Vinh dự lớn lao

 Bà Nguyễn Đình Chi kể 

Khi tạm biệt Huế lên chiến khu, tôi cứ nghĩ sẽ ở lại đây cùng với đồng bào mình kháng chiến để có một ngày trở lại. Nhưng không ngờ một hôm anh Hoàng Phương Thảo[1] đến hỏi tôi:

“Có điện của Trung ương lệnh phải đưa Hòa thượng Giác Thanh (tức Hòa thượng Thích Đôn Hậu)[2] và chị ra Hà Nội với bất cứ giá nào”.

Cái tin ấy cho tôi hết sức bàng hoàng. Tôi tự nghĩ mình đã làm được cái công trạng gì lớn lao đâu mà được hân hạnh đến thế! Hơn nữa đường đi từ đây ra ngoài ấy mất hàng tháng trời giữa đạn bom biết đi có đến được không! Bên cạnh những lo âu, bỗng hiện lên trong tôi một sự náo nức. Nếu vạn sự được bình yên thì chẳng bao lâu nữa tôi có mặt tại Thủ đô – nơi chủ tịch nước Hồ Chí Minh đang cùng với Trung ương lãnh đạo cách mạng trong cả nước. Mặc dù không dám nói ra nhưng trong thâm tâm tôi có nguyện vọng khi được ra ngoài ấy tôi cũng xin yết kiến Bác Hồ và thưa với Bác những tình cảm nhớ mong của đồng bào Huế, đồng bào miền Nam.

Chính cái nguyện vọng thầm kín ấy đã giúp cho tôi nhiều nghị lực để vượt qua các “túi bom” dọc đường Trường Sơn để ra đến Hà Nội, trái tim của cả nước.

*

*       *

Ra Hà Nội được mấy ngày, trong tai vẫn chưa dứt âm vang của tiếng bom rền, tôi chưa biết sẽ có sinh hoạt gì đầu tiên ở thủ đô thì được tin “ Chuẩn bị lên Phủ Chủ tịch yết kiến Bác Hồ”.

Lên yết kiến Bác Hồ là một trong những nguyện vọng tha thiết nhất của tôi, nhưng tôi không ngờ nó lại đến sớm thế! Bây giờ tôi đâm lúng túng. Khi ra đi tôi vừa có tang mẹ nên chỉ mang theo hai chiếc áo dài đen và nâu cùng với mấy bộ quần áo vải. Tôi không biết phải ăn mặc như thế nào để yết kiến Bác. May thay dưới chân tôi còn mang đôi dép cao su đen mà chị em ở binh trạm đã trang bị cho tôi lên đường ra Bắc. Tôi nghĩ đi theo con đường của Bác Hồ bằng đôi dép cao su truyền thống cũng là một việc hay. Ý nghĩ ấy làm cho tôi yên tâm. Điều lo lắng còn lại là sợ Bác hỏi tình hình miền Nam tôi không biết phải thưa với Bác như thế nào cho đầy đủ và chân thật.

Vào lúc 8 giờ ngày 13-7-1968, đoàn đại diện cho Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình thành Phố Huế đến Phủ Chủ tịch

Chưa bao giờ gặp Bác nhưng đã nhiều lần xem ảnh, tâm trí tôi đã hằn sâu hình ảnh một vị lãnh tụ kết tụ bằng những nét tinh anh nhất của dân tộc nên khi mới bước vào Phủ chủ tịch, thoáng thấy một cụ già tầm thước mái tóc bạc phớ, hai tay chống lên một cái gậy ngồi chờ trên một ghế băng được đặt trước ngôi nhà khá nhỏ, tôi đoán biết ngay đó là Hồ Chủ tịch. Đằng sau Người có một đồng chí ôm bó hoa tươi. Ngay lúc đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất hiện phía cổng khoảng ba mươi thước đón chúng tôi.

Hôm đó Bác mặc bộ bà ba nâu, cái màu sắc quen thuộc làm cho tôi nhớ lại những năm tháng cùng với gia đình làm việc ở Nghệ - Tĩnh.

Đoàn chúng tôi vừa bước đến phòng tiếp khách, Bác đứng dậy xoay người lấy bó hoa trên tay người bảo vệ tặng cho tôi. Vẫn biết bó hoa đó Bác tặng cho đồng bào Huế, đồng bào miền Nam nhưng chúng tôi được vinh dự đại diện cho đồng bào nhận trên tay Bác, điều đó làm cho tôi hết sức xúc động. Có lẽ đó là những bông hoa có ý nghĩa nhất trong đời tôi. Một nỗi mừng vui và lo lắng dâng lên tràn ngập cả cõi lòng, tôi chỉ biết cám ơn chứ chưa biết phải thưa gửi thế nào cho đúng lẽ.

Phòng tiếp khách của Bác là một căn trong ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng. Sau này tôi được biết đó là một trong những căn nhà của nhân viên phục vụ phủ toàn quyền trước kia. Căn phòng thật đơn sơ, chỉ có một cái bàn dài và hai dãy ghế, trên tường không trang trí gì cả. Tôi cũng được biết chỉ trong những ngày lễ lớn như Quốc Khánh hoặc tiếp những nguyên thủ quốc gia, hay các nhà ngoại giao nước ngoài, Bác mới tiếp ở phòng khách trong nhà Phủ chủ tịch (phủ toàn quyền cũ, còn ngoài ra Bác chỉ thích tiếp thân mật trong gian nhà phụ nói trên mà thôi).

Bác ngồi trong chiếc ghế đặt ở đầu bàn. Trong đoàn chỉ có tôi là nữ nên được Bác cho ngồi bên trái gần Bác. Hòa thượng Giác Thanh ngồi bên phải. Buổi tiếp có sự hiện diện của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Chủ tịch Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Anh Nguyễn Văn Tiến đại diện miền Nam ở Hà Nội, anh Lê Toàn Thư chủ nhiệm ban Thống Nhất cũng có mặt.

Ngồi vào bàn, Bác lấy thuốc là đựng trong một cái hộp thuốc tây đã cũ mời khách. Bác biết phụ nữ miền Nam biết hút thuốc nên tôi cũng được mời. Bác mở đầu trong buổi tiếp bằng một câu mà bây giờ tôi không còn nhớ nguyên vẹn, chỉ nhớ được đại ý là “Người cộng sản là người có nhiều tình cảm, không có tình cảm thì không thể là người cách mạng được”.

Bác đi thẳng vào thăm viếng, không một chút nghi thức. Qua tiếng nói ấm áp và hiền từ, vừa sâu sắc, có lúc hóm hỉnh của Bác làm cho chúng tôi quen ngay. Tác phong giản dị, từ đôi dép cao su bộ quần áo màu nâu cho đến cách nói năng, nội dung cốt chuyện được bắt đầu… của Bác làm cho chúng tôi quên dần cái lo lằng ban đầu.

Bác hỏi thăm sức khỏe từng người lúc đi đường, hỏi thăm tình hình các tầng lớp ở miền Nam, phật tử miền Nam. Bác hỏi đâu chúng tôi thưa đến đó. Chúng tôi không ngờ lại nói năng tự nhiên và chân thực đến thế. Cái đức giản dị của Bác đã khiến cho những việc phức tạp trở nên đơn giản, những việc khó hiểu trở nên dễ hiểu, những xa cách trở nên quen thuộc (2) Sau buổi tiếp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa chúng tôi đi xem vườn, vừa nghe Thủ tướng nói chuyện rất thân mật.

Sau buổi được yết kiến Bác, trở về nhà khách tại 69 Nguyễn Du, chúng tôi không ngớt nói chuyện với nhau về sự kiện vinh dự ấy. Tình cảm của Bác và các đồng chí Trung ương dành cho chúng tôi thật thân thiết, Sau buổi yết kiến đó Bác thường điện thoại cho đồng chí Lê Toàn Thư (chủ nhiệm ban thống nhất) hỏi về tình hình ăn, ở của chúng tôi ở thủ đô.

Bác hỏi:

- “Đã có người nấu ăn cho đoàn Huế chưa? Người nấu phải biết khẩu vị của người Huế đó nhé”.

Đến lúc trời sắp trở lạnh Bác lại gọi điện thoại đến hỏi:

- “Đoàn Huế đã có đủ đồ ấm chưa? Trong Huế không lạnh như ngoài Bắc đâu!”

 Bác cũng thường hỏi thăm tôi và căn dặn đồng chí Thư giúp đỡ tôi. Bác bảo:

- “Bà Đức[3] ra đây buồn, các chú phải tìm một cháu bé đến chơi với bà nhưng phải tìm cho được môt cháu bé ngoan đấy nhé”.

Nghe đồng chí Thư nói lại cho biết như thế tôi thật không ngờ và xúc động vô cùng. Tuổi Bác đã cao, việc lãnh đạo cách mạng trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn không quên những việc tưởng chừng như hết sức riêng tư nhỏ nhoi đến thế! Sau này đọc được câu thơ của anh Tố Hữu viết về Bác “Nâng niu tất cả chỉ quên mình” tôi thấm thía hết sức.

Cuối năm đó đoàn chúng tôi được Bác cho vào Phủ Chủ tịch chúc tết Bác. Chúng tôi biết Bác đã từng ở Huế nhiều năm và thích những món ăn Huế nhân ngày Tết. Anh em trong đoàn đề nghị làm dâng Bác mấy món mứt Huế. Vì kính yêu Bác nên muốn làm một cái gì kính biếu Bác cho Bác vui, nhưng khi làm rồi thì mới lo. Làm thức ăn cho các vị nguyên thủ quốc gia, đặc biệt là đối với Bác đâu phải là chuyện đơn giản. Vì thế mà tự tay tôi làm mấy thẩu mứt xong rồi lại tự tay dán giấy phong kỹ và bỏ vào tủ khóa lại.

Vào khoảng 10 giờ 30 ngày 28 Tết năm ấy (15-2-1969) Đoàn liên minh chúng tôi vào chúc Tết Bác. Anh Thắng (tức Dương Tiềm) và anh Thành giúp tôi mang bốn thẩu mứt vào. Bác vẫn tiếp trong phòng Bác thường tiếp khách. Hôm ấy có cả các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp.

Chúng tôi kính dâng bốn thẩu mứt: mứt bí, mứt cam, mứt chanh và mứt cam quật. Các đồng chí ở phòng bên làm theo lời Bác, sắp mứt ra dĩa và đem ra dọn liền. Bác rất vui vẻ mời mọi người cùng ăn. Thật là đột ngột. Cử chỉ giản dị tự nhiên  của Bác làm cho tôi hết sức xúc động. Bác đã dành cho chúng tôi một sự tin cẩn tuyệt đối. Vinh dự biết bao. Nhưng càng vinh dự bao nhiêu tôi lại càng lo lắng bấy nhiêu. Nhỡ trời lạnh Bác đau bụng một chut thôi, chúng tôi cũng không sao gánh hết trách nhiệm. Tôi tự nghĩ mình là tiểu tư sản, xuất tiếng là quan lại, lại có thêm nhiều mối liên hệ với những người trong bộ máy đối lập với chính quyền Cách mạng mà hôm nay được Bác và các vị lãnh đạo tin cẩn như thế thì thật “cái ơn tri ngộ” này một đời không lấy gì đền được. Từ phút giây đó những trăn trở vướng mắc trên con đường đi theo cách mạng của tôi có thể nói được tháo gỡ hết.

Thấy Bác chỉ dùng món mứt chanh, tôi thưa Bác xơi mứt cam hoặc cam quật. Bác cám ơn và đáp một cách ý nhị “Phải có cam, có khổ chứ”. Miệng Bác nói và tay xóc mứt cam ăn. Tôi nghĩ nói câu ấy Bác có dụng ý răn dạy anh em trong đoàn và tôi : “Làm cách mạng là phải chịu  cam khổ”.

Trong câu chuyện cuối năm vui vẻ, nhân nói về sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đồng chí Lê Duẩn nêu câu châm ngôn của dân tộc “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn” Bác liền góp chuyện một cách hóm hỉnh và bất ngờ rằng :

- “Những người một mình thì thuận với ai”

Tất cả những người có mặt hôm ấy đều cảm thấy thích thú, không ngờ Bác lại bình dị và vui đến thế. Không ai dám trả lời câu hỏi của Bác. Tôi nghĩ trong lòng “Thì thuận với nhân dân” Thấy tôi có vẻ lúng túng. Bác nghiêng người vè phía tôi nói nho nhỏ như “gà” cho tôi : “một mình thì phải làm việc bằng hai”. Tôi lặng người không dám nhăc lại câu của Bác vừa “gà” cho.

Câu chuyện đang vui thì một đồng chí bảo vệ đem ra trình Bác mấy tấm ảnh các cháu dũng sĩ ở miền Nam vừa gửi ra. Bác cầm ảnh xem một cách chăm chú, đôi mắt Bác nhấp nháy như muốn ngăn chặn hai dòng lệ thương nhớ các cháu thiếu nhi miền Nam. Xem xong Bác đứng dậy trao cho chúng tôi cùng xem, Bác hướng về về tôi và nói một cách trịnh trọng : “Bác thay mặt tất cả cám ơn các bà mẹ miền Nam đã sinh ra và nuôi dạy những người con anh hùng”.

Sau đó Bác hỏi chuyện dân gian Huế như hỏi các O bán chè gánh mặc áo dài, chè đủ thứ sắp trên những cái trẹc, xếp thành những chồng cao, Bác hỏi về chợ Xép, đường Đông Ba…nay có còn không. Chúng tôi trả lời đều còn cả. Bác kể lại những kỷ niệm của Bác lúc ở Huế, có lúc giọng Bác trở nên sâu lắng như có cái gì đã gợi cho Bác một nỗi xót xa. Biết như thế cho nên tôi không dám gợi chuyện cũ để hỏi Bác nữa.

Nhân hỏi về A-lec-xăng- đờ-rốt và việc sách Tây viết về Việt Nam, Bác hướng về một vị trong đoàn và dặn:

- “Coi sách Pháp phải cẩn thận. Có một người Pháp nỗi tiếng mà đã dám viết sách nói ở Việt Nam có nhiều mây thiên nhiên (rotin) dùng làm roi quất vào cái dân tộc này cho bớt ngu dốt.”

Không khí chúc Tết thật thoải mái, cởi mở.

Câu chuyện đang vui thì đồng chí bảo vệ lễ phép ra thưa đã 11giờ30 đề nghị Bác nghỉ. Bác khoát tay nói giọng khẩn khoản : “Nói chuyện với đồng bào miền Nam, cho Bác nói thêm chút nữa”.

Đồng chí bảo vệ lui ra. Bác tranh thủ căn dặn đoàn chúng tôi phải giữ gìn sức khỏe, có gì khó khăn phải báo ngay để giải quyết. Bác chúc sức khỏe từng người va không quên gửi lời thăm hỏi sức khỏe gia đình và đồng bào miền Nam. Nói xong Bác đứng dậy tạm biệt chúng tôi.

*

*           *

Chẳng bao lâu sau đó Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam ra đời. Chiều ngày 23-5-1969 có tin thủ tướng Phạm Văn Đồng sẽ đến thăm chúng tôi tại nhà khách 69 Nguyễn du, đến phút chót lại được tin có “thượng khách” cũng đến. Chúng tôi đoán có lẽ Bác đến  và chuẩn bị đón Bác. Đến 4 giờ 45 phút Bác đến thật. Hôm ấy Người mặc bộ bà ba màu tro, chân đi dép cao su, tất trắng. Cùng đi có thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Bác bước lên tam cấp hai chân hơi run, biết sức khỏe của Bác đã yếu hơn so với trước tết. Thấy có cán bộ bảo vệ đi theo dìu, Hòa thượng Giác Thanh và bác Nguyễn Đóa đến định đỡ Bác. Bác khoát tay :

“Cảm ơn hai cụ, tôi lên được”. Bác chỉ cho Hòa thượng Giác Thanh và tôi được ngồi gần Bác. Trời nóng bức, tôi quạt cho Bác. Râu tóc Bác bạc phơ, da dẻ hồng hào , lơ thơ điểm vài chấm đồi mồi, Bác hiền từ và đẹp như một ông tiên giống như trong truyện thần thoại tôi được đọc hồi thời thơ ấu. Trong một giây phút xuất thần, tôi sống lại cái cảm tưởng trong nhiều năm tôi đã ngồi quạt cho mẹ mình. Mới trông thấy Bác cứ nghĩ là Bác yếu hơn mấy tháng trước, đến khi Bác bắt đầu nói chuyện thì lại thấy Bác khỏe, vui vẻ , giản dị như mọi lần. Nhân Bác đem cho chúng tôi hai trái đu đủ, tôi thay mặt anh em trong đoàn cảm ơn Bác, hôm trước đã gửi cho trái dưa hấu. Tôi kể chuyện đã cắt trái dưa ra nhiều mãnh nhỏ để mọi người trong đoàn có mặt ở nhà khách 69 Nguyễn Du đều được hưởng vị quà của Bác. Bác cười và kể mấy câu chuyện xưa “tửu tuyền” (suối rượu) và trái lê Trương Công Nghệ chia cho chín họ cùng ăn. Nghe Bác nói tôi khâm phục, bất cứ chuyện gì Bác cũng có một mẫu chuyện xưa thích hợp để kể và làm cho mọi người nhớ mãi.

Biết chúng tôi lo lắng về sức khỏe của bác. Bác dạy : “Tôi vì đầu năm trồng cây, dùng nhiều sức quá, nhưng tuổi càng cao, sức càng yếu là chuyện thường”

Bác nói về năng suất lúa ở Thái Bình, những nơi tiên tiến đến mười tấn, những nơi ít nhất cũng đạt đến năm tấn, xưa nay nông nghiệp ở miền Bắc chưa từng có. Bác hỏi chuyện các hố bom ở Vĩnh Linh, bác thông báo cho biết người Hà Tĩnh bây giờ không còn ăn khoai như xưa nữa, các em bé miền Nam đánh giặc như chơi. Các cô gái dân quân hạ được máy bay giặc Mỹ. Nhiều danh tướng Mỹ mất chức vì thua trận ở Việt Nam. Tổng thống Nich-xơn sau “mùa trăng mật” phải ngậm bồ hòn. Địch hùng hổ nhưng buộc phải đụng đến 10 điểm. Việc Chính phủ Lâm thời ra đời là một sự kiện chính trị lớn, Bác cũng cho biết chưa có một chính phủ nào vững chắc lâu hơn chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến nay (1969) đã được 25 năm.

Nhân thấy Bác vui, chúng tôi thưa : “Mong ngày thống nhất được đón Bác vào thăm ở sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Phú Bài”. Giọng Bác trở nên vui hơn, Bác hướng về Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói :

-“Kìa ông Thủ tướng, nghĩ thế nào?  Đồng bào miền Nam trông Bác, chính phủ phải lo cho Bác đi Nam đi”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhìn chúng tôi nói :

-“Chính phủ Lâm thời phải lo giải phóng miền Nam cho mau để Bác đi máy bay vào miền Nam”.

Việc ấy hết sức thiêng liêng nhưng cũng hết sức khó khăn nên không ai dám lên tiếng hứa…Sợ câu chuyện trở nên căng thẳng Bác nói ngay:

- “Bác muốn đi bộ  chứ đi máy bay chóng mặt lắm.”

Những người có mặt đều cười, không khí đón Bác thanh thản làm sao. Bác nói tiếp:

- “Ngày xưa từ Bắc vào Nam đi bộ phải mất sáu tháng, ngày nay đi lâu hơn một chút cũng được.”

Khi sắp tiễn Bác ra về, Hòa thượng Giác Thanh nói có ý định mời Thủ tướng và các vị lãnh đạo dùng một bữa cơm chay, nghe chuyện ấy Bác hỏi chen vào giọng thật vui:

- “Các vị không mời tôi sao?”.

Ý kiến của Bác quá bất ngờ làm cho mọi người đâm ra lúng túng. Như đọc được ý nghĩ của mọi người, Bác nói qua chuyện khác để không khí vui vẻ trở lại ngay.

Lúc ra tiễn Người , tất cả anh chị em tại văn phòng cũng như tất cả anh chị em phục vụ đều có mặt. Anh Hân (cán bộ trong đoàn Liên Minh) đẩy chú Tâm Kiến ra phía trước và giới thiệu với Bác:

- “Thưa Bác, đây là chú “tiểu”[4] cùng đi từ Huế ra đã giúp việc cho Hòa thượng Giác Thanh.

Bác cười và nói ngay:

- “Người ta lớn như thế là “đại” chứ sao nói là “tiểu”.

Bác phê bình thái độ xem thường người giúp việc nhưng cách phê bình của Bác hóm hỉnh và vui nên mọi người chấp nhận mà không thấy băn khoăn.

*

*           *

Giữa hai mùa Thu (1968 – 1969) đoàn Liên Minh Huế và tôi được vinh dự lớn lao, ngoại trừ những buổi lễ lớn được thấy Bác trên đoàn Chủ tịch tại hội trường Ba Đình, chúng tôi được trực tiếp gặp Bác ba lần. Cuối Thu 1969 tôi lại được vinh dự lớn lao nhưng lại là vinh dự đau xót đầy nước mắt dự lễ Quốc tang Hồ Chủ Tịch (tôi đi trong đoàn Hội đồng Cố vấn CHMNVN và Liên minh các LLDTDC và HB Việt Nam) .Bác Hồ từ trần ngày 2-9-1969 tại Hà Nội. Vị lãnh tụ thiên tài, một người anh hùng dân tộc vĩ đại, tượng trưng cho thời đại hiển hách nhất trong lịch sử Việt Nam đã từ trần, để lại cho chúng ta một nỗi tiếc thương vô hạn.

Trong hai khóa đại biểu Quốc hội cũng như ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mỗi năm ít nhất hai lần về thủ đô Hà Nội, tôi vào lăng viếng Bác.

Mỗi lần thấy di hài Bác là một lần lòng tôi thấy an vui. Bác là niềm tin vững chắc, hào khí ngất trời, lòng nhân nghĩa và đức hy sinh cao cả hiện thân.

Vĩnh biệt Người, cố Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn đã nói trong điếu văn :

“ Hồ Chủ tịch là hiện thân khối đoàn kết dân tộc, là hiện thân tình ruột thịt Bắc Nam. Người nói, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, đại thành công”.

Nhớ Bác, niềm tin của tôi được củng cố, tin ở hôm nay và mai sau. Tôi vẫn cảm thấy- như Tố Hữu viết:

Bác vẫn đi về….

Nghìn năm xin trọn lời thề nước non”. 

Nguyễn Đắc Xuân ghi


[1] Trưởng ban dân vận Thành ủy Huế

[2] HT  Thích Đôn Hậu (16-2-1905 - 23-4-1992)

(2) Tôi đã nghe kể chuyện về đạo đức Bác Hồ. Đến khi được gặp Bác tôi có dịp hiều sâu sắc hơn. Đạo đức của Bác trở thánh sức mạnh dân tộc. Bản thân tôi đã chứng kiến được sự tốt lành này.

Hôm ra đi đến bến phà Phước Tịnh, trong lúc chờ qua sông thì máy bay Mỹ đến dội bom, tôi phải nằm tránh bom dưới ruộng, khói bom dày đặc. Có hai đồng chí Công an bảo vệ lấy thân mình nằm che mãnh bom cho chúng tôi. Sau trận bom, hai đồng chí không để ý đến mình mà chỉ lo cho chúng tôi có bị xây xát gì không. Khi biết chúng tôi được vô sự, hai đồng chí mừng như được thoát nạn.

Trong đêm tối trên đường Tây Trường Sơn nếu vô ý để rơi một cái ví tùy thân trong đó có đựng một số giấy tờ và mấy thứ tư trang. Tôi tưởng như thế là mất rồi, không ngờ mấy tiếng đồng hồ sau bộ đội đã đem đến giao trả cho tôi, các thứ trong ví còn nguyên vẹn.

Sự việc trên chứng minh cái đạo đức tuyệt vời của người lính Cụ Hồ. Với tinh thần quên mình để làm tròn nhiệm vụ của người lính Cụ Hồ. Tôi tin chắc Việt Nam sẽ thắng Mỹ, nhất định như thế.

[3] Tên của tôi sau ngày thoát ly

[4] Miền Bắc gọi là “tiểu”, miền Trung gọi là “điệu”

 

Mấy trang nhật ký đầu Tháng 9-1969 của bà Nguyễn Đình Chi

Tuần thứ 36, Tháng 9-1969"

 

1 Thứ hai

Sáng thăm 2 Hội PN Việt Nam và Hà nội có chị Lựu, chị K. Phương – Hà nội có đủ các chị: chị Xuyến, Ái, Thể An, Thục Viên, các nghệ sĩ Ái Liên, Châu Loan, Tường Vy (Quảng  Nam), Tri Túc – Hà nội cũng đông.

2 Thứ ba

Sáng trồng cây ở Công viên T.N. Cây đã 3 nhánh.

3 Thứ tư.

Sáng nay các đài trong nước và VOA, BBC loan tin Bác Hồ yếu. Họp MT Tổ quốc từ 7 giờ đến 8 giờ xong Thông cáo thì uống nước giải tán – chiều nay họp báo có lẽ chiêu đãi sẽ bỏ - Rút ngắn thời gian lại – Họp báo 4 giờ đến 5 giờ, anh Chiến và anh Đạo đọc tuyên bố và thông cáo chung – Chỉ một câu hỏi: Khiêm Thanh Hương – Buồn quá tối 3, 7 giờ anh Hq Việt, Duyệt, Soại và chị Lựu đến báo tin buồn. Hồ Chủ tịch từ trần lúc 9h 47, 3-9-1969

4 Thứ năm

5 giờ sáng Đài Hà nội báo tin buồn cả nước.

Từ khi hôm 12 g khuya mưa to u ám.

Anh Thư, anh Soại, anh Duyệt đến mời đoàn ở lại mai về.

7g30 làm lễ phát tang trước bàn thờ Hồ Chủ tịch tại 12 Ngô Quyền. Đơn giản nhưng rất cảm động.

5 Thứ sáu

Sáng nay trời u ám , buồn quá, nghe các đài phát thanh trong và ngoài nước.

Có tin TT Chu Ân Lai cầm đầu phái đoàn Trung quốc đã đến Hà nội. TT Kssiguin cũng sẽ đến.

6 Thứ bảy

Sáng 7 giờ đi với đoàn Miền Nam do ls Ng. hữu Thọ đứng đầu viếng và đặt vòng hoa trước linh cửu Hồ Chủ tịch - Gặp, thấy đông đủ các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước - 9 giờ Đoàn Liên Minh đi viếng-

Chủ nhật 7

Dọn qua nhà khách Bộ Q. Phg

Nhật ký bà Nguyễn Đình Chi

Nguyễn Đắc Xuân

Sưu tầm, và chép lại nguyên văn 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123