Phần 2: Với An Hiên

Nhà vườn An Hiên

Nhà nghiên cứu Trần Duy Thanh 

Di tích vườn An Hiên tọa lạc tại thôn Xuân Hòa, xã Hương Long, ở khu vực tả ngạn sông Hương thuộc ngoại ô thành phố Huế. Nhà rường này nguyên là phủ An Hiên do ông Phạm Đăng Thập xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, theo “Khâm tu Phạm Đăng Thị Bính Chi Phổ’’, ông Phạm Đăng Thập tên tự là Nhã Khánh, con ông Phạm Đăng Truyền và bà Lê Thị Ái sinh ngày 25-4 năm Quý Sửu (1-6-1853) và mất ngày 15-2 năm Quý Sửu (22-3-1913) làm quan đến chức Triều Liệt đại phu Quang Lộc Tự Thiếu Khanh. Đầu thế kỷ XX, ông Thập để phủ lại cho ông Tùng Lễ về làm giám thủ nhà thờ Đức Quốc Công[1]. Năm 1934 ông Tùng Lễ bán lại cho ông bà Tuần phủ Nguyễn Đình Chi và Đào Thị Xuân Yến.

Sau khi mua lại phủ ấy, ông bà Tuần phủ Nguyễn Đình Chi giữ lại tên cũ An Hiên và toàn bộ các công trình kiến trúc đã có. Năm 1940 ông Nguyễn Đình Chi mất ở Hà Nội. Từ đó, bà Nguyễn Đình Chi về sống tại An Hiên và chú tâm kiến tạo nơi đây thành một nhà vườn xinh đẹp, độc đáo. An Hiên vì vậy đã gắn liền với tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp của vị chủ nhân là một nhà hoạt động chính trị xã hội tích cực, một nhân sĩ trí thức yêu nước có nhiều công lao đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.

Nhà vườn An Hiên xây dựng trên lô đất có diện tích là 4.608m2, mặt nhìn về hướng Nam, phía trước có sông Hương chảy ngang, bao gồm nhiều kiến trúc dân dụng lớn nhỏ, chính phụ khác nhau nằm trong một tổng thể cảnh quan hài hòa có nhiều ý nghĩa và được bố trí, sử dụng làm nơi ở, sinh hoạt, làm việc, thờ tự và nghỉ ngơi, di dưỡng tinh thần. Từ ngoài vào theo trục Nam Bắc, khu vườn nhà có các công trình được xây dựng theo thứ tự sau: bến nước, cổng và hàng rào, sân và bồn hoa, bình phong, hồ nước, nhà thờ chính, nhà ở và nhà bếp, vườn nhà, trong đó đáng lưu ý là các công trình sau:

- Cổng: ra vào An Hiên có một cổng chính hình vòm quay mặt ra sông Hương, rộng 1,82m, cao 4,96m, lòng cổng 2m, xây bằng gạch vôi vữa, tường quét vôi màu xám tro, nóc mái trang trí hình hổ phù, hai bên có hoa văn cách điệu. Chính giữa cổng, ở mặt ngoài bên dưới mái là bức hoành cuốn thư đắp nổi ốp tường có biển ngạch đề 2 chữ Hán “An Hiên” khảm sành hai màu xanh, trắng trên nền tường đen. Phía trên hai bức hoành còn có hai con dơi nằm đối xứng sải chách nhìn xuống cổng Sát dưới bức hoành là hình hổ phù không ốp tường, nhiều màu sắc, dáng thanh thoát, nhẹ nhàng đặt nằm trong hình bán nguyệt 2 bên có hoa văn đối xứng. Tả hữu cổng có 2 cột thẳng hình tròn ốp tường đỡ mái, mũ trụ và chèn cột có chạm hoa văn và ô hộc. Nằm giữa hai trụ và sát lối ra vào có 2 con dơi sãi cánh nhìn xuống cổng miệng ngậm câu đối bằng chữ Hán khảm sành màu xanh viết trên tàu lá chuối thả dọc theo cổng đọc được như sau:

            Bình Sơn ái đãi vân thiên đóa,

            Hương Thủy trừng ngưng nguyệt nhất huyền

Tạm dịch là:

                        Bình Sơn mờ mịt mây nghìn đóa

                        Hương Thủy trong veo nguyệt một vầng

Hai bên cổng có 2 đoạn thành, mỗi bên dài 2m, cao 2m, dày 0,45m, ngoài cổng thành có trụ vuông cao 2,50m. Tiếp giáp bờ thành với cổng ở 2 phía tả hữu có hai con lân nằm uốn khúc trườn mình về phía trước quay lui nhìn hướng cổng. Thân lân đắp vỏ sò, vỏ ốc có kích cỡ đều đặn. Đuôi và chân khảm sành. Cổng có 2 cánh cửa gỗ lim chắc chắn khép mở dễ dàng.

- Bình Phong: Từ cổng chính đi theo con đường đất dài 34m sẽ thấy bức bình phong lớn nằm uốn mình hơi chếch về hướng tây che chắn nhà thờ chính. Đây là một bức bình phong có dáng vẻ riêng đặc biệt ít thấy ở các công trình kiến trúc cổ khác tại Huế. Bình phong xây bằng gạch, quét vôi màu tro, cấu trúc dạng cuốn thư cách điệu, chiều cao ở giữa là 2,80m, hai bên 2,50m đặt nằm trên đế có trang trí hoa văn. Tiếp giáp bình phong là hai đoạn thành uốn mình từ sau ra trước dài 2,75m, cao 1,32m, ngoài cùng có 2 trụ vuông cao 2,38m đỉnh trụ có hộp đèn và bình rượu.

Chính giữa bình phong có trổ chữ Thọ, hai bên trỗ chứ Song Hỷ và đều được đúc theo lối chữ triên nằm trong 3 ô lớn khoét tường. Hai đoạn thành nằm sát bên cũng có trổ hoa văn chữ thập khoét rỗng tường nối tiếp nhau. Chính nhờ điều này nên bình phong tuy cao lớn và dài nhưng vẫn tạo cảm giác thông thoáng và làm giảm sự ngăn cách giữa sân vườn. Mặt ngoài bình phong ở hai bên chữ Thọ có câu đối bằng chữ Hán viết màu sơn đen trên nền đỏ đọc được như sau:

                        Xuân Thủy liên vân nhạn tân cạnh độ

                        Hòa phong nhập thụ hoa tín tài văn

Tạm dịch:

                        Mây rợp sông xuân chập chờ nhạn liệng

                        Cây vờn gió nhẹ thoang thoảng hoa đơm

- Sân, bồn hoa,hồ nước và vườn nhà: bao quanh 4 mặt và xen kẽ với các công trình là là sân trước và vườn nhà rộng rãi, dịu mát. Đây là khu vực quan trọng nhất và chiếm diện tích nhiều nhất trong tổng mặt bằng nhà vườn An Hiên. Từ cổng vào vườn có một con đường đất bằng phẳng rộng 2,50m dài 34m vào sâu bên trong. Đến bình phong con đường chia ra 2 ngả Đông Tây. Ở hướng Đông, đường rẽ thành 2 lối, một lối vào nhà thờ chính, lối kia dẫn vào vườn. Ở phía Tây, đường cũng phân thành hai hướng như vậy. Nằm dọc song song hai bên con đường là 2 bồn hoa viền lề đá. Bồn hoa rộng 2m sát cạnh đường đi trồng 2 hàng cây thổ lan màu hồng và màu vàng nở hoa sáng đẹp. Nằm gần cổng bồn hoa bên trái là cây ngô đồng, đối diện bồn hoa bên kia là cây cẩn đỏ, tiếp đến hai bên 2 cây trắc, 2 cây anh đào. Từ đây trở vào là hai hàng cây hoa mai trắng nằm xen kẽ với bông trang vàng, tím, đỏ, đứng đối tước bình phong là 2 cây hải đường nở hoa đỏ say đắm, hân hoan, rực rỡ, nồng nàn làm cho con đường hiện ra như một bức tranh nhiều sắc màu tươi thắm. Bồn hoa mỗi bên còn có hai trụ đèn hình tứ giác mái uốn cong nằm trên trục đèn nhỏ tạo ánh sáng lung linh huyền ảo khi đêm về. Phân cách bồn hoa với vườn nhà là hai hàng chè tàu cao 1,20m được cắt xén thẳng hàng, tươm tất, tỉ mỉ. Tuy cao nhưng nó không quá rậm làm che tầm mắt của khách khi muốn ngắm nhìn sâu vào vườn cây.

Sau bình phong là hồ nước nhỏ , nước trồng bông súng nằm trước sân nhà thờ chính hồ 4 mặt đúc xi măng diện tích 38m2, sâu 1m, bờ thành hồ cao 0,32m. Bên góc phải phía trước có một trụ đèn cảnh và những cây có lót thân lá nhỏ nhưng mọc thẳng vươn cao. Lá và hoa súng nở vào buổi mai biến mặt hồ thành môt màu xanh dịu dàng gợi cảm. Trong hồ có các loại cá mại, cá cấn, bống mủ sinh sống. Nằm bên cạnh hồ nước là chiếc ghế đá xinh xắn phẳng phiu, 4 chân chạm khắc hoa văn dùng để ngồi thưởng ngoạn ngắm cảnh sân vườn trong những đêm trăng thanh gió mát.Trên sân nhà đúc xi măng và ở 3 mặt bao quanh bể ước là những bồn hoa, khóm hoa và cây cảnh đặc sắc. Bên phải sân là bụi hoa hường trắng, kế đến bồn hoa hồng mận và 2 cây bạch mai. Đối diện với bên kia sân là bụi hoa hường đỏ, tường vi trắng, mai trắng và hoa trà mi đơn sum xuê cành lá.Nơi đây là chậu bonsai trồng cây bồ đề, sánh và tóc tiên trên mỏ đá giá sơn, nọ là giàn hoa trồng hàng chục giò phong lan đủ loại như quế hương lan, nghinh xuân, trường kiếm, các hàng chậu cây hoa sói, lan ong, địa lan, thành tài, tri thu, các bồn hoa song thọ đào, trúc, mộc, bút tùng. Phần đất trống trên các bồn hoa này đều được phủ trồng cỏ xanh mơn mởn.

An Hiên là một khu vườn được tạo tập trên đất thổ có diện tích quy mô rộng lớn thích hợp cho việc nuôi trồng nhiều chủng loại cây trái khác nhau. Chúng nằm cân đối thành hàng hoặc trồng đan xen và được phân bố rải rác khắp nơi. Bên phải vườn trước, sau hàng cây chè tàu là các hàng cây phượng vĩ, trang vàng, hải đường, cây lưu niên ăn quả như mít,chuối, hồng xiêm,vải, đào ... v.v Đặc biệt ở đây có những cây mai vàng trên dưới 50 tuổi, những cây lê 18,20 năm và 3 cây hoa đào Nhật Bản vừa mới được ươm trồng. Bên trái vườn trước là các loại cây ăn quả như mãng cầu, măng cụt,dứa, thanh trà,quế, cam, chanh, đu đủ, các loài hoa trà mi,lan, đàm tiếu... Nổi bật nhất là cây hồng Tiên Điền già tuổi nhất trong vườn do cụ Nghè Mai, chắc nội của nhà thơ lớn Nguyễn Du tặng cho ông Nguyễn Đình Chi. Đây là giống hồng quý hiếm, hàng năm ra quả vào tháng 7, trái không có hột, mùi thơm ngon. Ngoài ra còn có giống cây măng cụt, đặc sản cây trái miền đông Nam Bộ. Qua các chủng loại, cây trồng hết sức phong phú và được bố trí hợp lý đã cho thấy An Hiên là một khu vườn tổng hợp  trong cái đa dạng của ba miền khí hậu, cây trái Bắc Trung Nam, một khu vườn không chỉ trang nghiêm, sang trọng mà còn bảo tồn  các hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên môi trường trong lành ổn định. Nhờ vậy đã giúp cho cây trái đặc sản quý hiếm từ miền Bắc vào như giống hồng Nghi Xuân, vải thiều Hưng Yên, từ trong Nam ra như thanh long, măng cụt, sầu riêng Lái Thiêu đều được thuận tiện thích nghi và ra hoa kết trái tươi tốt.

- Nhà thờ chính: là tòa nhà quan trọng nhất của nhà vườn An Hiên nằm sâu trong khu vườn được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Đây là một trong những ngôi nhà rường cổ tiêu biểu thể hiện rõ nét nghệ thuật xây dựng truyền thống của Huế dưới thời Nguyễn. Ngôi nhà có diện tích xây dựng là 153m2 làm bằng các vật liệu như gạch vồ, vôi vữa và kết cấu khung nhà bằng gỗ quý. Nền nhà lát gạch bát tràng cỡ 30x30cm, tường gạch 3 mặt và mặt trước hai chái dày 0,52m. Hai chái chia nhà làm 4 mái lợp ngói liệt. Các bờ nóc, bờ quyết chạy thẳng sắc cạnh rõ ràng. Nóc mái đắp nổi hình hoa sen. Hai bờ nóc hơi vênh lên có trang trí hoa văn.

Toàn bộ tòa nhà nằm ngang này có 48 cột gỗ khỏe chắc để mộc bào nhẵn và đứng song hành từng cặp tức trên chân đá tảng hình vuông cỡ 0,40x 0,40m. Hệ thống cột này có khả năng chịu lực lớn chống đỡ bộ khung nhà bằng gỗ lim. Các cấu kiện trong hệ khung gỗ liên kết bằng kỹ thuật lắp ráp rộng và kèo chồng chắc chắn, tháo lắp dễ dàng. Hàng cột ngoài cùng có 4 cột đỡ mái phụ đưa ra che mái hiên, bảo vệ khung nhà và làm cho ngôi nhà  thấy cao hơn. Loại hìh liên kết vì nóc ở đây thuộc kiểu vì kèo dân dụng biến thể đặc trưng của xứ Huế và miền Trung. Bộ vì kèo nằm bên dưới mái có 2 kẻ dài đan chéo nhau ăn mộng (đòn dông) rồi chạy dài theo chiều dốc của mái xuống đầu cột cái cái ở hàng nhất. Kẻ tiếp tục ăn mộng cột quán và xuống tận cột biên. Một cột trốn đứng chân trên chiếc đấu kê nằm trên đỉnh nối kết hai cột hàng nhất với vì kèo. Ở mỗi đầu trến và đầu kèo có chạm khắc hình ảnh hoa văn mây lá phong phú nhiều vẻ đặc sắc. Nối tiếp giáp giữa cột vòi và mái hiên trên các rui xà kèo cũ đều có các đồ án trang trí chạm trổ điêu khắc khéo léo, tinh tế.

Ra vào nhà chính ở hàng cột biên có 18 lá cửa thượng song hạ bản nằm trên xà ngưỡng cao. Ở gian giữa bên trên hàng cột nhất (cột cái) treo hai bức hoành kiểu cuốn thư, bức trước đề TRÁNG QUẬN QUẬN TRỌNG, bức sau cuốn thư có hoa lá thếp vàng đề VĂN VÕ TRUNG HIẾU với lạc khoan Bảo Đại Đinh Sửu đông (1937)

Nằm giữa các hàng cột cái và cột quân là các dãi liên ba chia thành ô hộc hình vuông, chữ nhật khắc chạm chữ thọ theo lối chữ hiện và các hoa văn trang trí. Dọc các liên ba là 2 dãy 12 tấm kính chép chữ thảo mấy bài thơ cổ, trong đó có Chính khí ca của Văn Thiên Tường thời cuối Tống. Dưới liên ba là thanh vọng có nách con bọ khảm xà cừ.

Gian giữa nhà thiết bàn thờ phật Thích Ca và bàn thờ gia tiên, hai cột trước gian thờ treo đối diễn chữ chân pha thảo:

Thử chí tại cao sơn lưu thủy

Kỳ nhân như thủy trúc bích ngô

Tạm dịch:

Chí ấy ở non cao nước chảy

Người kia như trúc biếc ngô xanh

Trong gian thờ có bức trướng gấm thêu câu đối:

            Hồng Lĩnh nãi Hà Bắc chi hùng, quốc tráng phiên hà tư trọng thọ;

            Long Cương thi ngộ châu chi thắng, gia liên phiệt duyệt xuất danh thần

Tạm dịch:

            Cõi Bắc có Hồng Lĩnh hào hùng, đất nước cõi bờ thêm trọng thọ

            Quê ta có Long Cương thắng cảnh, nếp nhà dòng dõi nẩy danh thần

Gắn bó với vùng đất Kim Long lịch sử, thủ phủ của Nam Hà , nhà vườn An Hiên đã kế thừa và phát huy  các nhà vườn được tạo lập từ các thế kỷ trước và đã thật sự trở thành hình mẫu nhà vườn có giá trị đặc trưng tiêu biểu và điển hình cho loại hình nhà vườn truyền thống Huế. Thật vậy, trong số hàng trăm nhà vườn còn tồn tại hiện nay ở các khu vườn thượng nguồn và hạ lưu sông Hương, ở ngoại ô và nội thị, nhà vườn An Hiên nhờ được săn sóc chu đáo, cẩn thận nên đã hiện sáng như một viên  ngọc quý và may mắn vẫn còn bảo lưu, gìn giữ khá nguyên vẹn kiến trúc và những nét đẹp truyền thống đầy tính nhân văn của một nhà vườn cổ kính đậm nét bản sắc văn hóa Huế bên dòng sông Hương Giang thơ mộng. Đó chính là nét đặc thù, độc đáo, riêng biệt của nhà vườn An Hiên và được thể hiện trước hết ở bố cục, kết cấu nhà vườn chuẩn mực: phía trước có sông, qua cổng là lối đi dài và sâu gây ấn tượng khó quên, tiếp đến là bình phong, rẽ lối có sân, bồn hoa, cây cảnh và hồ nước trong xanh rồi đến ngôi nhà rường cổ uy nghi nằm khuất khiêm tốn giữa khu vườn rộng rãi, thoáng mát rộn tiếng ve kêu, chim hót, ngát hương hoa trái ngọt trĩu cành.

Trong nhà vườn, các công trình kiến trúc cổ như cổng, bình phong, nhà rường đều có những nét riêng đặc sắc ít nơi nào có về mặt mỹ thuật trang trí điêu khắc, trong việc chọn lựa các vật liệu, chất liệu xây dựng và các hình ảnh mô típ trang trí, tạo dáng cho mỗi công trình. Tuy nhiên, những công trình kiến trúc ấy chỉ mới là một bộ phận của nhà vườn. Yếu tố quyết định có ý nghĩa lớn lao làm cho An Hiên có giá trị tiêu biểu đích thực và điển hình là ở chỗ nghệ thuật kiến trúc phong cảnh tổng quan nhà vườn, ở mối quan hệ gắn bó, phối trí tài tình, hòa quyện, điểm xuyết cho nhau giữa nhà và vườn, con người và tạo vật, giữa công trình kiến trúc và cảnh quan môi trường thiên nhiên, cảnh sắc kỳ diệu cỏ cây, sông hồ mây nước bao quanh. Đó là hai bộ phận chủ đạo tạo nên một khung cảnh, chính thể nhà vườn hòa nhập và toàn bích. Vì vậy, không lạ gì, khi bước chân vào nhà vườn An Hiên, ai cũng cảm thấy như được sống trong một vũ trụ thu nhỏ, một thế giới hữu tình riêng biệt, êm đềm, thư thái, nếp nhà, nếp vườn quy củ mà nên thơ, thanh bình và yên tĩnh đúng như ý nghĩa của tên gọi nhà vườn. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường dù nhiều lần đến thăm An Hiên nhưng vẫn cảm nhận “cứ thấy bị bất ngờ về những bí mật ấp ủ trong hoa trái” và ông đã phải thốt lên rằng “khu vườn đối với tôi vẫn mãi giữ sức hấp dẫn của một cuốn sách hay chưa đọc hết”                        

Trần Duy Thanh

 

Cuộc bãi khóa tháng 4-1927 của học sinh hai trường Quốc Học và Đồng Khánh 

qua hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Anh Diểu[1] và anh Giáp cùng sống trong ký túc xá, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, cùng trao đổi những điều suy nghĩ. Anh Giáp không ngờ thời điểm thi học kỳ là lúc mà thủ đoạn trừng phạt xảo trá của nhà trường đập vào anh Diểu, người mà hiệu trưởng và tổng giám thị cho là cầm đầu phong trào đòi ân xá cho Phan Bội Châu và để tang Phan Chu Trinh ở trường Quốc học.

Hôm ấy thi Toán. Anh Giáp ngồi bàn trước, anh Diểu ngồi bàn sau. Anh Diểu là học sinh giỏi và là người có tư cách, không bao giờ gian dối, nhưng giám thị coi thi một mực vu cho anh Diểu chép bài và đuổi anh ra khỏi lớp. Cả lớp la ó phản đối, nhưng anh Diểu vẫn bị đuổi ra.

Học sinh lớp Đệ nhị niên A thảo một lá đơn. Anh Giáp dẫn đầu đoàn học sinh lên gặp tổng giám thị. Harter ngạc nhiên:

-Kìa Võ Giáp! Trông anh đỏ như con gà trống! Tôi rất ngạc nhiên thấy anh trong hàng ngũ những học trò xấu!

Võ Giáp nộp đơn, Harter trả đơn. Một cuộc tranh cãi nổ ra.(tr.78)

Tin học sinh Nguyễn Chí Diểu vô cớ bị đuổi và tổng giám thị Harter bác đơn lan đi rất nhanh, học sinh toàn trường căm phẫn, đòi phải đấu tranh chống lại hành động đàn áp phi lý của nhà trường.

Anh Giáp bàn với anh Nguyễn Khoa Văn[2] phát động bãi khoá với khẩu hiệu:

-Không được đuổi học sinh Nguyễn Chí Diểu!

-Tự do đọc sách báo!

 -Chống giáo dục ngu dân!

Hai người đi vận động các bạn học cùng chí hướng. Ở các lớp từ Đệ tứ niên đến Đệ nhất (tr.79) niên, lưu truyền một mảnh giấy có ghi câu hỏi: “Có thuận bãi khoá không?”. Anh em đều hưởng ứng, hăng hái nhất là các anh Phan Bôi, Đỗ Quy.

Buổi học chiều 26-4-1927. 14 giờ. Học sinh vừa xếp hàng xong dưới mái “pờ-rê-ô” (Préau) lúc giám thị huýt còi vào lớp, thì học sinh lớp Đệ nhị niên A xếp hàng ở giữa không vào lớp. Cậu học sinh bé nhỏ Võ Giáp bước ra khỏi hàng hô lớn: “Bỏ học! Bỏ học! Phản đối việc đuổi Nguyễn Chí Diểu! Phản đối việc đàn áp học sinh!”.

Lời hô hào của anh Giáp được hưởng ứng. Học sinh lớp Đệ nhị niên A kéo về phía cổng trường, vừa đi vừa hô khẩu hiệu. Sân trường ồn ào hỗn loạn. Khối Đệ tam, Đệ tứ niên gồm những học sinh lớn của nhà trường đang di chuyển cũng dừng lại, rồi kéo theo ra phía cổng trường trước con mắt kinh ngạc của các giám thị. Cuộc bãi khoá bắt đầu. (tr.80)

Tin trường Quốc học bãi khoá để phản đối việc đàn áp học sinh lan nhanh sang trường nữ học Đồng Khánh. Hai trường cạnh nhau, chỉ cách một con đường hẹp. Đồng Khánh là trường nữ học duy nhất ở miền Trung hồi ấy. Nữ sinh Đồng Khánh xưa nay vốn yểu điệu thướt tha trong tà áo dài với mái tóc thề óng ả, gặp nam giới thì nghiêng che vành nón khiến cho “Học trò xứ Quảng ra thi, thấy o gái Huế chân đi không đành”, vậy mà lần này, Hương Giang nổi sóng, các nữ sinh Đồng Khánh xuống đường tranh đấu. Ấy là ngày hôm sau 27-4-1927, khi các học sinh Quốc học cử đại diện đến các trường để loan tin và vận động bãi khoá thì bọn cảnh sát xông đến ngăn cản. Xô xát xảy ra giữa nam sinh và cảnh sát tại con đường giữa hai trường Quốc học và Đồng Khánh. Một số nam sinh bị bắt và bị tống giam

Chị Đào Thị Xuân Yến (bà Nguyễn Đình Chi sau này) (tr.81) nữ sinh lớp Đệ tứ niên vận động chị em viết đơn gửi Khâm sứ Friès yêu cầu can thiệp không được đuổi học và bắt bớ học sinh. Chị kể lại trong Đặc san kỷ niệm 75 thành lập trường Đồng Khánh: “Viết đơn xong, cả lớp tứ niên sắp hàng tuần hành xuống Tòa Khâm, chị em mặc áo dài đen, quần trắng đi guốc dép, nón là gửi vào phòng Giám thị của chị Trần Thị Như Mân[3]”.

Chị Yến kể: Khi thấy các chị lớp Đệ tứ niên kéo ra khỏi trưởng, các em nữ sinh lớp dưới chạy theo:

-Các chị ơi, cho bọn em theo với!

Bà hiệu trưởng Boutron Damasy hoảng hốt ra lệnh đóng cửa trường. Nữ sinh các lớp dưới trèo tường chạy theo các chị.

Đoàn nữ sinh Đồng Khánh đi dọc theo đường Jules Ferry, nay là đường Lê Lợi. Bọn cảnh sát kéo đến. Một tên cò Tây mặt mày đỏ kè, nạt nộ mày tao với nữ sinh. Bỗng chị Minette (sau này là bà Đoàn Nồng) người nhỏ nhắn xinh đẹp tách ra khỏi hàng, ngước đôi mắt to nhìn thẳng vào mặt tên cò Tây, giọng nói thẳng thắn:

-Nầy, nầy, các ông không được tutoyer (mày tao) với chị em chúng tôi! Vô lễ! (tr.82)

Tên cò Tây bị bất ngờ, đành ngậm thinh.

Trong lúc nữ sinh Đồng Khánh xuống Tòa Khâm bên bờ nam sông Hương thì phía bờ Bắc, sinh viên trường Hậu bổ Quốc tử giám cũng xuống đường do các anh Ngô Võ Anh, Nguyễn Đình Diễn[4] dẫn đầu. Đoàn này đến đoàn khác, học sinh Bách Nghệ, trường Thuận Hoá cũng rầm rộ kéo đến. Các đoàn học sinh vây Toà Khâm[5] sứ đưa yêu sách.

Trong khi Đổng lý Văn phòng Toà Khâm ra nhận đơn và khuyên học sinh trở về học tập thì Khâm sứ Friès gọi lính và xe vòi rồng tới đàn áp. Xung đột dữ dột xẩy ra giữa cảnh sát và học sinh tại ngã tư cầu Tràng Tiền với nhà Morin, đường rẽ xuống Toà Khâm. Nhiều người bị u đầu, thêm một số học sinh bị bắt. Nam sinh dùng cán dù đen, nữ sinh dùng guốc chống lại. Cảnh sát cho xe vòi rồng phun nước bừa bãi. Một nữ sinh Đồng Khánh đến trước vòi rồng phản đối. Một tên cảnh sát nắm kiềng vàng của chị kéo ra. Phóng viên báo L’Annam có mặt tại chỗ đã viết bài đăng ngay lên báo. Đó là chị Nguyễn Khoa Thể Chi. Chị Thể Chi cùng với các chị Nguyễn Khoa Bội Lan, Tôn Nữ Như Phước, Hoàng Thị Hải Đường, Đào Thị Xuân Yến… là những nữ sinh Đồng Khánh mà anh Giáp thường gặp tại ngôi nhà “Ông già Bến Ngự”.(tr.83)

Trời về chiều âm u, mưa lâm thâm. Nam sinh nhường mũ, áo khoác, giương dù che mưa cho nữ sinh. Các đoàn học sinh tự giải tán, người về gia đình, người về nhà bà con, họ hàng ở Huế. Còn lại khoảng 20 nữ sinh nội trú không biết về đâu, mà trời thì gần tối. Trong lúc bối rối, may sao có bà Đạm Phương[6] (Hội trưởng Nữ công học hội, người đọc điếu văn trong lễ truy điệt cụ Phan Chu Trinh) và cô Hồ Thị Hạnh (tức sư bà Diệu Không sau này) đứng ra thu xếp vứi bà Ưng Uý (tức bà Hồ Thị Huệ, chị ruột cô Hạnh và là mẹ của nhà bác học Bửu Hội sau này), người có nhà để trống đang cho hai kỹ sư công chính người Nam Kỳ thuê (là ông Phan Văn Hùm và ông Nguyễn Văn Tề) đón số nữ sinh bãi khoá về tá túc. Hai bà vợ ông Hùm, ông Tề nấu nướng nuôi chị em cả mấy tuần lễ. (tr.84)

Cuộc đàn áp chiều 27-4-1927 của Toà Khâm như đổ dầu vào lửa. Trong mấy ngày liền, học sinh kéo nhau đi dọc các phố hô khẩu hiệu. Kinh đô Huế náo động. Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài ra lệnh đóng cổng thành đề phòng biến cố. Học sinh các trường Chaigeau, Paul Bert, trường đạo Pellerin lần lượt bãi khoá. Cuộc bãi khoá của học sinh Huế khởi đầu từ trường Quốc học, Đồng Khánh đã lan rộng thành tổng bãi khoá. Đây là một trong những cuộc tổng bãi khoá lớn thời bấy giờ.

Sau một tuần, nhà cầm quyền trả tự do cho các học sinh bị bắt. Nhưng không phải họ đã nhượng bộ. Lính giăng khắp thành phố, kiểm soát các ngả đường, hễ thấy tụ tập ba người là xông lại giải tán. Giám đốc Học chính Trung Kỳ Henri Déletie cho các trường nghỉ lễ Phục sinh và kéo dài hai tuần lễ để ngăn chặn và xoá nhoà cuộc bãi khoá. Đến hạn, các viên chức phải đích thân đưa con em đi học, nếu không sẽ bị liên luỵ.

Để đối phó lại, học sinh thành lập nơi hội họp và đầu mối liên lạc. Hội quán Quảng Nam ở gần nhà cụ Phan trên dốc Bến Ngự là nơi gặp gỡ và nhận thư, điện, tiền các nơi gửi về ủng hộ cuộc bãi khoá. Một loạt bài tố cáo việc đàn áp học sinh Huế được đăng trên các báo L’Annam và La cloche fêlée (Tiếng chuông rè) (tr.85) ở Sài Gòn. Học sinh Sài Gòn, Hà Nội và nhiều tỉnh miền Trung gửi điện ủng hộ. Một nhóm công chức Huế quyên góp tiền gạo giúp đỡ học sinh bãi khoá không có gia đình ở Huế.

Trong quá trình bãi khoá, anh Giáp hoạt động tích cực ở Hội quán Quảng Nam. Anh được phân công đứng trước Thừa phủ cùng một số bạn vận động những học sinh con nhà quan, con nhà giàu đi xe kéo gọng đồng khoan không nên vội đến trường, có trường hợp phải giằng xe lại, kéo tay bạn bảo đi về.

Cảnh sát theo dõi bắt những người hoạt động tích cực. Anh Giáp tạm lánh về Vĩ Dạ, ở nhà anh Nguyễn Khoa Thị, một bạn học lớp Đệ tam. Chị cả anh Thị, ăn mặc trang nhã, duyên dáng một cách kín đáo, tiếng nói nhỏ nhẹ như có nhạc điệu, chị khen các em bãi khoá là biết tự trọng, chị vui vẻ chăm sóc nuôi dưỡng các em cả tuần lễ.

Tin học sinh Huế bãi khoá lan đến quê nhà. Ông cụ cất công vào Huế tìm con. Anh Giáp an ủi ông: “Thầy cứ về, con sẽ đi học lại”.

Một tháng sau, phong trào dần tan. Phần lớn học sinh đi học trở lại. Nhà cầm quyền công bố danh sách học sinh bị đuổi học: 90 người tại tất cả các trường ở Huế.

Tại Quốc học là 37 người, đầu bảng là Nguyễn Chí Diểu, Võ Giáp, Nguyễn Khoa Văn, Phan Bôi, (tr.88) Nguyễn Hoàng, ở tất cả các lớp đều có người bị đuổi học: Lớp Đệ tứ là các anh Đào Đăng Vĩ, Tôn Thất Hoạt, Vĩnh Võ; lớp Đệ tam là Tôn Thất Hy, Trần Xuân Đang, Nguyễn Khoa Thị, Phạm Khắc Quảng; lớp Đệ nhị là Võ Khắc Khoan, Vĩnh Dụ, Lưu Trọng lạc; lớp Đệ nhất là Ưng Túc, Nguyễn Khoa Trang, Trịnh Xuân An, Lương Sĩ Bích, Nguyễn Đăng Khoa… (ở đây chỉ ghi lại một số người).

Ở trường Đồng Khánh, cô giáo kiêm giám thị Trần Thị Như Mân bị bãi chức vì tình nghi là cầm đầu nữ sinh. Trong số nữ sinh bị đuổi học, có các chị Nguyễn Khoa Thể Chi, Nguyễn Khoa Bội Lan, Tôn Nữ Như Phước, Tôn Nữ Như Sang, Tôn Nữ Thanh Xuân, Đào Thị Xuân Yến, Đào Thị Xuân Nhạn[7], Thái Thị Bôi, Hoàng Thị Hải Đường, Nguyễn Thị Giáo, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thị Thuyền, Nguyễn Thị Trang… Chị Sinh người Việt gốc Hoa gia đình nghèo bị tịch thu nhà cửa vì thiếu tiền học.

Ở trường đạo Pellerin các anh Ưng Cầu, Trương Gia Kỳ Sanh, Phan Duyệt, Nguyễn Ngọc Lễ, Nguyễn Bội Liên, Lê Công Tiễu, Phạm Kỳ… bị đuổi học (tr.87). Theo luật lệ thời bấy giờ, những học sinh bị đuổi không được học hành thi cử trên toàn cõi Đông Dương trong vòng hai năm.

Võ Giáp, Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn, Nguyễn Hoàng, Trịnh Xuân An thường gặp nhau. Không ai bảo ai, mọi người cùng chung một ý nghĩ: Xuất dương đi làm cách mạng theo gương các bậc tiền bối. Tâm trí mọi người hướng về Quảng Châu (Trung Quốc). Anh em bàn, cả anh Diểu đi bắt liên lạc, (tr.88) anh Diểu vô Nha Trang không tìm ra đầu mối. Nguyện vọng xuất dương không đạt, anh em buồn bã chia tay.

Nguyễn Khoa Văn cùng với một số chị em trường Đồng Khánh: Cô giáo kiêm giám thị Trần Thị Như Mân, các nữ sinh Nguyễn Thị Giáo (bà Hà Huy Tập sau này), Đào Thị Xuân Yến (bà Nguyễn Đình Chi sau này) và em là Đào Thị Xuân Nhạn, được bà Đạm Phương giới thiệu ra Bắc Kỳ học nghề dệt vải để chấn hưng công nghệ.

Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Hoàng vào Nam Kỳ.

Anh Giáp tìm gặp các bạn cùng chí hướng ở Hội quán Quảng Nam: Anh Lê Nhiếp con rể cụ Huỳnh Thúc Kháng, anh Hồ Nghinh, anh Trần Kỉnh, anh Sơn Trà… Hội quán Quảng Nam bị mật thám theo dõi gắt, anh em phải phân tán về quê.

          (Trích Phạm Hồng Cư, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ,

                        Nxb Thanh Niên, HN - 2008, từ tr. 78 đến tr.89)

 

Ngày xuân gởi mẹ

GS Phan Ngọc

Con có bà mẹ,

Suốt đời quên mình,

Học kiêm kim cổ,

Đức sáng khuê tinh.

Một lòng chính trực,

Chung thủy, kiên trinh,

Có người thế thực,

Không cần công danh.

Cả nền văn hóa,

Hun đúc mới thành,

Ta gặp người ấy,

Ngay trong tim ta.

Ôi! Sáng đức sáng,

Ngọc chất chói lòa,

Thời, mệnh chưa lại,

Chống mọi gian tà,

Noi dấu chân Bác,

Âm thàm xót xa.

Gặp thời góp sức,

Sống cho nước nhà,

Nêu gương vô úy,

Nối gót Thích Ca.

***

Con, người hậu bối,

Sống theo ông cha,

Công danh giép nát,

Lợi lộc tránh xa.

Quyết sống có ích,

Khổ không kêu ca.

Mừng lúc đất nước,

Sum họp một nhà.

Nhìn mẹ còn mạnh,

Vui hưởng tuổi già.

Chúc mẹ trường thọ

Để nhìn ngày mai.

Sự nghiệp đổi mới,

Bỏ ta thì ai?

Đế quốc đánh nổi,

Sống vì ngày mai.

Từng ngày đất chuyển,

Từng giờ đổi thay,

Nước mắt sẽ hết,

Để Bác yên lòng,

Sáng biết được đạo,

Chiều, chết như không.

Xin cô yên dạ,

Chúng con rất đông.

Những người chung thủy,

Đất nước thành đồng,

Dù khó đến mấy,

Chung sức cũng xong.

***

Sao mà nhớ Huế,

Thành phố mai vàng,

Xuân về mai nở,

Rực dòng Hương Giang.

Con quen biết cô

Từ khi còn bé.

Con yêu quý cô,

Như là người mẹ.

Ngày qua tháng lại,

Bố, mẹ qua đời,

Nhìn quanh, nhìn quẩn,

Còn cô nữa thôi.

Đứa con ở xa,

Nhân ngày năm mới,

Gửi cô bài thơ

Chúc cô muôn tuổi.

Hà Nội, 8-1-1993

 P.Ng.


[1] Tức ông Nguyễn Chí Diễu . NBS

[2] Tức nhà văn, nhà lý luận Hải Triều sau nầy. NBS

[3] Sau nầy là bà Đào Duy Anh. NBS

[4] Con trai cụ Cử Nguyễn Đình Miến, thân sinh của ông Nguyễn Đình Châu ở vườn An Hiên hiện nay. NBS

[5] Địa điểm trường Đaih học Sư phạm Huế 32-34-36 đường Lê Lợi ngày nay. NBS

[6]Đạm Phương nữ sử, phu nhân của ông Nguyễn Khoa Tùng, thân mẫu của Nguyễn Khoa Vvăn (Hải Triều), sau đó bà là người thực hiện sự khuyến khích của Cụ Phan Bội Châu , mở trường Nữ công học hội tai Huế. NBS

[7] Em út của bà Đào Thị Xuân Yến (sau nầy là bà Nguyễn Đình Chi). NBS

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123