Bà mẹ văn hóa của tôi

 

Bút ký Nguyễn Đắc Xuân

Mục lục

1. Gặp bà ở hiệu Nam Thiên đường Trần Hưng Đạo, 

2. Gặp bà Tuần mang dép cao-su ở địa đạo Khe Trái,

3. Được gặp các vị Liên Minh Huế ở Hà Nội (1974)

4. Phục hồi An Hiên - để đối ngoại về đời sống văn hóa ở Huế

5. Di tích lịch sử văn hóa Huế S O S 

6. Đi tìm mộ cụ Đào ở đèo Son

7. Sưu tập in sách Ái châu danh thắng 

8. Chuyện hủy bỏ ý định xin giữ lại ngôi mộ cổ ở Qui Nhơn

9. Người đại biểu của gia đình và xã hội 93

10.Hai lần chuông điện thoại reo lúc rạng sáng

11. Chuyện cái nhà

12. Manh nha Hội người yêu Huế tại Pháp và Hội đồng hương Huế tại Thành phố Hồ Chí Minh  

13. Vài chuyện thủy chung

14. Nhánh tùng vườn An Hiên

Tôi có ý định viết bút ký nầy ngay sau khi bà Nguyễn Đình Chi[1] qua đời vào năm 1997. Nhưng rồi lại hẹn sang năm 1998 về hưu rảnh rổi sẽ khởi thảo. Không ngờ về hưu tôi lại bận rộn hơn lúc còn đi làm báo ở Đà Nẵng rất nhiều. Câu chuyện về “Bà mẹ văn hóa của tôi” tuột mất. Phải chờ đến 13 năm sau (2010) tôi mới động bút được.

1. Gặp bà ở hiệu Nam Thiên đường Trần Hưng Đạo

Tôi vô Đại học từ năm 1961, tuy đã có ít nhất năm năm ở Huế nhưng tôi vẫn mang cái phong cách nhà quê ở vùng đồi núi ngoại ô Đà Lạt của tôi. Một thư sinh nghèo, tôi vừa đi dạy kèm (précepteur) vừa đi học và tập tễnh làm thơ. Tôi rất ái ngại mỗi khi có việc phải tiếp xúc với giới quý tộc, giới thượng lưu ở cố đô Huế lúc ấy. Trong lớp Dự bị văn khoa Đại học Huế, không nhớ trong trường hợp nào tôi thân với cô bạn Nga My - một trong bốn người đẹp trong một gia đình nổi tiếng của đất Thần kinh lứa tuổi tôi. Thỉnh thoảng Nga My rủ tôi lên học bài ở nhà bà Tuần Chi - bà nội thím của Nga My[2] - tại làng Xuân Hòa phía trên làng Kim Long. Tôi viện lý do đường xa để từ chối. Thực ra vì tôi rất ngại vào nhà giới thượng lưu đó thôi. Cụm từ “bà Tuần Chi” đính vào bộ nhớ của tôi từ ấy. Về sau, thỉnh thoảng tôi thấy trên đường phố Huế có chiếc xe Simca màu lá chuối non do một mệnh phụ tóc bối lái và thường đậu lại ở trước tiệm buôn Nam Thiên đường Trần Hưng Đạo - chỗ hướng ra cái sân Xép ở đầu phía bắc cầu Trường Tiền. Các bạn tôi có nhà ở phố cho biết đó là xe của bà “Tùng Chi - visiteur médical” (người tiếp thị Tân dược) của hãng thuốc Tây OPV tại  Huế. Vô tình biết thế chứ tôi không quan tâm. Do đó tôi không đặt một liên hệ nào giữa “bà Tuần Chi” - bà thím của bạn tôi ở làng Xuân Hòa với “bà Tùng Chi” - tóc bối hay đậu xe trước hiệu buôn Nam Thiên. Mấy năm sau (từ 1964 đến 1966), sinh viên học sinh Huế chúng tôi hay bãi khóa tranh đấu chống các chính phủ Sài Gòn, thường chiếm nhà số 55 Trần Hưng Đạo (nay là số 141  - CN Ngân hàng Nông nghiệp Bắc sông Hưong) - gần hiệu buôn Nam Thiên để làm trụ sở. Những người phụ trách viết tin, bài cho báo và phát thanh tranh đấu đều ăn ở tại chỗ. Thỉnh thoảng có người đem tiền, gạo đến 55 Trần Hưng Đạo cho “anh em tranh đấu”. Có lần tôi nghe nói là “của bà Tùng Chi”. Không ngờ người phụ nữ bối tóc lái xe Simca giàu có ấy lại đi ủng hộ sinh viên tranh đấu chúng tôi. Sau đó nhiều lần chính tôi được bà mời đến hiệu buôn Nam Thiên gặp bà để nhận thuốc men và giấy quay Ronéo để in các bản tin hằng ngày. Nhân đó tôi mới biết rõ “Bà Tuần Chi” và “bà Tùng Chi” là tên gọi của một người. Trong thư từ giao tiếp bà thường ký tên “Quả phụ Nguyễn Đình Chi”. Tuy vậy tôi chưa tiện hỏi nên gọi đúng tên bà là “Tuần Chi” hay “Tùng Chi”.

Bà thuộc thế hệ cha mẹ chúng tôi, nhưng bà tiếp chúng tôi rất vui vẻ. Bà nói: “Nhìn sinh viên học sinh tranh đấu bây giờ, cô nhớ hồi 1927 bãi khóa ở trường Đồng Khánh - Quốc Học quá!” Một thông tin thật bất ngờ. Té ra gần bốn mươi năm trước học sinh Huế đã từng bãi khóa tranh đấu. Chỉ một câu nói của bà đã bắc được một nhịp cầu thân tình giữa thế hệ của bà và chúng tôi. Nhờ sự thân tình đó, anh em sinh viên tranh đấu thường gọi bà bằng “cô”, có người gọi bà bằng “chị”. Riêng tôi là bạn của Nga My, bà là bà của bạn tôi nên tôi phải gọi bà bằng “bà”. Mãi mấy chục năm sau tôi mới xin phép được gọi bà bằng “cô” để hòa đồng với cách xưng hô của các bạn tôi mà cũng là bạn vong niên của bà.        

2. Gặp bà Tuần mang dép cao-su ở địa đạo Khe Trái

Sau Tết Mậu thân (2-1968), bị địch phản kích dữ dội, tôi thoát chết nhiều lần trên đường trở lại hậu cứ thuộc vùng rừng núi huyện Hương Trà. Thiếu gạo, đám thanh niên sinh viên học sinh Huế mới thoát ly chúng tôi suốt ngày phải đi hái rau rừng cải thiện bữa ăn. Chưa ai được bố trí công tác gì cụ thể cả. Một hôm tôi được gọi vào Thành ủy công tác. Nghe được công tác tôi rất mừng nên lấy gùi tư trang lên đường ngay. Trong chuyến công tác ấy, tôi rất  bất ngờ được gặp hàng chục trí thức Huế nổi tiếng trong Mặt trận Liên Minh[3] tại địa đạo Khe Trái. Bất ngờ nhất là được gặp những bậc trưởng thượng của tôi ở Huế như Thượng tọa Thích Đôn Hậu, Tiến sĩ Lê Văn Hảo và bà quả phụ Nguyễn Đình Chi. Thượng tọa Thích Đôn Hậu - Trụ trì chùa Thiên Mụ, là bổn sư của Tâm Hằng (Pháp danh của tôi), Tiến sĩ Lê Văn Hảo - Giáo sư Dân tộc học tai Đại học Văn khoa Huế, một người bạn tranh đấu trong Phong trào đô thị năm 1966 với tôi và từ căn hộ ông ở (Cư xá 2 Lê Lợi), tôi đã thoát ly; bà Nguyễn Đình Chi - người phụ nữ tiêu biểu của Huế, bà nội thím của bạn tôi và cũng là người đã góp phương tiện cho chúng tôi trong các phong trào đấu tranh ở Huế.

Tất cả các vị trong Liên Minh được bố trí ăn ở sinh hoạt trong một địa đạo đào xuyên qua núi. Địa đạo nầy có thể chịu đựng được các loại bom đào của Mỹ. Không rõ khi đào đo đạt như thế nào mà về độ cao hai cánh địa đạo lại chênh nhau đến khoảng hai mét. Vì thế những nhân sĩ lớn tuổi như Thượng tọa Đôn Hậu, cụ Nguyễn Đóa, bà quả phụ Nguyễn Đình Chi ở tầng thấp, những người trẻ hơn như các ông Tôn Thất Dưong Tiềm, ông Nguyễn Thúc Tuân, Tiến sĩ Lê Văn Hảo, thầy giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường phải leo thang lên ở trên tầng cao. Dọc theo hai bờ thành địa đạo người ta đào xuyên ngang nhiều gian hầm nhỏ tạo thành một dãy phòng dành cho các cá nhân. Trước các gian hầm dành cho người lớn tuổi đều có mắc một tấm màn bằng vải nhựa.

Tôi không thể hiểu được một mệnh phụ như bà Nguyễn Đình Chi tuổi quá lục tuần lại có thể rời thành phố có người hầu kẻ hạ để đi theo Mặt trận kháng chiến ở chốn rừng xanh hoang vu nầy. Lạ hơn nữa, ở đây không có bất cứ một sự tiện nghi nào của đời sống đô thị cả, ngày nào cũng có tin B.52 bỏ bom, đạn pháo địch nổ tứ tung thế mà bà vẫn sống vui vẻ thản nhiên, hòa nhập với cuộc sống ở rừng. Trong Nhật ký năm 1968 của bà, tôi đã đọc được cả thơ của bà. Một đêm khó ngủ, bà viết:

 “Rừng khuya nghe tiếng suối reo

  Tiếng trùng, tiếng dế ỉ eo họa đàn,

  Ầm ầm tiếng pháo nổ vang

  Khí hùng diệt Mỹ xóa tan mộng huyền” 

Không thể mang guốc hay dép da đi lại trên những con đường rừng bom cày, đạn xới nhếch nhác, bà đổi qua mang dép râu (dép cao-su) như cán bộ Trường Sơn. Tuy nhiên, khi tham dự các cuộc họp bàn chuyện của Mặt trận, của Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thành phố Huế bà vẫn áo dài, tóc bối chĩnh tề như lúc bà tiếp các đoàn dược sĩ trong và ngoài nước đến Huế giới thiệu các thứ thuốc mới bào chế vậy. Bà rất nghiêm túc ghi nhật ký hằng ngày. Ở chiến trường không được ghi chi tiết, nhưng những sinh hoạt chính trong ngày của bà đều được bà lưu lại trong nhật ký. Tất cả những ý kiến của bà trong các cuộc họp của Mặt trận hoặc của Ủy ban đều được bà chuẩn bị từng chi tiết trên giấy.

Sau nầy có dịp tôi hỏi bà:

- Trong những ý kiến cô đóng góp với Mặt trận trong tết Mậu thân, cô tâm đắc nhất ý kiến nào và lãnh đạo của Mặt trận lúc đó có nhận xét gì về ý kiến đó của cô không?”.

Bà đáp:

- “Có lẽ là ý kiến cô phản đối chủ trương mở tòa án nhân dân của một cán bộ cao cấp nào đó. Ý kiến của cô được các vị trong Liên Minh tán thành nên lãnh đạo Mặt trận rất quan tâm và hủy bỏ ý kiến  mở tòa án nhân dân ở  Huế  năm 1968.”

Một thông tin lịch sử khá bí mật, nếu tôi không có dịp hỏi chuyện bà thì không bao giờ tôi được biết trong tết Mậu thân 1968 đã từng có ý tưởng mở tòa án nhân dân dễ sợ ấy. Việc bà thoát ly cùng với nhiều vị trong Mặt trận Liên Minh Huế năm 1968 ít ra cũng đã góp phần tránh được cho lịch sử kháng chiến của Huế một trang đen.

Đến trung tuần tháng 5-1968, bà theo đoàn Liên Minh rời chiến khu Thừa Thiên Huế lên tá túc ở Khu ủy Trị Thiên ở biên giới Việt Lào một thời gian rồi sau đó ra miền Bắc. Đoàn Liên Minh đến Hà Nội  vào lúc 10 giờ ngày 9-7-1968.        

3. Được gặp các vị Liên Minh Huế ở Hà Nội (1974)

Từ năm 1971, tôi công tác ở vùng giáp ranh và đồng bằng huyện Phú Lộc, tôi có nhiều dịp được chuyển những hình ảnh, thư từ của các vị trong Liên Minh ở Hà Nội gởi về cho gia đình và các chùa ở Huế. Đặc biệt là bộ ảnh T.T. Thích Đôn Hậu đi dự Hội nghị Phật giáo Thế giới ở U-lăng-ba-to (Mông Cổ). Đầu năm 1974, tôi được ra miền Bắc chữa bệnh. Vốn là ủy viên thanh niên của Mặt trận Liên Minh Huế, tôi được đến thăm và ăn cơm với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, cụ Nguyễn Đóa, bà Nguyễn Đình Chi và Tiến sĩ Lê Văn Hảo tại nhà khách cao cấp 71 đường Nguyễn Du. Các vị đã ra công tác tại Hà Nội, xa chiến trường gần năm sáu năm, gặp được người trong quê ra các vị mừng lắm. Các vị cho biết càng được Trung ương ưu đãi chừng nào thì các vị càng thương cho anh em ở chiến trường chừng ấy. Các vị đã đi hoạt động đoàn thể nhiều nước ở Đông-Tây Âu, Liên-xô, Mông Cổ, Trung Quốc.v.v. Đặc biệt các vị rất hân hạnh được gặp Bác Hồ nhiều lần, được viếng lễ tang Bác[4]

Các vị sống ở chiến khu chỉ có mấy tháng, lại ở trong địa đạo nên không có nhiều kỷ niệm chiến trường. Ấn tượng nhất đối với bà Nguyễn Đình Chi là chuyện Lãnh đạo Đường 559 tổ chức đoàn Z đưa Đoàn Liên Minh Huế ra Bắc. Bà kể:

 “Hôm đi đến phà Phước Tịnh (5-7-1968), trong lúc chờ qua sông thì máy bay Mỹ đến dội bom, tôi phải nằm tránh bom dưới bờ ruộng, khói bom dày đặc. Có hai đồng chí công an bảo vệ lấy thân mình nằm che mảnh bom cho chúng tôi. Sau trận bom hai đồng chí không để ý đến mình mà chỉ lo cho chúng tôi có bị xây xát gì không. Khi biết chúng tôi được vô sự, hai đồng chí mừng như chính mình được thoát nạn.

Trong đêm tối trên đường Tây Trường Sơn tôi vô ý để rơi một cái ví tùy thân trong đó có đựng một số giấy tờ và mấy thứ tư trang. Tôi tưởng như thế là mất rồi, không ngờ mấy tiếng đồng hồ sau, bộ đội đã đem đến trạm giao trả cho tôi, các thư trong ví còn nguyên vẹn. Tôi vô cùng xúc động. vô cùng khâm phục”.

Kể chuyện xong, bà Nguyễn Đình Chi bảo tôi:

 “Với những con người như thế, được tổ chức chặt chẽ như thế và quyết tâm như thế, đi qua con đường 559, lúc đó chúng tôi tin chắc Việt Nam sẽ thắng Mỹ. Niềm tin đó không sớm thì muộn cũng sẽ thành hiện thực

Và, đúng như thế. Chỉ hơn một năm sau, vào trưa ngày 30-4-1975, niềm tin của bà Nguyễn Đình Chi về cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ, cho khát vọng Việt Nam thống nhất đã trở thành hiện thực.

4. Phục hồi An Hiên - để đối ngoại về đời sống văn hóa ở Huế

Sau ngày thống nhất đất nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thăm và nói chuyện với trí thức Huế. Đề cập đến Cố đô Huế, Thủ tướng nói: “Giải phóng xong, may ra còn có Huế để đối ngoại về văn hóa”. Bà Nguyễn Đình Chi rất tâm đắc ý tưởng đó. Bà tâm sự với tôi “Bởi vậy cô dành dụm phục hồi lại cái vườn An Hiên nầy để khi người ta đến Huế có thêm một chỗ viếng thăm”. Sự thực cái vườn, cái nhà ở An Hiên nhiều nơi cũng có thể có, nhiều người có tiền cũng có thể tạo dựng được như thế hoặc hơn thế nữa. Duy, chỉ có người chủ - cái hồn của ngôi nhà vườn đó thì chỉ có một. Bà chủ vườn An Hiên là người phụ nữ miền Trung đầu tiên đỗ Tú tài Tây, giỏi tiếng Pháp, biết tiếng Anh, biết chữ Hán am hiểu Đông-Tây, một trí thức đẹp lại có quá trình tham gia Cách mạng, một bà Đại biểu Quốc hội được dân tin, được mọi giới quý mến. Trước kia chưa từng có, và tương lai trong hoàn cảnh mới chắc cũng chẳng bao giờ có nữa. Đối với tôi, buổi đầu bước vào con đường nghiên cứu Huế, bà không những là thầy, là mạnh thường quân của tôi mà bà còn là “người mẹ văn hóa” của tôi. Những vui buồn, được mất về văn hóa Huế tôi đều phản ảnh với bà. Nhiều ý tưởng của tôi được bà ủng hộ và chúng đã trở thành hiện thực. Tôi nhớ nhất kỷ niệm nầy:

Năm 1980, với tư cách là cán bộ Thành ủy Huế, tôi được tham gia Hội đồng kiểm tra những vi phạm di tích lịch sử ở Huế trong năm năm qua (1975-1980). Ông Hầu Thế Phong phụ trách Hội đồng. Kết luân của báo cáo (10-1980) gởi lên Thường vụ Thành ủy và Thường trực UBND Thành phố Huế, tôi có nhận xét :“Ba năm sau ngày giải phóng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của  nhạc sĩ Trần Hoàn, di tích lịch sử Huế bị vi phạm như vừa trải qua một cuộc chiến tranh”. Tôi cho bà mượn đọc một bản sao Bao cáo. Năm 1980, ở Huế chưa có photocopy, đêm hôm đó bà phải thức, ngồi chép lại toàn bộ bản Báo cáo dài 7 trang đánh máy để làm tài liệu. Vô tình sau đó Nhà thơ Cù Huy Cận - Thứ trưởng bộ Văn hóa ghé thăm bà. Nhà thơ vui vẻ báo cho bà biết nhà thơ vừa làm việc với ngành văn hóa thông tin Bình Trị Thiên được biết những thành tựu giữ gin và phát huy di tích lịch sử văn hóa Huế rất phấn khởi. Sự phấn khởi của nhà thơ thật trái ngược với những gì bà biết qua báo cáo của tôi gởi lên Lãnh đạo Thành phố Huế. Không tiện trao đổi ngay với nhà thơ Huy Cận, bà nẩy ra ý kiến mời nhà thơ và nhà thơ Thanh Tịnh đang có mặt ở Huế lên ăn cơm chiều. Nhà thơ Huy Cận nhận lời. Trong bữa cơm chiều hôm đó bà đã chuyển cho nhà thơ Huy Cận báo cáo của tôi và những bình luận của nhà thơ Thanh Tịnh. Có mặt trong bữa cơm, tôi bổ sung thêm những gì tôi biết mà chưa tiện ghi vào Báo cáo. Nhà thơ Huy Cận đã hết lời cám ơn bà về bữa cơm và những thông tin về di tích Huế bị vi phạm. Nếu không lên thăm An Hiên, không dự bữa cơm nhà bà Chi, nhà thơ Thứ trưởng bộ Văn hóa Thông tin khó biết được Di tích lịch sử văn hóa Huế đã bị vi phạm như thế nào.

5. Di tích lịch sử văn hóa Huế SOS

Căn cứ trên cơ sở Báo cáo của tôi, trong cuộc họp Quốc hội sau đó bà đọc một tham luận kêu cứu (SOS) các di tích lịch sử Huế. Bài tham luận có tiếng vang tốt, được báo Nhân Dân trích đăng một phần quan trọng.

Bài tham luận của bà ra đời trong không khí Việt Nam đón phái đoàn Tổng Giám đốc UNESCO do ông Amadou-Mhatar M’Bow dẫn đầu đến thăm Huế. Bà là một nhân sĩ, một Đại biểu Quốc hội, không có trách nhiệm gì trong việc chuẩn bị chỗ ăn ở cho đoàn Tổng Giám đốc UNESCO cả, nhưng bà rất hiểu phong cách đón tiếp nông dân luộm thuộm, tùy tiện ở các nhà khách cấp tỉnh, dễ làm mất uy tín địa phương với khách quốc tế, bà không yên tâm. Do đó bà thuê xe xích-lô đạp xuống thẳng Nhà khách 5 Lê Lợi, gặp chủ nhiệm nhà khách, bà nói:

 -“Tôi biết Nhà khách đang nổ lực lo hậu cần để đón Phái đoàn UNESCO đến thăm Huế. Ngoài chuyện vật chất, vì Huế mình là một trung tâm văn hóa, nên còn phải quan tâm đến mặt văn hóa nữa. Việt Nam mới thoát khỏi chiến tranh, họ không chê mình nghèo, nhưng nếu để họ chê mình thiếu văn hóa thì thiệt hại cho Huế nhiều lắm. Vì thế các anh cho tôi thăm trước chỗ ăn ở của họ đã được các anh chuẩn bị như thế nào để...?”.

Biết tiếng bà là một Đại biểu Quốc hội, một nhân sĩ trong UBMTTQ Việt Nam, chủ vườn An Hiên nổi tiếng lịch sự nên Ban chủ nhiệm Nhà khách rất vui vẻ báo cáo với bà:

- “Bà yên tâm, chúng tôi đã cố gắng hết mình, đã huy động cán bộ nhân viên của Nhà khách cho mượn đủ chăn len còn mới, giường nào cũng có trải đờ-ra trắng sạch sẽ.”

Để cho bà thấy sự thật, Ban Chủ nhiệm hướng dẫn cho bà “tham quan” một vài buồng phòng đã chuẩn bị cho Phái đoàn UNESCO sắp tới. Đúng như lời Ban chủ nhiệm đã báo cáo, giường phòng nào cũng được trải đờ-ra trắng, có chăn len Trung Quốc màu sắc vui tươi. Tưởng như thế là đã đạt yêu cầu rồi,  không ngờ bà chỉ mấy vết ố vàng trên các tấm đờ-ra bọc nệm và góp ý:

- “Các vết ố vàng nầy đã được giặt sạch, đối với ta không có vấn đề gì, nhưng đối với khách quốc tế thì không nên. Họ sẽ tưởng tường nguyên nhân những vết ố vàng đó để lại từ đâu và họ gớm lắm. Tôi đề nghị tỉnh nên cho thay hết những tấm đờ-ra ấy đi”.  

Tuy bất ngờ, nhưng Ban chủ nhiệm vẫn tiếp thu ý kiến của bà và hứa sẽ xin ý kiến của Tỉnh để thay những tấm đờ-ra có những vết ố vàng.

Cũng tưởng như thế đã xong, không ngờ bà lại chỉ mấy cái chăn len màu sắc vui tươi và nói tiếp:

-“Những cái chăn len kia đẹp, nhưng phải có bọc chăn sạch. Bởi vì khách dùng sẽ nghĩ đến những khách trước họ đã dùng. Biết đâu những khách trước đó có bệnh đã để lại vi trùng bám vào xơ chăn len và truyền bệnh lại cho họ thì sao? Khách quốc tế họ sợ lắm! Chăn đắp khi nào cũng phải có bọc chăn sạch. Đề nghị may gấp mấy chục cái bọc chăn!”

Ban chủ nhiệm Nhà khách 5 Lê Lợi miễn cưỡng hứa sẽ xin ý kiến tỉnh để thực hiện theo sự góp ý của bà. Bà nghi ngờ những lời hứa đó nên lên xích-lô đạp đến Tỉnh đường xin gặp ông Vũ Thắng - Chủ tịch UBND tỉnh Bình Trị Thiên lúc đó. Gặp ông Thắng bà kể lại chuyện bà vừa đi kiểm tra các phòng ngủ sẽ dành cho Phái đoàn UNESCO, bà đề nghị Tỉnh nên giải quyết gấp chuyện đờ-ra, bọc chăn ở nhà khách 5 Lê Lợi. Kết thúc cuộc gặp không hẹn trước, bà nói với vị đứng đầu UBND tỉnh Bình Trị Thiên:

-“Chuyện quá nhỏ, nhưng nếu có một người nào đó trong Phái đoàn UNESCO không chịu nằm trên tấm đờ-ra ố vàng và không chịu đắp cái chăn len không có bọc thì chuyện đón tiếp quốc tế của tỉnh ta - một trung tâm văn hóa - mang tiếng là thiếu văn hóa. Tai hại vô cùng. Mong tỉnh quan tâm”.

Ông Vũ Thắng cám ơn bà và cho thực hiện ngay.

Sau nầy, nhân nói về “sự kỹ tính của bà Nguyễn Đình Chi”, ông Vũ Thắng đã kể lại chuyện đó với tôi. Và ông bảo tôi:

-“Chuyện nhỏ thôi, nhưng nếu anh em kháng chiến mình mà không biết thì cũng vấp!”.

Đối với tôi - một người học trò lúc ấy đang đi học văn hóa của đời sống hội nhập - câu chuyện nhỏ ấy là một bài học. Mấy cái vết ố vàng trên đờ-ra, chuyện thiếu các bọc chăn không là gì. Nhưng nó đầu mối gợi cho người ta suy nghĩ, tưởng tượng đến những chân trời nào đó thì không ai lường hết được hậu quả. Đó mới là vấn đề. Hơn nữa, đề cập đến cái gọi là văn hóa, không nên xem thường chuyện nhỏ. Một chuyện nhỏ thiếu văn hóa có thể làm hư hại cả đại sự giống như một mối len đan bị sút có thể làm hỏng cả chiếc áo len đẹp.  

6. Đi tìm mộ cụ Đào ở đèo Son

Vốn là người phụ nữ tân tiến, đỗ Tú tài Tây sớm nhất ở miền Trung, là nhân sĩ Cách mạng, nhưng bà rất quan tâm chuỵện mồ mã, kỵ giỗ bên họ Nguyễn Đình của phu quân bà cũng như họ Đào của bà. Sau ngày thống nhất đất nước, bà ưu tư nhất là ngôi mộ của cụ Đào Thái Hanh (1871-1916) - thân sinh của bà. Mộ cụ táng ở Quảng Trị, năm 1923 dời về Đèo Son Bình Định để được ở gần mộ thân mẫu của cụ. Đèo Son - vùng rừng núi bên tay trái ở khoảng giữa con đường dẫn từ Ngã ba Phú Tài vô Thành phố Qui Nhơn. Thời chiến tranh Việt Mỹ, lăng mộ của cụ bị lọt vào khu vực kho đạn của quân đội Mỹ và VNCH. Nhiều lần kho đạn nầy bị pháo kích dữ dội. Sau ngày thống nhất, kho đạn thuộc Cục kỹ thuật Quân khu V. Bà nghĩ rằng lăng mộ cụ thân sinh của bà đã bị công binh Mỹ cày ủi để làm kho đạn, không còn gì nữa. Nhưng dù sao đất nước thống nhất rồi mà bà chưa đặt chân đến nơi an nghỉ của cụ thân sinh, bà không yên tâm chút nào.

Sau nhiều năm liên hệ với chính quyền Thành phố Qui Nhơn và Quân khu V, bà được phép vào thăm khu vực quân sự Đèo Son. Ngày 21-5-1985, Mặt trận Tổ quốc VN tỉnh BTT cho bà mượn chếc xe Oát do anh Rương lái, anh Nguyên - cán bộ Mặt trận đưa bà đi Qui Nhơn, có chú Viện - công an bảo vệ bà đi theo. Gặp lúc tôi đang nghỉ phép, bà nhờ tôi cùng đi. Vào Qui Nhơn tất cả mọi người nghỉ lại tai nhà thờ cụ Đào Thái Hanh (Đào Công Từ) ở làng Hưng Thạnh (1049 đường Trần Hưng Đạo, Qui Nhơn) do gia đình người cháu bên ngoại là Trần Hữu Bỗ quản lý. Sáng hôm (22-5-1985) sau Trần Hữu Bỗ hướng dẫn bà và chúng tôi vào Kho đạn ở Đèo Son. Bao năm chiến tranh vật đổi sao dời, cảnh vật Đèo Son hoàn toàn thay đổi. Bà đảo mắt nhìn chung quanh, không tìm ra được ở bất cứ đâu một điểm tựa nào quen thuộc để định hướng cả. Bộ đội quản lý khu vực kho đạn cũ cho biết rải rác trong lùm cây bụi cỏ còn nhiều quả đạn chưa nổ. Chính bộ đội cũng chỉ dám bước vào những nơi cần vào mà đã biết chắc là không có gì nguy hiểm. Bà lặng nhìn ra chung quanh buồn, thất vọng, thở ra. Nhớ cha, bà không khóc nhưng nước mắt rơi. Bà thắp hương vái trời đất bốn phương tám hướng, xin hương hồn cha tha thứ, vì chiến tranh bà thiếu sự chăm sóc lăng mộ của cha. Đến trưa bà bái biệt khu vực Đèo Son về lại ngôi nhà thờ ở Qui Nhơn, tôi đi thăm và nghỉ lại nhà một người em trong trung tâm Thành phố Qui Nhơn. 5 giờ sáng hôm 23-5-1985, bà gọi điện thoại cho tôi: “Không tìm được mộ ông cụ, đêm qua cô không ngủ được. Sáng nay cô muôn anh đi với cô vô Đèo Son một lần nữa có được không?”. - “Dạ được. Con đi Qui Nhơn giúp cô mà!”. Sáng hôm 23-5-1985, anh Rương đưa bà, tôi và chú Viện đem hương đèn và một cái rựa mới mua vào Đèo Son. Ban chỉ huy kho đạn Đèo Son bất ngờ thấy bà trở lại nơi đây. Biết bà khẩn thiết muốn tìm mộ của ông cụ, họ nhiệt tình đón tiếp. Nhưng không ai hy vọng giúp bà được việc gì. Xuống xe, tôi lại cùng bà đứng nhìn cảnh quan kho đạn Đèo Son, trong lòng mọi người van vái hương hồn ông cụ giúp chỉ nơi ông đã an nghỉ hơn sáu chục năm qua. Phía bên tay trái là khu vực đã được rà phá bom mìn đang có một vài kiến trúc mới xây tạm bợ, phía bên tay phải là dãy núi dài thẳng tắp vào rừng xanh. Ở khu vực chính giữa ngay trước mặt chúng tôi có một sườn núi thấp nhô lên, cây dại mới mọc chừng hơn mươi năm. Cảnh quan nửa núi nửa rừng gợi cho tôi nhớ lại những năm dài kháng chiến ở vung giáp ranh Thừa Thiên Huế. Tôi lại nghĩ ngày xưa ông cụ là một nhà Nho, nếu ông không nhắm trước nơi an nghỉ cuối đời ông thì người sau cũng biết ý ông tìm cho ông một huyệt mộ để lại phúc đức cho con cháu. Đầu thế kỷ XX, Đèo Son là một vùng hoang vu, ít người đặt chân đến. Cụ Đào là một vị đứng đầu tỉnh (Tuần vũ), lại là người đầu tiên đến táng ở đây chắc chắn cái huyệt mộ dành cho cụ phải được chọn ở vị trí tốt nhất. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi: Phải chăng lăng mộ cụ Đào ở vào vị trí trung tâm, cân đối trên cái “sườn núi thấp” nầy. Chỉ có nơi nầy là đẹp nhất thôi. Cái “máu” thích đạp đường rừng để đi hồi kháng chiến dậy lên trong lòng, tôi xách rựa phát cây “mở đường” nhắm thẳng sườn núi, đạp lên cây dại bước lên. Bộ đội và chú Viên kêu: “Coi chừng bom đạn chưa nổ”. -“Không! Tôi đi trên các nhánh cây vừa chặt. Không sao đâu!”. Cứ thế tôi đạp lên. Leo được khoảng ba mươi mét tôi phát hiện có một bức thành thấp ẩn dưới cỏ cây. Tôi leo lên thành và men theo bức thành thâp. Đến cuối bức thành gặp một thành chắn ngang và ở giữa có tâm bia đề tên cụ Đào Thái Hanh. Tôi mừng quá đứng thẳng người la lên: “Có rồi cô ơi. Tấm bia ông cụ còn nguyên vẹn”. Nghe tôi báo, bà mừng quá tất tả theo con đường tôi vừa đạp qua lên phía di tích lăng mộ ông cụ tôi vừa phát hiện. Chú Viện theo sau đỡ bà, tôi cũng đi xuống đưa tay cho bà vịn kéo bà lên. Tôi nhớ hai chân bà còn mang đôi dép lưới thế mà bà đạp lên được những ngọn, cành cây để lên viếng mộ cụ thân sinh. Thật lạ, bà bước lên nhẹ nhàng như có ai  đó đưa tay đỡ dưới chân bà. Lên đến nơi bà liền ngồi bệt xuống một cái đệm bằng cành lá tôi mới tạo nên và chắp tay vái lạy với vẻ hân hoan như được gặp người quá cố. Vui quá bà cũng khóc. Mỗi lần nói đến chữ hiếu của bà, tôi không thể quên dược hình ảnh ấy. Sau đó Ban chỉ huy đơn vị quân đội ở đó giúp bà xây dựng lại ngôi lăng kiên cố hơn nhưng vẫn giữ lại tấm bia gốc. Bà rất biết ơn Ban chỉ huy. Nghe bà giới thiệu, Ban chỉ huy mời tôi đến nói chuyện về Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế với bộ đội. Tôi nhận lời để đáp lễ. Từ đó, bà xem Ban chỉ huy Kho đạn Đèo Son như những người thân nhất của bà ở Bình Định. Thỉnh thoảng các anh Sen, Lưu, Kẻm trong Ban chỉ huy hay ghé nhà thờ cụ Đào ở đường Trần Hưng Đạo Qui Nhơn uống trà, có một vài lần họ ra An Hiên thăm bà như thăm một bà cô thân thiết trong họ.

7. Sưu tập in sách Ái châu danh thắng

Sau ngày tìm được lăng mộ cụ Đào, tôi mới có cơ hội tìm hiểu về lai lịch cụ thân sinh của bà. Cụ Đào Thái Hanh là con một Tri Phủ ở Sa-đéc gốc miền Trung, sinh năm 1871 cùng tuổi với vua Hàm Nghi. Cụ học chữ Hán và đi dạy chữ Hán cho dân Nam bộ. Lớn lên cụ chứng kiến một bọn vô học đi làm bồi làm bếp cho Tây giúp Tây cai trị gây nên bao nỗi nhục cho dân mình. Để giúp dân, cụ ra sức học Pháp ngữ và trở thành một người vừa giỏi chữ Hán vừa giỏi chữ Pháp. Cụ được tuyển vào làm thông ngôn ở Tóa Công sứ rồi sau đó chuyển ra làm thông ngôn cho Tòa án ở Qui Nhơn, rồi lại được chuyển ra Huế làm thông ngôn cho vua Thành Thái, đi làm Tri huyện Nga Sơn (Thanh Hóa), Tri Phủ Cam Lộ (Quảng Trị), Tham biện Viện Cơ Mật, Thị Lang rồi Tham Tri bộ Lại, Tuần Vũ Quảng Trị.v.v.

Trong thời gian làm quan ở Thanh Hóa cụ đi tìm hiểu lịch sử các thắng tích của tỉnh Thanh. Đến đâu cụ cũng đề thơ, ngâm vịnh và chép lại thành tập Ái Châu Dang Thắng. Tập thơ nầy đã được lưu lại cùng với hàng trăm bài thơ bằng chữ Hán khác của cụ dưới nhan đề Mộng Châu Thi Tập.    

Năm 1907, trong thời gian làm Tham biện (Tổng thư ký) Viện Cơ Mật, lúc nhàn rỗi, cụ dịch những quyển thi chữ Hán của các Cử nhân và Tiến sĩ triều Nguyễn qua Pháp ngữ rồi gởi sang Pháp để giới thiệu với trí thức Pháp. Cụ được Viện Hàn Lâm Pháp trao Huy chương. Năm 1913 thời Duy Tân, cụ làm Tham tri bộ Lại được các nhà nghiên cứu Huế mời làm sáng lập viên Hội Đô Thành Hiếu Cổ (Association des Amis du Vieux Húe). Trong hai năm 1914 và 1915, cụ đã viết nhiều bài bằng Pháp ngữ cho những số đầu tiên của tập san Đô Thành Hiếu Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) giới thiệu truyện các Nữ thần Việt Nam[5].  Đây là những trước tác lịch sử vừa có giá trị dân tộc học vừa có giá trị văn học.

Đầu thế ký XX mà có một người cầm bút Việt Nam trước tác song ngữ Hán Pháp như cụ Đào Thái Hanh thật quá hiếm. Do đó với sự giúp đỡ của bà Nguyễn Đình Chi tôi đã mời Giáo sư Phan Ngọc giúp dịch tâp Ái Châu Danh Thắng và mời Giáo sư Bửu Ý dịch các bài về nữ thần Việt Nam sang Việt Ngữ để thực hiện cuốn Ái Châu Danh Thắng & Sự tích các nữ thần Việt Nam do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành vào năm 1995.

Tìm được mộ ông cụ ở Đèo Son (Qui Nhơn) và giữ được các trước tác bằng Hán văn và Pháp văn cho ông cụ, bà trả được một phần chữ hiếu đối với cha. Tôi rất hân hạnh được chia sẻ niềm vui nầy với bà. Trong một ngày sinh nhật của tôi, bà tâm sự: “Cô không được ở gần con cháu họ Đào, may sao cô có những người bạn vong niên như các anh, cô không cô đơn”. Như đã có ý từ trước, tôi bất ngờ đáp lời bà: “Đối với con, cô là người mẹ văn hóa của con!”  Mà sự thật như thế.

8. Chuyện hủy bỏ ý định xin giữ lại ngôi mộ cổ ở Qui Nhơn

 Bà có nhiệm vụ chăm sóc một ngôi mộ bà nội ở X.Q. (Qui Nhơn). Ngôi mộ nầy có kiến trúc pha trộn giữa Việt và Chăm-pa, xây dựng bằng một chất liệu cổ hiếm có hồi thế kỷ XIX . Nhưng vào khoảng đầu những năm chin mươi của thế kỷ XX, có lệnh giải tỏa khu vực có ngôi mộ để xây dựng một khu nhà ở cho cán bộ công chức và người lao động. Cái lệnh đó làm cho bà rất lo lắng. Di dời ngôi lăng mộ nầy là làm mất đi một kiến trúc cổ hiếm có của quê bà. Có người quen làm cán bộ Mặt trận Tỉnh đến mách: Bà nên liên lạc với lãnh đạo Tỉnh xin giữ lại ngôi mộ. Nếu được chấp thuận gia đình bà sẽ xây dựng cảnh quan khu mộ cho thật đẹp và xây tặng cho khu dân cư mới một nhà trẻ. Bà thấy ý tưởng đó rất hay. Bà vận động bà con nội ngoại ở trong cũng như ở ngoài nước đóng góp tài chính giúp bà cứu vãn ngôi mộ cổ. Cuộc vận động tài chánh của bà thành công. Khi đã có đủ tiền, bà nhờ người đưa thư xin gặp vị lãnh đạo Tỉnh có quyền quyết định cho giữ hay phá ngôi mộ cổ ấy. Vị lãnh đạo nhận lời, sẽ tiếp bà ở nhà riêng vào 3 giờ chiều ngày Chủ nhật gần nhất. Đúng hẹn, bà khăn áo chĩnh tề đi xích-lô đến đúng địa chỉ. Nhưng không hiểu sao, đi một lúc bà về lại ngay. Tôi hỏi: “Ông T. có chấp nhận cho giữ ngôi mộ không, thưa cô?”. Bà đáp: “Cô không xin. Thôi tìm chỗ dời mộ thôi!”. Tôi thắc mắc:“Vì sao cô không xin?” Bà đáp: “Cô không xin, nhưng có xin chưa chắc ông ấy đã cho!”. “Nhưng tại sao cô không xin?”. Bà trả lời tôi bằng chuyện kể ông T. đã tiếp bà trong phòng khách nhà ông như thế nào. Bà kể đại ý: Trời nóng, ông mặc pi-ra-ma mỏng, hai hột nút áo trên bỏ lửng. Ông ngồi, một chân co trên xa-lông, một chân đặt dưới sàn nhà láng bóng. Ông thò hai ngón tay trỏ và ngón giữa móc xác trà cũ trong một bình trà trắng tinh, chuẩn bị pha trà mời khách. Bức tường sau lưng ông treo một chiếc đồng hồ điện to tướng chớp xanh, chớp đỏ. Hai bên đồng hồ, ông treo đủ các thứ vỏ tôm hùm, mai rùa, bộ lông chim trĩ, và nhiều loại tranh chạm khắc gỗ với những lời đề tặng trang trọng khác. Bà có cảm giác như vào một phòng giới thiệu đồ mỹ nghệ ở các phố có nhiều khách du lịch. Một ý nghĩ vụt dậy trong tâm trí bà: “Phong cách của ông T. còn nặng nông dân quá có lẽ không hợp với chuyện bảo vệ văn hóa tryền thống cổ”. Ý nghĩ đó khiến bà hủy bỏ ý định xin giữ lại ngôi mộ. Để cuộc gặp được diễn ra bình thường, bà lịch sự nói: “Thưa ông, quê tôi ở đây, nhưng đi học, rồi lập gia đình và hoạt động cách mạng ở nơi khác. Nhân về quê, được biết ông cũng vừa ở tỉnh khác chuyển về lãnh đạo địa phương, tôi đến chào và thăm ông. Chỉ có thế!”. Ông T., đáp lại vài câu xã giao rồi đứng dậy tiễn bà ra về.

9. Người đại biểu của gia đình và xã hội

Trong những thư từ của gia đình bà con nội ngoại họ Nguyễn Đình, họ Đào gởi cho bà và tôi hân hạnh được đọc một số, tôi  thấy việc kỵ giỗ, mồ mã, chuyện đời sống khó khăn buổi giao thời của tất cả nhứng người ấy đều cậy nhờ bà (đặc biệt khó khăn về tiền bạc, thuốc chữa bệnh). Tôi có cảm tưởng họ xem bà như là một người đàn ông, là con trưởng của thế hệ trước và là chú bác của thế hệ sau. Dâu con của bà nghĩ rằng bà có tiền của mấy người cháu con của người em gái của bà ở nước ngoài gởi chu cấp đủ cho bà, và ngược lại các cháu của bà cứ nghĩ con dâu của bà ở Pháp đã gởi giúp bà nên không quan tâm đến đời sống của bà nữa. Đến khi hai bên đều biết bà phải bán từ cái lá vã, từng buông chuối, từng trái thơm, trái hồng, trái măng cụt trong vườn  mới có đủ tiền đi chợ, lo kỵ giỗ hằng năm. Tiền lương của bà chỉ đủ chăm sóc cho khu nhà vườn mưa nắng thất thường đấy thôi. Khi biết được sự thực ấy thì đã hơi muộn. Sống thanh bạch như thế nhưng không bao giờ bà ngữa tay xin trợ cấp hay từ chối những bữa cơm tiếp khách của nhà nước hay của các đoàn thể ở An Hiên. Bà yêu quê hương nầy và luôn nghĩ chuyện của dân, của thành phố Huế như chính chuyện của bà. Lên về phố, đi ngang qua Phu Văn Lâu bà thấy mấy khẩu súng đồng nghiêng đổ, bà viết thư báo động với Trung tâm BTDT Cố đô Huế hãy gìn giữ mấy khẩu súng lịch sử trước nạn ăn cắp đồng của bọn thổ phỉ. Trung tâm cám ơn bà, họ phục chế hai khẩu súng bằng xi-măng thay thế hai khẩu súng đồng đặt trước Phu Văn Lâu và mang hai khẩu súng đồng cổ cất vào kho bảo quản chu đáo. Cũng trên con đường lên về phố ấy, bà phát hiện Công-ty Du lịch Hương Giang đóng hàng chục cọc xi-măng xây nhà hàng thủy tạ bên bờ sông Hương phía trước cửa Nhà Đồ, bà rất bất bình. Năm lần bảy lược bà viết thư yêu cầu các cơ quan chức năng hãy xem lại việc xây dựng Nhà hàng quán ăn phá vỡ cảnh quan bờ sông Hương trước Kinh thành. Mãi mấy năm sau bộ cọc móng nhà hàng ấy mới được nhổ đi. Bà cứu được sự bình yên của khúc bờ sông đẹp nhất của Thành phố Huế.

Với tư cách đại biểu Quốc hội (từ 1976 đến 1986), bà đã giúp giải quyết nhiều nỗi oan ức của dân. Có nhiều chuyện oan ức, Phật tử kêu đến Hòa thượng Thích Đôn Hậu chùa Linh Mụ, Hòa thượng bó tay, phải nhờ đến bà. Trong xấp thư riêng của bà để lại tôi đọc được mấy dòng chữ viết tay của Hòa thượng như sau: “Gởi bà Tâm Hải[6], Bà xem thư và cố gắng giúp đỡ một người dân đang ở trước tình trạng khổ đau oan ức. Tôi không thể làm gì để giúp đỡ được. Chắc bà cũng thông cảm. Tỳ Kheo Đôn Hậu”. Tôi không rõ chuyện Hòa thượng nhờ, bà có giúp được hay không. Nhưng qua đó thấy được uy tín của bà - người đại biểu Quóc hội thời ấy. Cũng trong thư từ bà để lại, tôi biết có những việc của dân quá khó, bà phải nhờ đến các vị lãnh đạo cao nhất ở Trung ương giải quyết. Tôi rất thú vị được đọc lá thư viết tay đề ngày 15-3-1981 của ông Trường Chinh - Chủ tịch Quốc Hội, gởi cho bà, trong thư có đoạn ông thông báo cho bà biết việc bà nhờ can thiệp cho ngôi nhà của ông Quỳnh Bá ở Huế đã có kết quả như sau: “Tôi rất vui mừng biết tin vấn đề nhà cửa anh Quỳnh Bá đã được các đồng chi lãnh đạo tỉnh quan tâm giải quyết sớm. Hiện nay gia đình anh Bá đã về Huế nhận nhà chưa? Nếu có khó khăn gì, mong bác cho biết” Nhưng như thế không có nghĩa chuyện gì bà quan tâm cũng có thể giải quyết được. Trước khi qua đời bà không giấu được nỗi bận tâm chưa giúp giải quyết được việc ông Lê Văn Trai - lái xe của Nhà máy vôi Long Thọ, chiếm đất sát chân móng thành bên trái chùa Thiên Mụ làm nhà ở, mở quán bàn hàng du lịch. Ông Trai (thường gọi là Chắt) không những phá móng thành ngôi quốc tự làm nhà ở còn đào đường dây điện chôn ngầm của chùa câu điện vào nhà mình. Nhiều lần bà đã yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết. Tỉnh Bình Trị Thiên đã tổ chức một cuộc họp giữa đại diện chùa Thiên Mụ, ông Nguyễn Văn Thương - Chủ tịch xã Hương Long, ông Lê Văn Trai do ông Lê Viết Công-Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Trị Thiên chủ tọa. Ông Lê Văn Trai nhận mình đã vi phạm đất chùa, xin chuyển đi nơi khác với điều kiện Xã Hương Long cấp cho ông đất ở mới. Tưởng mọi việc đã xong xuôi, không ngờ  nội dung cuộc họp đó không được thực hiện và ngôi nhà với hàng quán sát móng thành chùa Thiên Mụ của ông Trai vẫn tồn tại mấy chục năm qua. Mới đây, nhà nước đã bỏ ra trên 20 tỷ đồng trùng tu tôn tạo lại ngôi quốc tự Thiên Mụ nhưng không hề đề cập đến việc vi phạm đất đai thuộc vùng cấm của di tích. Không rõ cho đên nay ở cõi vĩnh hằng bà Chi đã biết được lý do vì sao chưa? Đối với tôi - nhà ở và hàng quán của ông Lê Văn Trai là một dấu tích của sự chiếm nhà chiếm đất một cách bất hợp pháp thời bao cấp cửa quyền. Cho dù đó là chuyện đã qua nhưng hậu quả của nó để lại cho nhiều đời sau vẫn chưa giải quyết xong. Có còn ai  tiếp tục nỗi lo của bà đại biểu nhân dân Nguyễn Đình Chi không nhỉ?

10. Hai lần chuông điện thoại reo lúc rạng sáng

 Người thân trong gia đình tôi thường ở xa, vì thế tôi rất sợ những cuộc điện thoại bất thường. Những lần nghe chuông reo bất thường tôi thường nghĩ đến những chuyện không vui. Một hôm vào trung tuần tháng 2-1990, mới hơn 4 giờ sáng điện thoại reo vang, tôi bớ sớ chồm dậy bốc ống nghe đặt vào tai: -“ A-lô, tôi nghe!”.- “ Cô đây! Cô vừa viết xong tham luận gởi cho Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch UB Mặt trân Tổ quốc Việt Nam. Anh lên sớm đọc lại giùm để cô gởi cho kịp hội nghị!” Nghe giọng bà tôi tỉnh ngay và không khỏi ngạc nhiên: -“Trời ơi, cô thức viết suốt đêm à?”.- “Không có điện, cô phải viết dưới ánh đèn dầu nên đến bây giờ mới xong! Anh lên ăn sáng với cô!” Tôi “dạ” một tiếng rồi mở cửa lấy xe đạp tốc lên An Hiên ngay. Đường phố mới mờ sáng nên vắng người, An Hiên cách nhà tôi hơn 7 km mà tôi chỉ đạp có 20 phút là tới ngay. Bà ngồi chờ tôi ở phòng khách trước một ấm trà. Bà mời tôi uống trà rồi đưa cho tôi một xấp giấy manh kẻ ca-rô ngập cả chữ. Tiêu đề tham luân “Góp ý vào bản Đề cương: Đổi mới công tác dân vận của Đảng: Bảy biện pháp để đổi mới công tác vận động quần chúng.” Trên các trang viết nham nhỡ những vết muội đèn, nhiều chữ bị bôi đen đọc không được. Tôi kêu lên: “Ô! Thưa cô, sao muội đèn dính tùm lum ri?”- “Rứa à?”. Té ra bà chưa đọc lại nên không biết. Tôi nhìn vào hai bàn tay bà, vào khuôn mặt bà ở đâu cũng thấy muội đèn lọ lem. Chắc đêm qua bà để ngọn đèn dầu sát trang viết quá nên muội đèn mới đổ xuống gây nên tình cảnh nầy. Giữ sự tế nhị, tôi thưa bà :“Cô để con đọc, cô đi rữa tay đi, Tay cô cũng dính muội đèn đen thui đó!”.

 Một bà già tám mươi tuổi, viết dưới ánh đèn lù mù mà chữ viết đều đặn, thẳng thớm suốt cả sáu bảy trang giấy manh, tôi thật không thể tưởng tượng được. Lâu nay tôi nghĩ bà là một nhân sĩ, một người phụ nữ tiêu biểu của văn hóa Huế. Không ngờ qua tham luận nầy bà chứng tỏ là mmọt cán bộ cao cấp cấp tiến của Đảng. Những góp ý của bà với Đảng về công tác dân vận thật sâu sát, táo bạo. Bà khen “Toàn dân đã đi theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ làm cuộc Cách Mạng giải phóng dân tộc thành công vẻ vang chấn động địa cầu. Đó là một điểm son trong lịch sử dân tộc”. Nhưng hiện nay (1990), theo bà “lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bị giảm sút trầm trọng. Nếu sự tín nhiệm của Đảng không được phục hồi đúng mức thì Việt Nam khó tránh được sự khủng hoảng chung đang diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa”. Với tư cách: “một quần chúng đã đi theo Đảng mấy mươi năm, tôi không thể thoái thác bằng lý do tuổi tác đã cáo lão về vườn mà không góp ý với Đảng nên tôi xin mạo muội có mấy ý kiến sau.” Bà góp 7 ý kiến với 7 chủ đề sau:

1. Muốn lãnh đạo tốt cần phải “bổ sung tri thức cho lãnh đạo”,

 2. Phải có kế hoạch “trừng trị thích đáng những “con sâu làm rầu nồi canh”;

3. “Muốn lấy lại lòng tin phải có biện pháp thực mạnh mẽ, hữu hiệu, thực sự đầu tư cho giáo dục, văn hoá, khoa học kỹ thuật”.

4. “Muốn vận động được dân phải nhanh chóng đổi mới triệt để ngành thông tin. Máy móc, kỹ thuật thật tốt, nội dung phải nhìn thẳng và nói thẳng sự thật.”

5. “Muốn lấy lại lòng tin, Đảng phải có một chính sách thích hợp, tiêu chuẩn hoá cán bộ một cách đúng đắn, từ người thư ký cho đến bộ trưởng, phải có tiêu chuẩn về hạnh kiểm, về chuyên môn rõ ràng. Nghiêm cấm việc đã là cấp uỷ thì việc gì cũng có thể làm được;

6. “Đảng lãnh đạo đường lối chiến lược chung còn biện pháp cụ thể để đoàn thể tự tìm ra cách làm của mình. Đảng phải thực sự đổi mới, thực sự giao quyền độc lập cho các đoàn thể. Có được như thế nhân dân trong các đoàn thể mới tăng thêm lòng tin vào Đảng”.

7. “Còn dân làm chủ bằng cách nào? Thực tế dân chỉ có một cái quyền là bỏ phiếu bầu người đại diện vào các Hội đồng nhân dân ở địa phương và bầu Quốc hội. Nhưng đại đa số người được cử đều là đảng viên hoặc là người được các đoàn thể của Đảng giới thiệu. Nên dân chủ của chúng ta chỉ có hình thức chứ thực tế chưa có dân chủ. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.

Tôi đọc xong đúng vào lúc bà từ trong phòng riêng bước ra phòng khách. Hai tay bà thắt cái khăn choàng trên cổ, miệng bà  nở một nụ cười kín đáo hỏi tôi: “Cô góp ý như vậy, anh thấy như thế nào?”. -“Dạ thưa cô, con không ngờ!”. - “Không ngờ sao?”. - “Cô chính trị quá, thẳng thắn quá, con sợ...!”. Tôi chuyển trả bản thảo tham luận của bà lại cho bà. Bà ngồi vào cái góc tràng kỹ tựa lưng vào cái kệ sách có bình hoa cắm một cành trúc khô, trả lời tôi bằng cách bà lật đọc mấy câu cuối tham luận: “Tôi đã vượt quá cái tuổi “cổ lai hy” tôi không muốn góp ý với Đảng những gì không có trong lòng tôi. Đó là những lời tâm huyết, những điều tôi đã suy nghĩ, nghiền ngẫm. Đúng, sai, thực hư thế nào tùy sự thẩm định của Mặt trận và đồng bào.” Biết bà đã dứt khoát, quyết liệt như thế tôi không dám có ý kiến gì thêm. Ăn sáng xong tôi về Bưu điện Thành phố gởi bảo đảm tham luận của bà cho Luật sư Nguyễn Hữu Thọ qua địa chỉ báo Đại Đoàn Kết. Cái tham luận của bà lên đường vào Thành phố Hồ Chí Minh, được UBMTTQ Trung ương cử người đọc trong Hội nghị ngày 18-2-1990 và được báo Đại Đoàn Kết số 10 - từ 6 đên 12-3-1990 trích đăng. Những ý tưởng trong tham luận ám ảnh tâm trí tôi một thời gian dài. Tôi nghĩ sẽ có sự thay đổi về hình ảnh của bà trước mắt nhiều cấp lãnh đạo ở Trung ương và địa phương. Nhưng may là không có gì phải lo lắng.

Đúng 20 năm ngồi viết lại sự kiện đó, tôi cảm thấy 7 ý kiến của bà góp với Đảng vẫn còn nguyên giá trị. Mấy ai trong chúng ta hôm nay (8-2010) dám nói 7 ý kiến của bà Nguyễn Đình Chi năm ấy đã cũ rồi?   

Cũng vào một hôm (khoảng giữa năm 1992), trời chưa sáng, điện thoại nhà tôi reo vang. Người gọi tôi không ai khác là bà Nguyễn Đình Chi. Giọng mệt mỏi, bà nói qua điện thoai:

- “Có một việc làm cho cô đau đầu, suốt đêm qua không ngủ được. Cô chờ sáng để gọi anh. Anh lên gấp cô nhờ một chút!”.

Và như thường lệ, bất cứ lúc nào bà yêu cầu gặp là tôi hoặc nhà tôi phải có mặt ngay.

Gặp tôi, bà nói như tâm sự:

- “Cô đang có một việc quá khó xử. Chiều hôm qua UBMTTQVN tỉnh gọi điện thoại cho cô, họ cho biết vừa làm việc với các thầy trên chùa T.M. Các thầy báo cáo với Mặt trận rằng: “Cứ mỗi lần họp Quốc hội, Hòa thượng chúng tôi cho mời bà Nguyễn Đình Chi đại biểu quốc hội lên chùa và nhờ bà chuyển lời của Hòa thượng đến các vị lãnh đạo cao cấp nhà nước...”  Mặt trận hỏi chuyện đó có không? Nếu có thì Hòa thượng đã yêu cầu cô báo cáo lên cấp trên việc gì và cô có báo cáo không?  Báo cáo với ai?  Nếu không có cô cũng cho biết để làm việc lại với các thầy. Sáng mai Mặt trận sẽ lên làm việc với cô. Chuyện thật khó cho cô. Nói có thì cô không hoàn thành trách nhiệm đại biểu quốc hội của cô, nói không thì vô tình cô đẩy các thầy trên chùa vào cái thế “chuyện không nói có” - hành động trái ngược với cái hạnh của người xuất gia. Cô không thể nói vậy được. Anh là nhà báo có cách chi giúp cô được không?  

Một chuyện ngoài khả năng của tôi. Nhưng nếu tôi “xin đầu hàng” ngay thì sẽ làm cho cô thất vọng thêm. Tôi thưa:

-“Chuyện ni quá rắc rối. Cô cho con suy nghĩ xem có cách chi không đã!»

Bà than :

- «Đầu giờ làm việc Mặt trận lên rồi đó? Tuổi già mà phải đối phó với những chuyện như thế nầy mau chết quá!»

Hai từ «tuổi già » bà vừa thốt lên lóe sáng trong đầu tôi. Tôi thưa với bà :

-«Sao cô không sử dụng cái tuổi già của cô để giải quyết chuyện nầy?»

Không rõ bà hiểu sự gợi ý của tôi như thế nào mà bà tỏ ra vui vui và nói :

-«Cô đã hơn tám mươi tuổi rồi nhưng trong công việc nhà việc nước cô vẫn suy nghĩ như hồi còn trẻ. Hôm nay thử sử dụng cái quyền của người già xem sao».

Chính bà đã mở cái thế bí cho tôi. Tôi mừng quá :

-«Tuổi già cũng có cái hay của tuổi già. Mình nói thiệt chứ thử chi, thưa cô!»

Thế là hai cô cháu ngồi thảo luận và soạn câu trả lời  UBMTTQVN tỉnh Bình Trị Thiên, đại ý như sau :

«Tôi là đệ tử của Hòa thượng, học Phật với Hòa thượng, lại vào Mặt trận Liên minh, cùng đi kháng chiến, cùng làm đại biểu Quốc hội khóa VI  với Hòa thượng;  nhà tôi lại ở gần chùa nên tôi thường lên vấn an Hòa thượng, nghe Hòa thượng trao đổi nhiều Phật sự, nhiều chuyện văn hóa xã hội. Có chuyện tôi phản ảnh lại trong các cuộc họp tổ, họp nhóm ở Quốc hội, có chuyện tôi thấy ngoài vị thế chính trị của tôi, nghe Hòa thượng nói tôi xin ghi nhận và biết vậy chớ không thể phản ảnh hết với những người có trách nhiệm không ở trong Quốc hội. Thầy trò chúng tôi gặp nhau nói nhiều chuyện lắm, bây giờ với cái tuổi bát tuần, tôi không còn nhớ tôi đã nghe gì và đã nói gì. Tôi không thể xác định những gì các thầy báo cáo với Mặt trận có hay không. Kính mong Mặt trận thông cảm cho tuổi già của tôi. »

Cùng với bà soạn xong câu trả lời, tôi rời An Hiên ngay. Trưa hôm đó bà điện thoại cho tôi với giọng rất vui:

-«Cô vừa làm việc với Mặt trận xong rồi. Các anh rất thông cảm cho hoàn cảnh của cô.  «Tuổi già cũng có cái hay». Anh nói khéo đó».

Nếu không có sự gợi ý của bà thì tôi không biết cách nói khéo» ấy. Không những sự việc ấy, bây giờ ngồi nghĩ lại, trong cuộc đời cầm bút nghiên cứu văn hóa Huế của tôi có không biết bao nhiều đề tài do bà gợi ý cho tôi.

11. Chuyện cái nhà

Cuối những năm bảy mươi Thế kỷ XX nhà vườn An Hiên đã được xem như một điểm tham quan du lịch về đời sống văn hóa của người dân Huế. Người Huế rất tự hào có vườn nhà cổ An Hiên để giới thiệu với người trong nước và quốc tế. Chỉ tiếc là sau ngày Việt Nam thống nhất cô tặng nhiều sách chữ Hán - trong đó có nhiều bản thảo Nguyễn Du dịch Đường Thi cho Thư viện Đại học Tổng hợp và Thư viện đã làm mất hết. Hồi cuối hè năm 1982, tôi được TS Nguyễn Sỹ Hồng ờ Đại học khoa học, mời hướng dẫn tham quan văn hóa cho đoàn các nhà khoa học đến Huế tham dự Hội nghị Cơ học toàn quốc lần thứ ba. Đoàn gồm có các nhà khoa học Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Đình Trí, Nguyễn Đình Ngọc, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu. Sau khi nghe tôi thuyết trình về vườn nhà An Hiên, tôi được Giáo sư Tạ Quang Bửu phong cho cái danh hiệu «Kỹ sư văn hóa» - một danh hiệu quá lạ đối với tôi. Nhà khoa học Nguyễn Văn Đạo thay mặt đoàn viết vào sổ lưu niệm An Hiên mấy dòng: « Đoàn của hội nghị có học toàn quốc lần thứ ba đến thăm vườn bác Chi vô cùng phấn khởi thấy vườn tổng hợp có các cây ở miền Bắc, miền Nam và ở đây. Và mặc dầu hoàn cảnh rất khó khăn. Bác Chi đại biểu quốc hội và gia đình đã cố gắng bảo vệ phát triển. Xin chúc vườn phát triển mạnh mẽ hơn nữa và đạt nhiều thành tích rực rỡ mới và dồi dào sức khỏe (7-8-82). Trước đó, An Hiên đã đón nhiều đoàn lãnh đạo, trí thức trong và ngoài nước, nhưng lần đầu đoàn các nhà khoa học (cơ học) nầy đã để lại cho bà Nguyễn Đình Chi một lời chúc gây ấn tượng nhất. Bà tâm sự với tôi: «Cái vườn nhà nầy không là gì đối với thiên hạ, nhưng nó còn giữ được cái hồn Huế cho dân mình. Gìn giữ cho đời sau và phát huy giá trị văn hóa của vườn nhà An Hiên là hạnh phúc của cô những năm còn lại của đời mình. Có các nhà văn yêu quý văn hóa Huế như các anh cô rất yên tâm».    

Bạn vong niên của bà lúc ấy khá đông: Tiến sĩ Lê Văn Hảo, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tiến sĩ Cao Huy Thuần (Pháp), Tiến sĩ Thái Kim Lan (Đức), Nhà văn Tô  Nhuận Vỹ, ông bà bác sĩ Dương Đình Châu và vợ chồng tôi.v.v. Riêng tôi có nhiều mối liên hệ với bà như cùng là đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu (bà có Pháp danh Tâm Hải, tôi Pháp danh Tâm Hằng), thời kháng chiến cùng hoạt động với danh nghĩa trong Mặt trận Liên Minh; đặc biệt tôi là bạn rất thân của nhiều người cháu của bà (Nga My, Song Xuân, Nguyễn Đình Châu)… Nhiều người nghĩ vợ chồng tôi là con nuôi của bà. Do đó chuyện lớn (sửa nhà, xây lăng mộ cho người thân), chuyện nhỏ (nhận sự liên lạc thư từ của nhiều người cháu bà từ Âu, Mỹ gởi về) trong nhà bà đều trao đổi với tôi.

Chuyện bà trao đổi với tôi kéo dài trong nhiều năm là chuyện tương lai của Nhà vườn An Hiên sau khi bà qua đời. Bà cho biết nhà vườn này nguyên là phủ An Hiên của ông Phạm Đăng Thập[7] thường gọi là ông Hường Thập - cháu bà Từ Dũ (thân mẫu của vua Tự Đức) tạo lập từ cuối thế kỷ XIX. Đầu thế kỷ XX, ông Hường Thập để phủ lại cho ông Tùng Lễ để về làm Giám thủ nhà thờ Đức Quốc Công[8] Phạm Đằng Hưng. Ông Tùng Lễ là một cự phú, có nhiểu ruộng đất, nhà cửa. Người thuê mướn ruộng đất, vay nợ của ông ở khắp các tỉnh Trị Thiên. Đến một năm ông bệnh nặng và nghĩ mình không qua khỏi, ông cho mời tất cả con nợ của ông về An Hiên. Ông nhóm một đống lửa ngay trước nhà (nơi xây hồ sen ngày nay). Ông mời các con nợ ngồi chung quanh đống lửa rồi ông đem hết giấy tờ nợ tiền, nợ đất, nợ ruộng ra đọc. Các con nợ hoảng hồn. Họ nghĩ ông gọi đến đòi nợ bất ngờ như thế nầy  lấy tiền đâu mà trả! Có người khóc. Đọc mớ giấy tờ quan trọng xong, ông nói : «Tôi tuổi đã lớn, không chắc còn sức khỏe để đòi nợ các ông các bà nữa. Hôm nay tôi mời các ông các bà đến đây để tôi báo cho các ông các bà biết: Tôi biếu hết đất, ruộng, tiền nợ các ông bà đang giữ của tôi». Nói xong ông ném hết mớ giấy nợ vào đống lửa. Trong phút chốc sự giàu có của ông biến mất với ngọn lửa. Quá bất ngờ, các con nợ của ông có người mừng quá phá lên cười, có người mừng lại quá xúc động khóc, có người niệm danh hiệu Phật rống lên rồi sụp lạy lia lịa cám ơn ông. Xóa nợ xong ông lại  rao bán nhà vườn An Hiên luôn.

Năm 1936, bà và phu quân là ông Tuần vũ Nguyễn Đình Chi đi tìm mua một ngôi nhà để an dưỡng tuổi già. Nghe người ta kể chuyện nhân đức của người chủ khu vườn nhà An Hiên như thế, ông bà rất mừng và quyết định mua khu vườn nhà ấy để được sống tiép trong sự nhân đức ấy. Cái gốc của ngôi vườn nhà là sự nhân đức cho nên bà muốn tương lai của khu vườn nhà An Hiên cũng phải là một biểu hiện của sự nhân đức, không của riêng ai.

 Ban đầu, với nhiệt tình cách mạng sẵn có, qua nhà thơ Huy Cận - Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, bà quyết định tặng cho Bộ Văn hóa Thông tin để làm một di tích nhà vườn ở Huế. Nhà thơ Huy Cận nhận lời ngay và hứa sẽ cử cán bộ vào Huế làm thủ tục hiến nhà cho bà. Nhưng rồi nhà thơ Huy Cận quên mất lời hứa. Gặp lại nhà thơ, bà nhắc chuyện thủ tục hiến nhà, nhà thơ xin lỗi bà và ghi lại trong sổ lưu niệm rằng : 

Thăm An Hiên, thăm chị, thăm bà

Mới hay thủ tục hiến nhà chưa xong

Vội ghi xác nhận mấy dòng

Mong rằng việc hiến đúng lòng bà Chi

Nước non, non nước yên vì

Hiến nhà vì nước, còn gì đẹp hơn!

Huy Cận

(Cùng đến thăm chị Chi với anh Thân Trọng Ninh)

Nhà thơ Thanh Tịnh nghe chuyện ấy bèn kêu lên:

-“May quá, nếu không thì An Hiên đã được bố trí cho vài ba gia đình cán bộ văn hóa Bình Trị Thiên đến đây ở thì bây giờ An Hiên đã trở thành Loạn Gia rồi!”. Ông cười tủm tỉm nói tiếp với bà chủ nhân An Hiên -“Bây giờ người ta lấy nhà công để chia nhau, biến thành nhà tư, sao chị lại còn đem của tư sung công? Dân Huế chúng tôi xin cám ơn nhà thơ tác giả Lửa Thiêng đã quên gởi người vào làm thủ tục hiến An Hiên!” 

Nghe lời bàn của nhà thơ Thanh Tịnh, bà hoang mang rồi viết thư gởi nhà thơ Huy Cận xin rút lui ý kiến hiến nhà cho bộ Văn hóa Thông tin. Chuyện ấy có tiếng vang tốt. Ni cô Minh Bảo đến gợi ý với bà nên sử dụng An Hiên làm một ngôi chùa nữ ở Bắc sông Hương. Bà đáp :“Chuyện nầy tôi chưa hề nghĩ tới, xin Ni cô cho tôi suy nghĩ rồi sẽ trả lời sau!” Sư cô Minh Bảo chờ. Sau một thời gian suy nghĩ bà gọi tôi và nói như tâm sự:

-“Thành phố Huế đã có quá nhiều chùa sư nữ rồi, có thêm một ngôi sư nữ nữa thì cũng không có gì thay đổi. Nhưng ở Huế vẫn rất thiếu những ngôi nhà vườn di tích tiêu biểu của đời sống văn hóa Cố đô xưa. Vì thế chắc cô phải đề nghi với Sư cô Minh Bảo nên tìm một nơi khác....mà lập chùa. Anh là Phật tử, anh nghĩ  như thế nào?”

  Tôi nói ngay:

-“Thưa cô, con còn là một nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế nữa. Con xin giơ hai tay ...bảo vệ ngôi nhà vườn tiêu biểu của văn hóa Huế nầy!”

Bà nở một nụ cười vui bảo tôi:

-“Các anh giúp cô giữ cho được ngôi vườn nhà nầy cho Huế. Được vậy cô mừng lắm!”

Tôi liền nghĩ đến các trí thức văn nghệ sĩ bạn vong niên của bà. Chắc chúng tôi phải lập một cái hội hay một cái Câu lạc bộ bạn của An Hiên để giúp bà quản lý và phát huy giá trị văn hóa của ngôi nhà vườn nầy. Nhưng rồi bất ngờ, một hôm bà bảo tôi:

-“Anh chị chưa có nhà[9], cô mời anh chị đưa gia đình lên ở với cô và giúp cô gìn giữ nhà vườn An Hiên sau khi cô qua đời!”.

Thật quá bất ngờ. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ thành phố để lên làm dân của làng Xuân Hòa cả. Nhưng nếu tôi từ chối ngay thì sẽ làm cho bà thất vọng. Tôi thưa:

-“Mấy cháu của con còn dại quá, chúng con chưa rời thành phố được. Xin cô cho tụi con được tính sau!”.

Bà gút lại:

-“Sau khi rút lui ý định hiến cho bộ Văn hóa, cô đã nghĩ đến các anh. Chỉ có những người biết yêu quý văn hóa Huế mới giúp được cho cô giữ cái vườn nhà nầy. Các anh đừng bỏ cô!”.

“Trời ơi, cô không hiểu con!” - Tôi thầm kêu lên. Tôi vốn là người sống tự do. Nhà cửa của ông bà cha mẹ để lại ở Đà Lạt, ở Dã Lê Chánh, tôi còn chưa bao giờ nghĩ đến, nhà cải tạo xã hội chủ nghĩa nhà nước cấp cho tôi[10], tôi còn bỏ của chạy lấy người, bây giờ làm sao tôi có thể ...! Tôi thưa với bà:

-“Cô là bà mẹ văn hóa của con, bao giờ con còn yêu quý văn hóa Huế con còn là thành viên của An Hiên, con còn gần cô. Cô yên chí bạn bè vong niên của cô đông lắm. Các anh chị - những người yêu Huế ấy, luôn ở bên cô.”

Tôi thưa như thế, nhưng bà vẫn không bỏ ý định mời gia đình tôi lên ở với bà. Mỗi khi chỉ có hai cô cháu, bà luôn đề cập đến việc sắp xếp cho gia đình tôi ăn ở tại An Hiên như thế nào. Năm 1886, nhân tôi tròn 50 tuổi (tuổi ta) bà tổ chức cho tôi một sinh nhật tại An Hiên. Bà cho mời nhà thơ Chế Lan Viên, nhà thơ Thanh Tịnh, nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, nhạc sĩ cổ nhạc Nguyễn Kế, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn Tô Nhuận Vỹ đến dự. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi có một sinh nhật, lại được tổ chức tại vườn An Hiên thơ mộng, khách mời có đủ các danh sĩ Trung Nam Bắc. Buổi tiệc sinh nhật trao đổi chuyện lịch sử văn hóa Huế hết sức thú vị[11].

Cho đên nay (2010) tôi chưa được hân hạnh có một sinh nhật thứ hai nào được đón tiếp những người quý trọng như thế. Hạnh phúc làm sao!

Được bà quan tâm, săn sóc chu đáo tôi đâm lo sợ. Sợ bà sẽ thất vọng khi biết sự miễn cưỡng của tôi. May sao, năm 1987, bà qua Pháp thăm gia đình và chữa bệnh, tôi dựng vội một ngôi nhà nhỏ trên miếng đất của ông bà nhạc dành cho vợ chồng tôi bên sông Thọ Lộc từ sau năm 1976. Nghe tin tôi vừa làm nhà mà không cho bà biết chắc chắn bà sẽ rất buồn và phiền trách vợ chồng tôi đã phụ lòng bà. Chuyện đó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bà. Để tránh được hậu quả, tôi phải nhờ anh Nguyễn Đình Châu - cháu đích tôn của ông anh cả của phu quân bà ở TP HCM và chị Song Xuân - cháu ngoại của ông anh thứ hai của phu quân bà ở Paris viết thư xin bà thông cảm cho hoàn cảnh của vợ chồng tôi. Nhờ thế, khi về lại Huế, bà thông cảm và không hề phiền trách vợ chồng tôi. Bà cho tôi đọc lá thư viết ngày 14-8-1987 của chị Hoàng Thị Song Xuân viết cho bà. Trong thư có đoạn viết: “...Ở xa chúng cháu rất lo Bà ở một mình. May có anh Đ.X. và C.Tú lên về với Bà, cháu rất mừng. Nhưng nghĩ lại thấy anh Đ.X. yếu ốm như vậy mà ngày ngày đạp xe lên xuống chịu gì nổi. [..] Cháu rất hiểu trường hợp Đ.X và C. Tú không dám dọn lên ở hẵn An Hiên vì sau nầy “Cuộc đời vạn thứ đổi thay” !!! thì họ sẽ bơ vơ. Mặc dầu cháu biết Đ.X và C. Tú kính mến Bà còn hơn ruột thịt.”

Tôi không chịu làm ông từ giữ vườn An Hiên, thế thì ai sẽ là chủ An Hiên sau nầy?  Là một người cầm bút sống giữa đời, tôi đã rất thấm thía với những việc bất thường về nhà đất. “Nhât hôn, nhì thổ, vạn cổ chi thù”. Tôi chỉ là một người bạn vong niên của bà Nguyễn Đình Chi, làm sao tôi có thể làm chủ ngôi vườn nhà An Hiên trước họ hàng nội ngoại của bà? Sau nhiều năm suy tính, tôi đề nghị bà viết di chúc giao vườn nhà An Hiên lại cho bà quả phụ Nguyễn Đình Ký - người dâu chính thức của phu quân bà. Lúc đầu bà do dự  vì bà Nguyễn Đình Ký đang định cư ở Pháp và bà không tin bà Ký có thể giữ vườn An Hiên làm một địa điểm văn hóa Huế như bà mong ước. Nhưng rồi không ai “ruột thịt” hơn bà Ký nên cuối cùng bà đã di chúc ngôi vườn nhà nhân đức lại cho bà Nguyễn Đình Ký (nhũ danh là Phan Thị Hoàng Oanh, sinh năm 1929) với điều kiện gìn giữ An Hiên là một di tích nhà vườn cổ của Huế. Và, bà Ký đã làm chủ nhà vườn An Hiên cho đến ngày nay.     

12. Manh nha Hội người yêu Huế tại Pháp và Hội đồng hương Huế tại Thành phố Hồ Chí Minh

Vào khoảng cuối mùa Xuân 1983, tôi lên An Hiên thăm bà gặp lúc nhà bà có một người khách Việt kiều. Bà khách Việt kiều lớn hơn tôi độ năm sáu tuổi. Bà con nội ngoại của bà ở nước ngoài rất đông cho nên tôi không ngạc nhiên chuyện nhà bà có khách. Giữ lịch sự tôi không tiện hỏi người đó là ai. Nhưng bất ngờ, như sực nhớ ta điều gì bà gọi tôi và giới thiệu người khách với tôi:

-“Đây là chị Hoàng Thị Song Xuân - Cựu nữ sinh Đồng Khánh, cháu ngoại ông Thượng[12], chị con cô ruột của Nga My[13] bạn anh đây. Song Xuân đang gặp rắc rối chuyện ở lại nhà cô. An ninh bắt Việt kiều phải ở khách sạn chứ không được ở nhà tư nhân. Song Xuân là cháu của cô nên cô không tiện xin giải quyết, anh ở Thành ủy anh gặp an ninh xin giúp cô đi!”

Tôi công tác ở Ban Tuyên giáo Thành ủy, nhưng chỉ là một cán bộ gốc đô thị  - một đối tượng an ninh cũng đang theo dõi, chả có vai vế chi mà giúp giải quyết được việc tạm trú của Việt Kiều ? Bà là đại biểu Quốc hội mà còn ngại huống chi tôi! Vì thế tôi tránh việc bà nhờ bằng cách bắt qua hỏi chuyện cô bạn Nga My của tôi hiện giờ ở nước ngoài ra sao. Như nối được với mạch Huế, chị Song Xuân kể chuyện chị em Nga My ở Pháp, ở Mỹ vui lắm. Nói thêm vài chuyện nữa thì tôi biết được chị Hoàng Thị Song Xuân còn có tên là Nguyễn Khoa Song Xuân. Chị là học trò cưng của thầy Phan Văn Dật, chắt nội của cụ Hoàng Diệu ở Gò Nổi Quảng Nam, chồng chị là anh Nguyễn Khoa Phồn - cháu đích tôn của bà Đạm Phương nữ sử ở Vỹ Dạ, anh em chú bác ruột với Nguyễn Khoa Điềm - Chủ tịch Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, “đòng chí đồng sự” của tôi. Biết được như thế tôi không còn ngại nữa nên hứa với bà :“Con sẽ thưa lại với anh Nguyễn Đức Hân-Chủ tịch UBND Thành phố Huế. Cô yên tâm!” Và, tôi đã làm việc đó. Ông Chủ tịch Thành phố không những đã can thiệp cho chị Song Xuân được ở lại vườn nhà An Hiên mà còn cho mượn chiếc xe Volga sang nhất của Thành phố để chị Song Xuân đi thăm bà con họ Nguyễn Khoa ở Huế và đị thăm bà con họ Hoàng ở Gò Nổi (Điện Bàn, Quảng Nam). Ông Hân đề nghị tôi  đi theo hướng dẫn cho chị Song Xuân. Tôi nhận lời để có dịp hỏi chị Song Xuân về Huế xưa. Tôi có được một chuyến tham quan họ Hoàng của cụ Hoàng Diệu ở Gò Nổi rất thú vị.

Sau đó, từ Đà Nẵng chị Song Xuân đi tàu bay vào TP HCM. Tôi nghỉ phép tại TP HCM, lại gặp chi Song ở nhà anh Nguyễn Đình Châu - người anh bên họ ngoại của chị, ở tại 214 Phân Đăng Lưu - Phú Nhuận. Anh Châu là cháu nội ông Cử Nguyễn Đình Miến, chị Song Xuân là cháu ngoại ông Phó bảng Nguyễn Đình Tiến. Ông Miến là anh cả của ông Tiến. Quen nhau ba bên bốn bề như vậỵ cho nên trong chốc lát tôi đã thân tình với anh Nguyễn Đình Châu ngay. Anh Châu tổ chức một bữa cơm cho chị Song Xuân gặp gỡ bạn bè của chị và bạn bè của tôi ở TP HCM. Bạn của tôi hôm ấy có họa sĩ Đinh Cường. Bà xã anh Châu (chị Nguyễn Thị Thanh) lai Ân Độ, rất thích làm từ thiện, chị theo nuôi các con đang du học bên Pháp, giao nhà cửa lại cho anh Châu. Nhà cửa rộng rãi, ở khá gần trung tâm Sài Gòn, chủ nhà tốt bụng nên từ đó nhà 214 Phan Đăng Lưu được xem như cái trạm liên lạc của những người yêu Huế ở nước ngoài với người yêu Huế trong nước. Sau đó không lâu, ông Phan Thanh Pha - UBMTTQVN Thành phố Huế và tôi vào TP HCM giúp ông Ngô Đống lập Hội đồng hương Thừa Thiên Huế ngay tại nhà 214 Phan Đăng Lưu. Trong buổi gặp mặt đầu tiên của Hội đồng hương hôm ấy có gia đình nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, gia đình nghệ sĩ Kim Cương. Nghệ sĩ Kim Cương lúc ấy là phu nhân của nhà báo Trần Trọng Thức bạn của tôi nên tôi giới thiệu “Nghệ sĩ Kim Cương là cô dâu của Huế”. Chị Kim Cương đã rất tế nhị cải chính nhẹ nhàng giữa cuộc họp đồng hương :“Tôi không những là dâu của Huế, tôi còn sinh ra ở Huế và tôi chính là một người Huế.” Đúng như vậy, sau nầy nghe thầy Vương Hồng Sển cho biết thân sinh chị Kim Cương là con trai vua Thành Thái. Chị Kim Cương không những là một người Huế mà còn phải nói là “Huế mệ” nữa mới đúng kia.

Từ đó công việc của Hội đòng hương Thừa Thiên Huế đều tổ chức tai nhà 214 Phan Đăng Lưu. Các bạn yêu Huế của chị Song Xuân ở Pháp về, trước khi ra Huế đều đến găp nhau ở 214 Phan Đăng Lưu. Và, phần lớn những người đã ghé qua 214 Phan Đăng Lưu TP HCM, khi ra Huế thế nào họ cũng ghé thăm bà Nguyễn Đình Chi và vườn An Hiên.

Những người yêu Huế từ nhiều năm trước dự định tổ chức Hội Người Yêu Huế tại Pháp, nhưng chưa thực hiện được. Người đầu tiên về gặp Kỹ sư Nguyễn Hữu Đính - Chủ tịch UBMTTQVN Thành phố Huế đặt vấn đề thành lập Hội tai Paris là  Nha sĩ Bửu Điềm (phu quân của nữ nghệ sĩ Điềm Phùng Thị). Ông Chủ tịch UBMTTQVN TP Huế rất hoan nghinh và viết công văn khuyến khích việc lập Hội ở Pháp. Nhưng ông Bửu Điềm thất bại vì thời cơ chưa đến. Sau đó, nhân có lời Kêu gọi “Cứu vãn Huế” của UNESCO (cuối năm 1980), Kỹ sư Lê Huy Cận, bác sĩ Hoàng Thị Song Xuân, Tiến sĩ Võ Quang Yến, ông bà bác sĩ Lê Thái Cẩm Hà, ông bà Tiến sĩ Võ Bạt Tụy-Kim Ba, ông bà Tiến sĩ Trương Nguyên Trân v.v. liên lạc với nhau và Hội Người Yêu Huế hình thành do Kỷ sư Lê Huy Cận làm Hội trưởng. Chờ bà Nguyễn Đình Chi sang Pháp vào đầu hè năm 1984, Hội mới tổ chức ra mắt. Món quà từ Việt Nam bà mang sang tặng Hội Người Yêu Huế là 6 tập tạp chí Sông Hương (từ số 1[14] đến số 6). Bà đã từng được làm khách danh dự nhiều hội đoàn, nhưng chưa bao giờ bà cảm thấy vinh dự như lần bà được làm khách trong lễ ra mắt Hội Người Yêu Huế ở Paris năm ấy. Bà không phải là một thành viên của Hội, nhưng nhà cháu bà là Nguyễn Đình Châu ở 214 Phan Đăng Lưu - TP HCM và vườn nhà An Hiên của bà ở Huế được sử dụng như hai cái trạm liên lạc của Hội tại Việt Nam và tôi bổng trở nên người “đại diện” của Hội tại Huế. Buổi đầu Hội Người Yêu Huế đã bắc được một nhịp cầu lập nên mối quan hệ ngoại giao của chính quyền Thành phố Huế với nước Pháp. Qua sự vận động của Hội, chính phủ Pháp, nhiều hội đoàn phi chính phủ, nhiều cá nhân trong và ngoài Hội đã giúp Huế nhiều công trình lớn nhỏ rất có ý nghĩa trong đời sông xã hội  như điện Bình Điền, y tế cho dân Vạn Đò, Bệnh viện Kim Long, nhà trẻ, trùng tu di tích (Văn Thánh), giúp vốn phát triển chăn nuôi, sản xuất đồ thủ công, đón tiếp các vị lãnh đạo có dịp sang Pháp.v.v. Tất cả những dự án do Hội Người Yêu Huế vận động giúp hay Hội trực tiếp giúp đều có sự “giám sát” của bà nên rất có hiệu quả. Chưa bao giờ tình yêu Huế được thể hiện sâu sắc và biến thành vật chất có giá trị như thế. Sau nầy việc quan hệ Pháp-Huế đã bình thường, đời sống dân chúng Huế khá giả hơn, vai trò của Hội Người Yêu Huế đối với Huế không còn quan trong nữa. Tuy nhiên, những hoạt động giúp Huế của Hội Người Yêu Huế tại Pháp với sự ủng hộ nhiệt tình của bà Nguyễn Đình Chi không thể thiếu trong lịch sử buổi đầu hội nhập của Thành phố Huế thời gian sau ngày thống nhất Việt Nam.   

13. Vài chuyện thủy chung

 Ở gần bà nhiều năm, không bao giờ tôi nghe bà đề cập đến chuyện tình yêu. Bà rất nghiêm khắc chuyện vợ chồng phụ bạc nhau. Bà rất thương người cháu đích tôn của ông anh cả chồng bà, thế nhưng khi anh nầy lén phén với một cô học luật trẻ ở TP HCM đến thân bại danh liệt bà rất giận và bà cháu từ mặt nhau. Một người bạn khác của tôi đi hỏi một cô con gái của thầy tôi - cũng là đông nghiệp của bà ở trường Đồng Khánh, sau anh bạn tôi gặp một cô trẻ đẹp hơn, bèn đi trả lễ người đã ăn hỏi. Nghe chuyện nầy bà buồn hết sức và bảo tôi:

- “Từ nay anh đừng đem người bạn bạc tình của anh lên An Hiên nữa”.

Nhưng rồi, một buổi sáng dậy sớm uống nước trà với bà, nhân bàn chuyện viết hồi ký cho bà, tôi hỏi:

- “Từ ngày con được gần cô, khi nào con cũng chỉ được nghe cô bàn chuyện chung, chuyện yêu nước, chuyện văn hóa Huế...con chưa bao giờ được nghe cô kể chuyện riêng của cô cả. Thưa cô, làm người ai cũng có chuyện riêng, chuyện tình chứ! Lẽ nào..?”

Với giọng nói nghiêm nghị, bà bảo tôi:

- “Ai không có chuyện riêng, không có chuyện tình, nhưng chuyện tình của cô nó mỏng quá có gì mà nói!”

  - “Theo con, chuyện tình của cô chắc không mỏng đâu! Mỏng thì làm sao cô có thể sống trọn vẹn với nó cho đến tám chín chục tuổi như thế nầy!”.

Bà nhìn tôi rồi bảo:

-“Như có lần nào đó cô đã nói với anh: Đời cô sống với hai sự thủy chung: Thủy chung với chồng và thủy chung với Cách mạng giải phóng dân tộc. Chuyện thủy chung với cách mạng cô đã kể cho anh nghe nhiều lần rồi, có dịp cô sẽ kể chuyện thủy chung với ông Tuần!”

 Giữ lời hứa, sau đó qua câu chuyện gia đình, bà kể “chuyện tình” của bà cho tôi nghe, mỗi lần kể một mẩu, và những mẩu ấy kết lại trong ký ức tôi như sau:

Năm ấy ông Cử Nguyễn Đình Chi[15] vừa góa vợ, gà trống phải nuôi cậu con trai mới biết đi chập chững. Ông được bổ vào làm tri huyện An Nhơn (Bình Định). Hằng ngày, ông đi xe ngựa đến huyện đường ở phía tây bắc thành phố Qui Nhơn. Trên đường di có một tàng cổ thụ vươn ra đường tỏa bóng mát xuông một cái ghế dài bên cạnh có mấy cái gáo dừa úp trên một lu nước. Thấy lạ, một hôm ông dừng xe đứng lại xem. Đúng lúc ấy một khách bộ hành cũng trờ tới ghé đít ngồi vào cái ghế dài và cầm gáo múc nước uống. Uống xong người khách nhổm đậy tiếp tục đi mà không để lại một đồng xu cắc bạc nào và cũng không một lời cảm ơn gia chủ ở đâu đó ở trong nhà phía sau hàng rào dâm bụt. Ông mục kích cảnh khách bộ hành dừng chân uống nước nhiều lần. Hình ảnh giản đị ấy tự nhiên níu kéo sự chú ý của ông. Ông tự hỏi: Sao lại có một gia đình thương dân nghèo đến vậy? Một hôm ông đánh liều đánh tiếng gọi người trong nhà ra cho ông hỏi thăm. Một bà mẹ bước ra thấy khách khăn đóng áo dài hỏi một cách lịch sự liền niềm nở mời khách vào nhà. Gia đình chỉ có một bà mẹ goá với năm sáu cô con gái[16] sống bằng nghề nhồi gối nệm bông gòn. Mặt mày cô nào cũng xinh xắn nhưng áo quần tóc tai dính bông gòn trắng xoá. Hỏi ra mới biết đây là gia đình của cụ Đào Thái Hanh - tham biện Viện Cơ mật, nổi tiếng giỏi chữ Hán và chữ Pháp triều Duy Tân, tác giả tập Ái Châu Danh Thắng, cụ mất năm Duy Tân khởi nghĩa (1916). Biết chuyện, ông huyện hềt sức xúc động. Gia đình một quan Tham biện mà nghèo đến thế sao! Từ đó ông hay lui tới giúp đỡ cho gia đình. Gia đình biết quan huyện đang góa vợ và phải nuôi con dại nên gã cho ông huyện cô con gái thứ hai là Đào Thị Xuân Oanh (sinh năm 1903). Sau đó ông huyện được cất nhắc lên làm Tuần vũ Quảng Ngãi. Ông Tuần xem gia đình bên vợ như gia đình mình. Ông đài thọ cho hai người em út là Đào Thị Xuân Yến (sinh năm 1909) và Đào Thị Xuân Nhạn (sinh năm 1910) ra ở nội trú học trường Đồng Khánh Huế. Nhưng không may, hương lửa hạnh phúc chỉ được mấy năm, bà Xuân Oanh qua đời và được táng trong khuôn viên chùa Thiên Ấn nhìn xuống sông Trà Khúc. Ông Tuần hết sức đau đớn. Cảnh gà trống nuôi con lại tái diễn. Năm 1933, cô Xuân Yến đỗ Tú tài - người phụ nữ  Trung Kỳ đầu tiên có bằng Tú Tài. Nhiều quan lại trẻ, trí thức Hà Thành và Kinh đô Huế muốn được xe tơ kết tóc với cô Tú. Nhưng, dù ông anh rể chưa bao giờ ngỏ ý nhưng cô Tú muốn thay người chị vắn số trả ơn cho ông anh rể đã cưu mang gia đình cô. Cô Tú Đào Thị Xuân Yến trở thành bà Tuần Chi từ năm 1934. Và, cũng năm ấy ông bà trở thành nhiệp chủ nhà vườn An Hiên. Có nhà riêng nhưng không mấy khi ông bà được ở An Hiên. Ông được đổi ra làm Tuần vũ Hà Tĩnh rồi Tuần vũ Quảng Trị. Năm 1940 ông bị bệnh phải ra Hà Nội chữa. Năm 1941, ông qua đời ở Bệnh viện Saint Paul. Cô Tú đưa thi hài ông về làng Chí Long, xã Phong Chương. Lễ tang ông Tuần được tổ chức tại nhà ông anh cả Nguyễn Đình Miến và an táng ở quê nhà Chí Long. Cô Tú sống hạnh phúc với chồng chỉ trên năm năm. Làm quả phụ khi mới trên 30 tuổi. Thủ tiết thờ chồng, nuôi nuôi mẹ, nuôi con chồng[17] và một người con nuôi[18] ăn học cho đến tuổi trưởng thành.

Nhân một hôm được xem tập ảnh cũ của bà, thấy cô giáo Đào Thị Xuân Yến chụp ở trường Đồng Khánh đầu những năm bốn mươi, mặc áo dài duyên dáng, đẹp như một người mẫu. Những tấm ảnh đầu những năm năm mươi - bà Hiệu trưởng trường Đồng Khánh - một mệnh phụ nghiêm nghị mẫu mực, người phụ nữ tiêu biểu của xứ Huế thời ấy. Tôi buộc miệng hỏi bà:

-“Lấy chồng chỉ được hơn năm năm, chồng chết, mới trên ba mươi tuổi cô đã phải ở góa. Một người trẻ đẹp, có học thức cao, chưa có con,  cô không tính đi bước nữa sao?”

Với giọng hết sức tha thiết, bà tâm sự:

-“Cô lấy ông Tuần vì sự kính trọng, lấy để bù đắp nỗi mất mát hạnh phúc gia đình của ông, để giúp ông nuôi người con nối dõi tông đường. Lấy ông Tuần để trả ơn ông đã cưu mang gia đình cô. Cô phải chung thủy trọn đời cho cái nghĩa ấy. Tuy nhiên, nếu cô muốn tái giá thì cũng khó có người ...Nhờ thế mà cô giữ được sự thủy chung với chồng. Cũng như sau nầy cô giữ được sự thủy chung với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vậy!” 

14. Nhánh tùng vườn An Hiên

Trước đây, từ cầu Lòn đi lên hay từ làng Nguyệt Biều đi xuống bên bờ nam sông Hương, ngước nhìn lên cái không gian mênh mông xanh ngắt giữa làng Kim Long và chùa Thiên Mụ bên bờ bắc sông Hương, ta thấy một ngọn tùng bách tán sum sê vút lên giữa trời xanh. Cái ngọn tùng ấy đánh dấu nơi có vườn An Hiên của bà Tùng Chi giữa ngôi làng cổ Xuân Hòa. Năm 1986, Thành phố Huế nổi lên Bão số 8, cái ngọn tùng trăm năm hiếm có ấy bị giật đổ. Tôi lên thăm An Hiên thấy chủ nhân đang đứng xem dân làng giúp bà đẵn cây tùng cổ ra hàng chục khúc. Thật ngao ngán. Bà chủ thương tiếc, mặt buồn rười rượi. Tôi chia sẻ sự thiệt hại với bà:

- “Mỗi lần nhìn thấy cái ngọn tùng nầy con nhớ đến cô. Nay trồng lại không biết đến bao giờ mới được như cây nầy!”

Bà biết ý, phân trần:

-“ Cô chỉ ước là một nhánh của cái tán tùng nầy thôi mà cũng đã quá khó với gió bão miền Trung nầy rồi!”.

Cho đến khi cây tùng bách tán gãy tôi mới hiểu rõ cái biệt hiệu “Tùng Chi” của bà. Nó không liên quan gì dến danh xưng “Tuần Chi” như tôi đã nghe mấy chục năm trước. Không. Bà không phải là một nhánh mà thật sự bà là cả cái tán tùng cao vút ấy. Cái tán nầy không những giúp định vị nơi tọa lạc của vườn An Hiên và trong khía cạnh nào đó nó đã góp phần định hướng cho cuộc đời cầm bút nghiên cứu văn hóa Huế của tôi. Bà đã trồng được trong tâm trí tôi một ngọn tùng. Ý nghĩ đó giúp tôi yên tâm: Cây tùng bách tán trong vườn An Hiên đã gãy, nhưng quá khứ của nó đã tỏa bóng ươm mầm, để lại hàng chục ngọn tùng trong sự nghiệp cầm bút của bạn bè lứa tuổi tôi. Giả như rồi đây An Hiên sẽ trở thành một Động tháp ngạo nghễ bên sông Hương, người đời sau vẫn nhớ Huế một thời đã có bà Tùng Chi-vườn An Hiên. Ý nghĩ ấy đeo đẳng trong tâm trí tôi không rời. Tôi bắt chước cụ Nguyễn Du mà ngâm rằng:    

Mai sau dù có bể dâu

Cảnh  xưa có mất còn câu chuyện nầy

Tặng em để cùng tưởng nhớ bà.

                                                    Huế, tháng 8-2010

                                                                Nguyễn Đắc Xuân


[1] Bà Nguyễn Đình Chi, nhũ danh Đào Thị Xuân Yến, quê nội ở Sa-déc Nam Bộ. quê ngoại ở  Bình Định, ra đời ở Thành phố Qui Nhơn (1909), đỗ Tú tài năm 1936, Hiệu trưởng trường nữ Trung học Đồng Khánh Huế (1952-1955, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ CHMNVN (1969-1976), Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bình Trị Thiên, đại biểu Quốc Hội các khóa VI, VII, qua đời ngày 29-6-1997.

[2] Nga My là cháu nội cụ Phó bảng sĩ Nguyễn Đình Tiến, người làng Chí Long Phong Điền - anh thứ hai của ông Tuần vũ Nguyễn Đình Chi. 

[3] Tên thường gọi của Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Thành phố Huế

[4] Nhờ buổi gặp gỡ ấy mà sau ngày thống nhất (4-1975) Việt Nam, tôi có dịp hỏi chuyện và thực hiện được nhiều ghi chép quý như bài Ba lần được gặp Cụ Hồ Chí Minh của Hòa thượng Thích Đôn Hậu và bài Vinh dự lớn lao của bà quả phụ Nguyễn Đình Chi. Hai ghi chép nầy đăng trên nhiều báo chí và cuối cùng được in lại trong tâp Hồi ký Bác Hồ Trong Lòng Dân Huế, (Thành ủy Huế xuất bản, năm 1990).

[5] 1. Histoire de la Déesse Thien Y A Na (Sự tích Thiên Y A Na Thánh Mẫu) 2. La Déesse de Lieu Hanh (Thánh Mẫu Liễu Hạnh),  3. Histoire de la Déesse Thai Dương Phu Nhơn (Sự tích Thánh Mẫu Thai Dương Phu Nhơn); 4. Histoire de la Déesse Kỳ Thạch Phu Nhơn (Sự tích Thánh Mẫu Kỳ Thạch Phu Nhơn).

[6] Pháp danh của bà Nguyễn Đình Ch-Đào Thị Xuân Yến

[7] Ttheo “Khâm tu Phạm Đăng Thị Bính Chi Phổ’’, Phạm Đăng Thập tên tự là Nhã Khánh, con ông Phạm Đăng Truyền và bà Lê Thị Ái sinh ngày 25-4 năm Quý Sửu (1-6-1853) và mất ngày 15-2 năm Quý Sửu (22-3-1913) làm quan đến chức Triều Liệt đại phu Quang Lộc Tự Thiếu Khanh

[8] Nhà thờ Đức Quốc Công hiện nay vẫn còn ở đầu phía tây cầu Kim Long ( tên gốc là cầu Bach Hổ).

[9] Lúc ấy tôi đang ở một cái phòng xép trong ga-ra cơ quan Thanh ủy, 15 Lý Thường Kiệt.

[10] Sau 30-4-1975, tôi được cấp 1/3 Biệt thự 20 Lý Thường Kiệt (2/3 kia cấp cho ông Trần Duy Ưu và Lê Văn Thông), ở đó một thời gian tôi biết Biệt thự ấy cải tao của ông Bửu Thận, tôi bỏ don nhà vào ở gara xe nhà 108 Mai Thúc Loan của nghệ sĩ Vinh Tuấn trong Thành nội. 

[11] Trong bữa tiệc nầy tôi kể chuyện sau ngày 30-4-1975, trước khi về Huế chị Ngọc Trai đưa tôi và nhà thơ Võ Quê ssến thăm ông Tố Hữu” ở đường Phan Đình Phùng. Ông Tố Hữu biết tôi quen với nhạc sĩ Phạm Duy và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nên ông bỏ tôi: -“Đất nước thống nhất rồi, Xuân vào Sài Gòn nói với các anh Phạm Duy, Trịnh Công Sơn hãy cứ ở đó chứ đừng đi đâu cả. Anh Phạm Duy tiếp tục sáng tác đi. Lấy khúc đầu (kháng chiến) nối với khúc đuôi (hoà bình), để khúc giữa qua một bên!” Anh Chế Lan Viên cho biết “anh Tố Hữu” cũng đã nói với Giáo sư Trần Văn Khê như thế nhưng không rõ Giáo sư Trần đã nói lại với Phạm Duy hay chưa (!) Sau buổi gặp mặt ở vườn An Hiên, anh Chế Lan Viên ngồi tại nhà khách 2 Lê  Lợi Huế viết bài “Lá Rụng Về Cội” và đăng vào tạp chí Sông Hương (số 21/ tháng 9 và 10/1986, tr.5). Năm 2000 tôi cùng với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, ca sĩ Ánh Tuyết đến thăm anh Phạm Duy tại Khách sạn Continental TP HCM, tôi kể lại lời “anh Tố Hữu” dặn tôi năm 1975. Anh Phạm Duy cho biết anh đã đọc được ý kiến đó qua bài viết của Chế Lan Viên.                                               

[12] Tức cụ  Phó bảng (1904) Nguyễn Đình Tiến - anh ruột cụ  Cử nhân (1912) Nguyễn Đình Chi

[13]  Tức bà Huyễn Yến con gái cụ Thượng Tiến, chị ông Tú Nguyễn Đình Ninh -thân sinh của Nga My

[14] Số 1 tạp chí Sông Hưong ra đời từ tháng 6-1983, hai tháng ra một số do nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm  làm Tổng biên tập.

[15] Nguyễn Đình Chi sinh năm 1888, đỗ Cử nhân năm 1912 (triều Duy Tân),

[16] Sáu cô con gái con cụ Đào Thái Hanh: Cô Xuân Hường (1900, sau lấy ông Bố chánh Nguyễn Thúc nên thường gọi là bà Bố), Xuân Oanh (1903, sau lấy ông Nguyễn Đình Chi và mất sớm), Xuân Hạc (1904, sau lấy ông Đốc học Nguyễn Vỹ, thường gọi là bà Đốc), Xuân Hiệp (1905, sau lấy ông Nguyễn Quốc Tuấn), Xuân Yến (1909, sau làm vợ thứ ba của ông Tuần vũ Nguyễn Đình Chi, thường gọi là bà Tuần Chi) và Xuân Nhạn (1910, sau lấy ông An sát Trương Như  Hy thường gọi là bà Án Trương hay bà Án Hy).

[17] Anh Nguyễn Đình Ký (1919-1981)

[18] Cô Nguyễn Thị Hoài Nam, (sinh năm 1936), lai Tây, một nữ sinh đẹp nổi tiếng của trường Đòng Khánh Huế những năm năm mươi Thế kỷ trước. Sau cô lấy ông Trần Văn Trung - một vị tướng của Quân đội VNCH.  

 

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123