Thoát ly

Bà Nguyễn Đình Chi kể

Bốn giờ chiều ngày 15-2-1968, trong tiếng bom rền Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin thành phần Uỷ Ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế mà tôi là Phó Chủ tịch. Tôi không ngạc nhiên vì trước đó, ngày 9-2-1968, anh Hoàng Phương Thảo đã đến trao đổi với tôi về các Liên Minh các LLDTC và HB, về uỷ ban NDCM mà tôi đã nhất trí cũng trước hôm 9-2, một trong ba quả bom B57 thả xuống làng Xuân Hoà đã trúng ngay sau nhà tôi suýt nữa cả nhà lẫn người đã trở thành cát bụi. Vì thế tuy không ngạc nhiên nhưng lòng không khỏi lo lắng. Tên tôi được loan công khai trên đài phát thanh Hà Nội trong lúc tôi vẫn còn ở trong tầng pháo trường huấn luyện Long Thọ của địch ở ngay bên kia sông Hương, ở đồn Văn Thánh cách nhà tôi không đầy hai cây số. Lính ở Văn Khánh bắt đầu lò dò đi trước nhà tôi để xuống khu vật Kim Long, Bạch Hổ nghe ngóng.

Khoảng 11 giờ khuya, chị Hoàng Thị An (người cùng làng Xuân Hoà với tôi và cũng là người liên lạc của tôi với cách mạng) đến gặp tôi. Chị An giới thiệu một vị Thành ủy, vì đứng trong bóng tối của cây vườn An Hiên nên tôi không nhìn rã mặt. Người ấy nói với tôi giọng sốt sắng.

- “Nghe đài loan tin các thành phần Uỷ bản, trong đó có tên bà. Biết bà còn đang ở Huế, Thành ủy lo lắng hết sức. Vì thế các anh cho chúng tôi đi hoả tốc về gặp bà và mời bà lên căn cứ!”.

Thiếu tướng Lê Chưởng, chính uỷ chiến dịch và các đơn vị trong Liên Minh các LLĐTC và HB thành phố Huế.

- “Vâng, tôi vẫn đang chờ!”. Tôi đáp ngay

Sự thể đã như thế tôi phải lên căn cứ là việc tất nhiên thôi. Trước ngày 26 Tết năm Đinh Mùi (1967) khi rời Sài Gòn về Huế tôi đến cám ơn và từ biệt bác sĩ Lê Khắc Quyến, tôi có nói: “Tôi về Huế nhung có lẽ tôi không ở Huế. Mẹ tôi đã qua đời rồi, tôi không còn bận việc phụng sự me già nửa, chắc tôi phải đi đẻ trọn lời hứa với người đã mời tôi đi với cách mạng”. Đến khi nhận lời mời của anh Hoàng Phương Thảo tôi thấy trong lòng nhẹ nhàn chuẩn bị ra đi. Tôi lấy một cái xách để đựng mấy cặp quần áo và vài thứ thuốc cần dùng treo săn trên tường. Nhờ có chuẩn bị nên khi được liên lạc là tôi có thể đi ngay.Cùng đi với tôi có chấu Tâm để có bà, có cháu giúp đỡ nhau sau này.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi đi hoạt động cách mạng. Thời chuẩn bị chống Pháp tôi đã từng ra làng Hiền Lương để gặp anh Nguyễn Chí Thanh. Lúc ấy ông Phạm Đình Ái theo trường học ra Liên khu tư, ông Trần Kiêm Trình thay ông Ái làm Chủ tịch Liên Việt, anh Thanh yêu cầu tôi làm Phó Chủ tịch. rồi suốt cuộc kháng Pháp nhiều lần tôi đã bí mật ra các thôn xã quanh sông Hoà như Hậu Thôn (Kim Long), An Ninh (thượng, hạ), Trúc Lâm để gặp cán bộ ở trên về cũng có hôm các anh về ở lại An Hiên rồi nhờ mời trí thức trong Huế ra làm việc. Lần đi lãnh hội ý kiến ở trên về phổ biến để lại cho tôi nhiều kĩ niệm sâu sắc nhất là lần về cầu ngói Thanh Toàn nghe anh Hoàng Phương Thảo nói chuyện. Trong cuộc họp ấy tôi đã gặp nhiều nhân sĩ trí thức nỗi tiếng ở Huế như anh chị bác sĩ Thân Trọng Phước, nhà báo Phạm Bã Nguyên, nhà luật học Hồ Đắc Khương… tất cả những hoạt động ấy đều giữ trong vòng bí mật. Còn đến bây giờ (2-1968) tên tôi đã được đọc trên đài Hà Nội tất là đã ra công khai rồi. Hoàn cảnh không cho phép (nằm vùng) nữa thì phải ra đi. nhất khoát phải như thế.

*

*          *

Tôi từ biệt vườn An Hiên để qua làng An Ninh thượng. Đường qua làng đầy trăng pháo sáng.

Qua đến nơi anh Thọ Hường mời vào nhà thầy Phùng (một thầy thuốc Bắc nổi tiếng ở Hiệu Tế Lợi Đường) nghỉ chân ăn cháo để bắt đầu một cuộc hành trình lên căn cứ.

Lúc này ánh trăng bị nhoà đi trong ánh sáng hoả châu. Các loại máy bay thi nhau gầm rú trên không. Đạn pháo Hạm đội Bảy ì ầm nả vào những vị trí chung quanh Rú Lầu. Chúng tôi đi dưới lằn bom đạn.

Đoàn đưa tôi đi có khoảng một tiểu đội, có đủ cả nam cả nữ rất vui. Anh chị em cho biết nếu đi đường gặp địch thì quyết đánh mở đường mà đi. Không ai tỏ ra lo lắng sợ hãi gì cả. Nghe quyết tâm của đội du kích tôi tin tưởng.

Lúc đầu tôi đi dè dặt, tôi sợ sỉa chân xuống giao không hào gảy tay như hồi chống Pháp. Nhưng đi được một lúc cũng phải nhanh chân kẻo anh chị em đợi. Xưa nay tôi chưa hề nhảy qua cái rãnh nước giữa ruộng nào thế mà đêm ấy tôi đã nhảy qua được không biết bao nhiêu rãnh ruộng trơn trợt nước sâu. Thật kỳ lạ!

Những xóm làng tôi đi qua không thấy một bóng người, thậm chí chó mèo cũng không. Có lẽ bà con mình đã tản cư hoặc trú cả dưới hầm. Nhà cửa cháy đổ tan hoang. Nhiều cái tủ thờ cháy dở, ngọn lửa leo lét trong đêm trông thật thê lương.

Mỗi lần có một làn pháo nổ gần, chúng tôi nằm ẹp xuống ruộng, rãnh hai bên đường tránh pháo. Có lần vừa nằm xuống thì ngửi phải một mùi hôi thối không chịu được. Anh em tìm hiểu lý do mới hay mình đanh nằm bên một cái xác trâu bị pháo bắn chết sình chương đã lâu ngày.

Đến giữa cánh đông Trúc Lâm thấy một chiếc máy bay trực thăng nằm giữa ruộng lù lù. Anh em chỉ cho tôi với một thái độ xem thường phương tiện chiến tranh của Mỹ. Tôi nghĩ chính nhờ thái độ không sợ đó mà họ đã vượt qua mọi thử thách của Mỹ để theo đuổi cuộc chiến tranh đến cùng.

Đến khoảng 3 giờ sáng (ngày 16-2) chúng tôi dừng chân ở một xóm nhỏ (chắc thuộc làng Quế Chữ). Tôi tranh thủ nằm với cháu Tâm nghĩ trên một manh chiếu trải trong hầm ếch. Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Xưa nay tôi chưa bao giờ được ngủ một giấc ngon như thế.

Ngủ dậy, người tỉnh táo, chúng tôi đi tiếp.

Đường đi sâu vào vùng giáp ranh. Tôi rất mừng khi biết đã gần đến “vùng tự do” đường men theo triền đồi trọc lởm chởm đá và gai nhọn. Đôi chân chưa quen đi bộ dài đường của tôi bắt đầu trở chứng. Nhiều khi đặt chân xuống mặt đường đụng phải một viên sỏi hay một gốc tràm, gốc sim, tôi cảm thấy đâu đớn nhức dối thấu xương. Trời bắt đầu tờ mờ sáng, đoàn ngồi bên vệ đường nghĩ. Tôi đưa tay sờ vào gan bàn chân phát hiện dưới chân mình có nhiều vết bong. Những vết đã sưng tấy vỡ nước bị cát bám vào đau đớn hơn cả kim châm.

Đang ngồi nghĩ cùng anh chị em trong đoàn uống nước, hút thuốc thì bỗng có tiếng gà gáy. Tôi nói một cách hồn nhiên:

- “Tiếng gà rừng ở đâu gáy sao mà giống tiếng gà mình ghê!”

Một chị du kích đi trong đoàn bưng miệng cười:

- “ Thưa bà, gà mình đó! Cháu ôm nó theo để mai làm thức ăn cho bà!”

Tôi cảm động và cũng tức cười. May quá, tôi nhớ ra rằng ngày mai 18 tháng giêng Âm Lịch, tôi nói cho đỡ thẹn:

- “Cám ơn! Anh chị em chu đáo quá! Ngày mai tôi ăn chay!”

Thấy tôi đi khó khăn, đoàn bảo có đem theo võng và yêu cầu tôi phải đi võng. Tôi nghĩ mình đi kháng chiến được việc cho mình tôi không muốn làm phiền người khác nên trù trừ, từ chối việc đi võng. Anh em bảo nếu đi chậm, trời sáng mà chưa vô được cửa rừng địch phát hiện thì nguy hiển lắm. Cuối cùng tôi đã phải làm theo yêu cầu của đoàn.

Đường lên căn cứ người lên về qua mặt nhau cũng khá đông. Nằm trong võng nhìn ra thấy bộ đội lịch kịch súng đạn xuôi về đồng bằng, tôi nghĩ chiến trường còn kéo dài. Trông thấy những cái bắp chân trẻ trắng muốt trong ánh sánh nhờ nhờ tôi liên tuởng đến những thanh niên vừa tử giã các trường học ở miền Bắc để chi viện cho miền Nam. Trong tâm trí tôi tự dưng hiện lên tình cảm lãng mạn ngây thơ thời trẻ. Câu hát năm xưa tôi đã từng nghe bỗng vang lên bên tai: “ Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng”

*

*          *

Lên hết vùng núi trọt thì đến bìa rừng trời cũng vừa sáng hẳn.

Đến khoảng 8 giờ sáng một đống chí cán bộ của huyện uỷ Hương Trà ra đón tôi vào mời tôi vào huyện ủy. Huyện làm sẵn một cái lán nhỏ ghép bằng tranh nứa núp dười rừng giang chằng chịt. Lán tuy thấp bé nhưng sạch sẽ tươm tất. Trong lán có hầm và treo sẵn một cái võng dù. Người đại diện huyện tiếp tôi lúc đó là anh Phong (sau này anh đã hi sinh).

Nằm nghĩ ở huyện Hương Trà tôi rất yên tâm. Lúc ở nhà tôi thường nhìn lên núi Kim Phụng và ước ao có dịp được lên rừng chơi cho biết. Có lần tôi đã dặn những người thợ rừng nếu có điều kiện cho tôi đi rừng với. Bây giờ (tức 2-1968) nguyện vọng lên rừng của tôi đã đạt được.

Ở huyện Hương Trà một ngày một đêm rồi tôi tiếp tục lên căn cứ. Sáng ngày 17-2, anh Nguyễn Đức Hân đón tôi vào cơ quan Thành ủy.

Cơ quan Thành ủy đóng trong rừng sâu cây cao bóng mát. Nhà cửa dựng hai bên bờ suối, rãi rác trên các sườn đồi, trông rất đẹp.

Ở cơ quan Thành ủy được một hôm, hôm sau tôi tiếp tục đi vào khu vực bên kia khe Trái-nơi Thành ủy dành cho các vị trong UBND và Liên Minh.

Đến nơi tôi gặp ngay những nhân sĩ tri thức đã lên trước tôi chẳng hạn như bác Nguyễn Đoá, anh Tôn Thất Dương Tiềm, anh Lê Văn Hảo, anh Thành (Nguyễn Thúc Tuân), anh Hoàng Lê (tức Hoàng Phương Thảo)…Các vị nghe tôi đã lên đến nơi sức khoẻ tốt họ rất mừng và xem như một “kỳ công”.

Vào nghĩ được một lúc tôi được tin Hoà thượng Thích Đôn Hậu cũng sẽ lên. Tôi rất mừng nhưng cũng rất lo. (Có lẽ cũng đã có nhiều người đã lo cho tôi như thế). Tôi lo vì đường đi quá vất vả, ác liệt mà Hoà thượng thì đang chảy máu dạ dày…

Ngày 19-2 Hoà thượng lên đến căn cứ an toàn. Lúc ấy chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Chúng tôi định qua thăm Hoà thượng, nhưng bác sĩ Trần Thanh Văn nói nên để Hoà thượng nghỉ, ngoài chú Tâm Kiến phục vụ Hoà thượng còn chưa ai được vào thăm.

Sau đó mấy hôm Hoà thượng khoẻ và tiếp chuyện chúng tôi với nét mặt thanh thản như khi ngồi giảng giáo lý nhà Phật ở chùa Thiên Mụ ngày nào.                           

*

*          *

Sống ở căn cứ mấy hôm, bắt đầu quen với không khí ở chiến khu tôi thích nhất là được ở trong một căn nhà có đìa đạo xuyên trong núi đá kiên cố, mát mẻ. Mở cửa ra thấy một quả đồi trước mặt cây rừng xanh tươi, trong nhà róc rách tiếng suối chảy. Sáng thức dậy nghe vượn hú, chim trĩ kêu…Chẳng khác nào những cảnh thần tiên trong tưởng tượng. Mỗi khi đi công tác hoạt đổi chỗ ở, chúng tôi di chuyển theo dọc con suối. Suối nước mùa xuân trong nhìn xuống thấy tận đáy. Hai bên bờ hoa dại mọc đầy. Nhiếu cánh hoa trôi theo dòng nước không hiểu sẽ trôi về đâu. Có lần tôi thấy một loại hoa to bằng hoa sen, màu hồng thắm rất đẹp cứ dập dềnh với dòng nước, tôi thích quá. Núi rừng xanh tươi, chim kêu, vượn hót, suối chảy hoa trôi…thiên nhiên cho không thiếu một thứ gì. Chắc là cảnh đào nguyên xưa âu cũng như thế này. Tôi đã buột miệng nói với một vị đồng hành rằng:

 - “Non sông mình hùng vĩ, cỏ hoa gấm vóc. Được chính mặt trông thấy, tận hưởng vẽ đẹp đã là hạnh phúc rồi, huống chi còn được có mặt trong cái giai đoạn oanh liệt nhất của bốn ngàn năm lịch sử nước nhà này. Một đời người không dễ gì có được sự may mắn đó!”

 Những ngày bình yên trôi qua thật nhanh. Sáng ngày 23-2 có thông báo B52, mọi hoạt động bên ngoài phải ngưng để vào trú ẩn trong hầm. Tôi không hiểu B 52 cất cánh tử đảo Guam hay một sân bay xa xôi nào đó đã bằng cách nào ở đây mình có thể biết trước để ẩn tránh? Những thắc mắc của tôi chưa được giải đáp thì đến khoảng 10 giờ sáng bầu trời trở nên yên tĩnh đến lạ thường, rồi bỗng đâu những dây bom nổ inh tai nhức óc. Tôi ngồi trong địa đạo mà đất rung chuyển chao qua chao lại giống như ngồi trên võng. Khoảng 15 phút sau được báo yên. Tôi thầm khâm phục sự dự báo chính xác của lãnh đạo. Lòng tin và Cách mạng của tôi được cũng cố thêm.

Những ngày cuối tháng hai đầu tháng ba năm 1968 thật bận rộn. Các cơ quan văn hoá văn nghệ ở căn cứ thăm chúng tôi luôn. Văn nghệ sĩ có Thanh Hải, Vũ Ngàn Chi; cán bộn lãnh đạo đài phát thanh giải phóng (của Huế) có Trần Hoàn, Kim Cúc; đoàn văn công khu Trị Thiên Huế vừa đi biểu diễn trong Huế ra ghé thăm và ở lại biểu diễn.

 Một buổi chiều tôi cảm thấy ớn lạnh, rùng mình. Các bác sĩ đến khám cho tôi biết tôi đã bị sốt rét rừng. Đó là một thứ bệnh nguy hiểm nhưng ai chưa trải qua xem như chưa đủ “tiêu chuẩn” làm cán bộ kháng chiến. Run vài trận là nước da xanh ngay. Mặt dù sốt, ngồi run cầm cập nhưng tôi không bỏ một buổi sinh hoạt nào của Liên Minh và Uỷ ban Nhân dân Cách Mạng. Nhiều hôm họp ban ngày chưa xong thắp đèn họp ban đêm. Nhiều vấn đề bàn cãi rất sôi nỗi. Hôm thảo luận về việc lập toà án nhân dân có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Cuối cùng không thống nhấy được, phải gác lại.(và mãi vế sau cũng không thống nhất được). Một đồng chí mà tôi rât mến đã trách tôi: “Làm Cách Mạng mà chị không muốn tay mình dính máu à?” câu nói ấy làn cho tôi suy nghĩ và day dứt mãi nhưng tôi không thể làm gì hoen ố ngoài suy nghĩ mà tôi đã theo đuổi suốt đời.

Tôi bắt đầu thấy nhớ Huế, nhớ nhất là vườn An Hiên – nơi tôi cùng mẹ đã sống những năm tháng chính của đời tôi. Trải qua biết bao thay đổi nhưng tôi vẫn không rời An Hiên. Thế mà bây giờ tôi đã xa.

Biết tôi rất nhớ An Hiên nên khi các anh lãnh đạo có những tin tức không lành về An Hiên họ đều giấu tôi. Thế rồi một hôm, anh Lê Văn Hảo và anh Thuyết (tức nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường) đến thăm anh Hảo buột miệng nói (không biết nói thật hay nói chơi):

 - “Cái vườn nhà của chị đã bị thằng Đệ quận trưởng Hương Trà lên phá hết rồi?”

 - “Ra đi mình đã tính chuyện đó dứt khoát rồi”. Tôi đáp.

Tôi thật dứt khoát, tuy không tiếc, nhưng nghe cáu tin đó cũng thật không vui. Tôi nghĩ đến mấy tủ sách mà tôi đã gần gũi suốt mấy mươi năm, những cái bát hương thờ phụng cha mẹ và chồng tôi. Hình ảnh những chiếc tủ thờ bị bom đạn Mỹ đốt cháy leo lét tôi đã mục kích dọc đường hôm lên căn cứ bỗng hiện rõ trong tâm trí tôi. Tôi nghĩ dưới lằn bom đạn của chiến tranh không có những ngoại lệ. Có lẽ những sách vỡ và đồ thờ nhà tôi cũng đã cháy như thế. Âu đó cũng là chuyện bình thường. Đã thoát ly thì phải chấp nhận mọi giá. Điều quan trọng là làm sao có được một ngày chiến thắng để trở về. Lúc ấy sẽ có tất cả. Những ngậm ngùi trong lòng tôi tự dưng vơi dần.

Ngày 8-3-68 tôi nhận được giấy mời đi dự liên hoan chiến thắng Huế - Xuân Mậu Thân. Tôi chuẩn bị lên đường với tư cách là Phó Chủ tịch của Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Huế, UBNDCM Thừa Thiên-Huế. Dù mới sốt, chân đi còn run rẩy nhưng trong lòng rất vui, tôi tự nghĩ mình cũng là một người vừa chiến thắng.

Vườn An Hiên, 9-1987

Nguyễn Đắc Xuân ghi 

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123