi vải chín. Hè năm ngoái, chúng tôi về huyện Nam Thanh, Hải Hưng; miền quê cây trái hào hiệp, mời khách ăn vải thiều không tiếc của, cứ đổ luôn trên mặt bàn thành đống cao như khoai như ngô. Giống trái quý này xưa kia dùng để cống nạp cho vua ăn, bây giờ chúng tôi được đãi theo lối xả láng, ăn no nê. Giống vải Hưng Yên đưa vào Huế vẫn giữ được phẩm chất của nó, quả lớn hạt nhỏ, cùi trắng nõn trông như một miếng mỡ thơm và ngọt lịm. Vườn An Hiên còn có những cây vải Phụng Tiên, giống vải Huế quả lớn hơn quả nhãn một chút, hạt bé bằng hạt tiêu, hương vị không kém vải thiều xứ Bắc. Giống vải trạng này được xếp vào dòng quý tộc, xưa chỉ trồng nơi cung cấm; bà Lan Hữu xin lại từ vườn một viên thái giám. Đối xứng với cây vải miên Bắc, góc vườn bên kia có hai cây sầu riêng Lái Thiêu; bà Lan Hữu mang về trông đã hai mươi năm, cách đây vài năm mới cho mùa qua đầu, trái to mùi thơm không khác trái vườn trong Nam.

Càng vào Thu, khu vườn càng hiên ra trong vẻ đẹp của trái, càng gợi cho người đi dạo vườn cái cảm giác khinh khoái của một phòng trưng bày tranh tĩnh vật, cam và thanh trà khiến cho khu vườn nặng trĩu xuống khác vớ dạo đầu mùa Hạ, kéo dài cho đến cuối tháng Tám, vừa lúc những cây thị nhung chi chít những quả đỏ. Loại thị này, hương vị giống quả táo Tây, cũng là một loại cây trái lạ, do những ông cố đạo mang đến Huế từ một xứ nhiệt đới xa xôi nào đó. Cuối vụ Thu là mùa hái hồng. Mấy cây hồng này già tuổi nhất trong vườn, vốn là quả của cụ Nghè Mai- cháu nội cụ Nguyễn Du- tặng cho chồng bà Lan Hữu ngày mới thành lập vườn. Hồng Tiên Điền là giống cây quý của quê hương Nghệ Tĩnh, ngàn vạn trái không có một hạt, chín lụn đài vẫn dính vỏ, không bị tróc mất giống như các loại hông thường. Sau mùa trái, nó trút hết lá, cây cỗi cành trơ, nhìn cứ tưởng là nó đã chết khô. Qua tiết Đông thoắt cái nó nẩy lộc chi chít, mươi hôm sau lá đã phủ kín cây; lá hồng tròn dày, xanh bóng nhạy cảm với từng tia nắng sáng trưng lên trong niềm vui phục sinh của mùa Xuân. Tháng hai hồng ra hoa, trong mỗi đoá hoa xanh biếc đã kết một trái non. Từ đó đến lúc chín, trái non rụng dần, rụng như một hành động tự đào thải tàn nhẫn.

Mỗi ngày bà Lan Hữu vẫn đi quét trái rụng, thản nhiên trong cái triết lý nhân hậu của bà.

Nếu trái nào cũng đậu thì cây mẹ sẽ chết vì làm sao nuôi nỗi  chừng ấy con. Nhờ trái rụng bớt như vậy mà cây hồng còn sống  được. Cái cây hồng này thật tội. Nó cho mình trái suốt bốn mươi năm, không mùa nào quên. Biết sống với nó, nó có thể nuôi mình bằng bát cơm trong sạch…

Bà nói tiếp:

- Người làm vườn xưa có tục tạ ơn cây. Cuối năm có cái lễ nhỏ, có hột nỗ, pháo và ít giấy vàng bạc dán vào gốc cây. Không phải  thờ cúng thần thánh, chì là mình đã nhận của nó nhiều thì trả lại cho nó một chút ít. Cô không làm như người ta nhưng con người biết ơn cây là phải.

Giọng nói của bà chân thành, cảm động, như thể bà đang nói về một vị tiền bối xa xôi. Lòng biết ơn đối với cây trái ở nơi bà mang một nét đôn hậu thật là dân gian. Bất cứ tuổi ấu thơ nào của Huế cũng để vọng lại trong đời người một chút gì của cái lẽ nhân hậu ấy. Trong chuyện về Mã Phụng, cô bé Xuân Hương dắt cha ăn mày, nằm ngủ gốc đa nơi quán chợ, lớn lên lấy chồng đậu Trạng; trước khi bước vào cõi đời sung sướng, cô đã đề thơ trả nghĩa cây đa: “ Nhờ ơn bóng cả với cây cao- Mười mấy năm trời nặng xiết bao…”

Hết mùa hồng, vườn cũng đã hết trái. Cây cỏ tiêu sơ dần trong thu tàn, với lụt lội và những cơn bão. Hàng mai trắng đã trút hết lá, cành khô vẻ lên nền trời cảnh trầm mặc kỳ lạ của tranh lụa cổ. Mùa Đông về dằng dặc trong tiếng động nghìn trùng bcuar nwos mưa trên lá. Tưởng không còn gì để trông ngóng ở khu vườn trước lúc sang Xuân thì đến tháng Mười một, măng cụt chín, như một mùa quả vui đột xuất cuối năm. Đây là mùa thu hoạch chính của những khu vườn vùng Kim Long. Qủa măng, người Huế còn gọi là “trái giáng châu”, lúc chín màu tím sẫm, ở rốn quả nỗi lên một hình hoa nhỏ, nhìn hoa có bao nhiêu cánh thì biết bên trong có bấy nhiêu múi. Hình như nó chẳng có tác dụng gì cả ngoài việc khiến người ta ưa nhìn đến nó, giống như hạt cúc giả trên áo phụ nữ; vì thế, bà Lan Hữu tạm giải thích rằng đó là cái bản nămg tự trang sức của thiên nhiên ở nơi cây măng cụt. Riêng tôi vẫn thấy một điều lạ chưa giải đáp được về cây măng ở Huế; thứ quả có vỏ dày cộp kia, chỉ quen được hấp bằng nắng nóng Phương Nam, sao chịu về đây để chín được bằng sức đông lạnh của Huế? Dù sao, nhờ có mùa măng, vườn An Hiên vẫn giữ phong độ qua buổi vạn vật tàn phai. Để đến một buổi sáng nào đó, hàng mai trước cổng bổng nở trăm nghìn đoa hoa trắng trong sương mù, như cảnh tuyết, đẹp đến bồi hồi. Ấy là tiết Đông chí, khí dương trở lại. Từ trong đêm lạnh, khu vườn bước ra với một sắc đẹp tinh khôi, với mai vàng, hải đường, nguyệt quý, hoa trà mi ngậm sương và hoa đào cười gió đông. Mặt đất bình tĩnh, chia sẻ cho con người niềm hi vọng không bao giờ cũ, không bao giờ nguôi, không bao giờ run sợ trước thời gian.

Một buổi chiều mưa Hè, tôi theo bà Lan Hữu dạo thong thả qua khu vườn lãng đãng khói lam mờ. Khói đốt cỏ và lá khô. Vườn mùa Hạ vẫn thường mơ màng trong sắc khói lam ấy, và cái mùi hằng hặc của cỏ cháy thật gợi nhớ làng mạc. Bà ngồi xuống phiến đá dưới cây bách, nói chuyện với tôi về vườn tược:

- Cây cối nhìn thì bình yên vậy, chớ cuộc đấu tranh sinh tồn giữa tạo vật luôn luôn căng thẳng. Trên không, chúng tranh nhau ánh sáng đã đành. Nhưng cuộc đấu tranh sống dưới mặt đất cũng ác liệt lắm. Cô làm vườn mới biết được điều ấy. Cuốc đất lên là thấy ngay. Chỗ nào có thân thì rễ bàng tụ lại chi chít, dày đặc như ổ giun, trông thật ghê sợ. Dừa, chuối tranh ăn dữ lắm. Thanh trà, vải lá giống quý, nhưng rễ bàng rất ghê gớm, cây gì trông xung quanh nó đều không sống nỗi. Vườn cô trông măng cụt là chủ yếu, vì cây măng mọc rễ đột, đâm sâu rễ xuống đất, ít làm hại đến cây khác. Để giải quyết việc tranh ăn của cây, chỉ có cách bón thật nhiều phân. Phân chuồng chỉ trồng cây nhỏ, còn cây lớn biết bao nhiêu cho xiết. Rơm rạ là đốt, phải rải kín vườn. Nhưng bây giờ rạ cũng đắt, người ta dùng để đun bếp.

Tôi ngắt lời bà:

-Huế thường năm nào cũng lụt. Liệu đất phù sa có đem lại một nguồn bồi dưỡng nào đáng kể cho cây cối không?

Bà lắc đầu:

-Đó là miền hạ bạn. Làng vườn đây gần thượng lưu, lụt tới là chở theo đất sét, vì đất sét nặng nên lắng xuống trước. Trận lụt năm một ngàn chín trăm bảy bảy, vườn này bị đất sét phủ kín, có chỗ dày đến năm tấc, phải tốn bao nhiêu công đào bốc, đổ trả xuống sông.

Bà nói tiếp:

 - Phân mới là một chuyện. Vườn còn có rất nhiều kẻ thù. Bọ xít, bọ rầy, sùng, đủ loại. Tệ nhất là tầm gởi. Vườn này bỏ đi vài năm là tàn lụi, vì tầm gởi dữ lắm. Gởi từng chùm to, sanh bông, bông có nhựa, bay đến đâu là dính vào đó. Nó thích bám thanh trả, hồng, dâu, mít, cam, cả cây hoa mộc, gởi cũng không tha. Đó là loại kẻ thù nguy hiểm ở trên không của một khu vườn.

Đất trung du có nhiều thứ cỏ, cỏ tranh, cỏ ống, cỏ cú. Trước cứ mỗi năm cô làm cỏ hai lần. Thế không lợi, vì cỏ lên dữ lắm. Tốt nhất là cứ thấy cỏ đâu thì làm đấy,  làm sớm trước lúc nó chưa xanh bông, lại đỡ tốn công về sau. Cỏ chiếm đất nhưng vẫn có ích. Cỏ cú, ngải cứu là thuốc, me đất, rau dền, rau sam, là rau ăn hằng ngày. Người làm vườn giỏi phải biết phân biệt, không được cuốc ngang tất cả. Tưới cây là việc thứ ba. Vùng này giếng sâu lắm, phải gánh từng đôi nước sông lên để tưới cây. Có làm vườn mới biết trông mưa. Như thể vừa rồi, sáu tháng không có một hột mưa;  một cơn mưa bây giờ cho làng này cũng đáng giá hàng triệu bạc. Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống, câu đó đã có từ xưa. Mình đây bây giờ cái gì cũng thiếu. Con mắt thường nhìn hoa thì khen hoc đẹp, nhìn trái thì gọi là hoa lợi. Nhưng nhìn bằng con mắt kinh tế thì dễ, duy trì được khu vườn, không phải là chuyện đơn giản.

Bà đứng lên, đi tản bộ vòng quanh cái hồ trông hoa súng giữa sân. Những bông súng nhiều màu, vàng trắng hồng, búp lại vào buổi chiều, lá từng phiến tròn trải sát mặt nước. Phong cách của hoa súng cũng lạ: giống như lá, nó dính sát mặt nước, nở ra khép lại vài lần là hết; người ta không nhìn thấy nó tàn và rã cánh dần như hoa sen, nó lún xuống trốn vào trong nước và biến mất.

Bà Lan Hữu mỉm cười nói tiếp:

 - Người Huế xưa, tuổi năm mươi trở lên là muốn quay về nơi cái cây cối để tìm bạn. Những người bạn nhân ái, không lôi thôi, không làm mệt mình bao giờ.

Bà Lan Hữu không phải là kẻ bi quan về con người, tôi không nhầm lẫn về tính cách của bà. Câu nói của bà, tôi hiểu, chỉ bộc lộ ở tâm hồn bà một tình bạn sâu sa, giống như tâm hồn của lão nông gắn bó với mảnh đất của mình. Hằng năm, mùa Xuân bà trông thêm cây, mùa Hạ làm cỏ đốt lá, mùa Thu hái quả, mùa Đông đọc sách, hái măng, thầm lặng chờ Xuân tới.

Giữa những ngày tháng, với bà, còn là nỗi trông mưa, trông nắng, cuộc đương đầu với gió bão và các loài ký sinh, nỗi ân hận của người bảo vệ khi cây chết, niềm vui sinh nở của người mẹ trước chùm trái đầu mùa. Con người lịch sử và văn hoá tồn tại ở nơi bà hình như luôn luôn đòi truyền hơi thở của mình qua các mạch gỗ của cây cối đến tận gốc rễ, để được cắm mình sâu trong đất.

Cho đến nay, dải đât ven sông Hương từ cầu Bạch Hổ lên chùa Thiên Mụ vẫn ấp ủ trong những vườn tược của nó, dáng dấp văn hoá của một trung tâm đô thị Việt Nam cổ. Chính trên mảnh đất này, thành phố Huế đã ra đời từ năm đó – năm 1636 -  và Kim Long trở thành thủ phủ nổi tiếng của Đàng Trong trong tiếp năm mươi năm tiếp theo. Cuộc sống phồn vinh, văn vẻ của mảnh đất Thuận Hoá trong thời kỳ này, đã được phản ánh một cách đầy đủ trong nhiều sách vở, tưởng không cần nhắc lại làm gì. Điều thú vị đối với tôi khi đọc lại, ấy là khi họ đến đây, nhiều người nước ngoài đều ngạc nhiên nhận xét rằng phụ nữ Kim Long ăn mặc rất đẹp; lý do là nghề dệt gấm thêu hoa đang thịnh hành khắp nơi ven sông Hương. Có lẽ người phụ nữ Huế giỏi thêu thùa, bắt đầu từ cái thời xa xôi ấy. Nên không lạ gì một người khách du đã đi nhiều nơi trên thế giới hồi ấy là cố đạo A-lec-xăng Đờ Rốt, khi viết về “ Kehue” (Kẻ Huế), đã nhắc lại nhiều lần rằng đây là một “thành phố lớn” (cette grande ville).

Trước thời của chúa Nguyễn đến cắm đô ở đây, vùng trung du ven sông Hương này đã xuất hiện những thôn xanh biếc rậm rạp, dân cư sống bằng nghề vườn lâu đời. Sau này, như đã nhấn mạnh trong cái hồi ký về thành phố Kim Long thời ấy, thì các công thự cũng như nhà riêng đều được xây cất giữ những khu vườn xanh tươi, đầy các cây quý hoa lạ sưu tầm từ khắp xứ mang về. Đến lược Phú Xuân khi trở thành kinh đô của cả một đất nước sôi động chiến công dưới thời Quang Trung, Phú Xuân vẫn giữ riêng một phong thái yên tĩnh đầy chất thơ điền dã. Tôi rất cảm mến bà Lê Ngọc Hân, nàng công chúa đất Thăng Long vào đây làm hoàng hậu, để trở nên một nhà thơ Huế. Vâng, phải là Huế biết mấy mới nhìn thấy được điều này: “Sương mù sắc tím hồng đượm mà hương thơm nức phòng the”. Ôi, tình yêu của bà, cuộc đời của bà, bão táp mà thanh tịnh biết bao nhiêu! Nhà thơ và người anh hùng đã xa khuất, không để lại mộ chi, riêng còn trong câu thơ một nét mặt thành phố trong sáng muôn đời. Ngoại ô Huế trước nay vẫn là nơi ở của nhà tri thức, nghệ sĩ. Đời này sang đời khác, vừa trồng cây vừa đọc sách, làng vườn hàm dưỡng một nét sống văn hoá thâm hậu. Kim Long xưa là xứ Hà Khê nổi tiếng văn học; trải mấy trăm năm, mãi đến thời Thiệu Trị, trường học, trường thi quốc gia đều tập trung trên hai bờ sông Hương quãng này. Lê Quý Đôn đã làm thơ, viết sách ở đây, ngày nhàn vẫn “nhẹ áo, lỏng đai, tiêu dao ở khoảng Hà Khê, Thiên Mụ”. Dân làng Xuân Hoà quý mến nhà bác học, thờ ông làm thần bản thổ, hằng năm văn tế vẫn đọc tên “Lê Quý Công”, còn đắp ngôi mộ giả hương khói đến bây giờ. Thuở ấy sinh viên Quốc Tử Giám và sĩ tử về kinh đi thi vẫn ăn ở lâu dài tại vùng này, trọ học trong nhà dân. Muà thi dọc sông Hương nổi lên một dãy phố thuyền, và dọc đường san sát mọc lên những quán xá. Đây là một loại quán đặc biệt ngày thường ít thấy. Chủ quán là những tri trức lỡ vận, phần nhiều là những thầy đồ Nghệ lều chõng mỏi mệt không muốn về lại quê cũ, ở lại kinh bốc thuốc, dạy học, cưới vợ, làm vườn; tính khí cương trực, nhân kỳ thi thường mở quán để có cơ hội giao du với kẽ sĩ bốn phương. Loại chủ quán thứ hai là những cô gái có tài sắc, có ăn học, ra ngồi quán để kén chồng giữa đám thiên hạ tài hoa. Chính là cái quán “ẩn tàng kinh luân” mà Lục Vân Tiên đã ghé vào; ông chủ quán bừng bừng nhân nghĩa, và cả nàng Kiều Nguyệt Nga có “cha làm tri phủ ở miền Hà Khê” kia nữa, tất cả cái xã hội chính, tả chung quanh quãng đời thư sinh của Nguyễn Đình Chiểu đều có mặt ở Kim Long thời ấy. Cũng đã thường lui tới nơi những quán rượu phê phán thời đại kia, cái bóng dáng đơn độc phẫn nộ của Cao Bá Quát. Ông đã trải mười năm giao du để đi tìm một thanh gươm cổ và cuối cùng ký tác với sông Hương cái khát vọng lớn của một khát vọng lớn về một “lưỡi kiếm dưng trời xanh”.

Bến đò Trường Thi ngày xưa nay là bãi khoai ngô hợp tác xã; khu quán chợ nơi Lục Vân Tiên và Cao Bá Quát từng ngồi, bây giờ tĩnh mịch một ngôi chùa cổ; còn Quốc Tử Giám và cả khu hoa viên của Lê Văn Duyệt thì đã ngủ sâu dưới cây trái trong vườn dân. Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chấn song nhìn ra vườn nơi mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời. An Hiên…Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trái bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong cái chính khí nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu. Còn những nhân vật trường ốc cũ, qua cuộc đổi đời đã trở thành người dân lành, biết trồng cây, biết đọc sách và biết sống giữ lễ…

Suốt ba trăm năm mươi năm xây dựng, Huế đã dời chỗ theo một vết dài chừng năm cây số dọc sông Hương, để lại đằng sau nó bản phác thảo đầu tiên của cái mô hình thành-phố-vườn bây giờ. Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố sẽ còn lại. Để trả lời cho thế hệ tương lai về những kinh nghiệm sống làm giàu có thêm nhân loại.

Một buổi trưa nắng gắt, bà Lan Hữu vừa đi đâu về, mặt áo lụa dài, chiếc quạt xòe ra trong tay. Tôi gặp bà đứng trước cổng An Hiên, nhìn đăm đăm ra dòng sông. Sông Hương triều lên đang cồn những đợt sóng lớn xô nhau về phía núi, và ở quãng xa nó trôi đi mịt mùng trong khói trắng. Tự nhiên, bà Lan Hữu lẩm bẩm một mình:

- Thuở Huyền Trân công chúa qua đây, chắc sông cũng xanh như vậy…

Ít khi tôi nghe một câu nói lạ như thế ở bà. Chợt nhiên nó động tới trong tôi một nổi gì thẳm sâu, không nói được. Vâng thuở ấy sông đã xanh như bây giờ, như đã xanh từ thuở Việt Thường. Tôi là người thư sinh đất Thăng Long, theo đám cưới Huyền Trân qua đây giữa một ngày dòng sông bồi hồi son phấn kinh thành. Thuở ấy, dòng sông Châu Hoá còn hoang dại, chim nhạn đậu đầy bãi, hoa tầm xuân mọc chen với cỏ lâu, chính là hoa tường vi thơm ngát những khu vườn bây giờ. Tôi qua đây, yêu mến dòng sông nên ở lại, dẫy cỏ, lật đá, trồng cây từ buổi ấy. Sáu bảy trăm năm trôi qua, mỗi tấc đất khát bỏng này đã uống biết bao nhiêu mồ hôi và máu. Tôi nhận ra ở mỗi con người quanh tôi, trĩu nặng một lòng thương cây nhớ cội, và nét điềm tĩnh của mảnh đất mà họ cày cuốc và gieo hạt.      

Huế, 8-1-1983

(Trích Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Nxb Hội Nhà Văn, HN. 2010, tr. 199-238)

 

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123