Phần thứ nhất: Bút mực An Hiên

 

Từ ngôi trường ấy

Bà Đào Thị Xuân Yến

Năm 1923 tôi vào năm thứ nhất trường Đồng Khánh. So với bạn bè tôi thì tôi vào trường trể hơn mất một tháng. Bởi trước đó tôi đã bắt đầu học năm thứ nhất ở Trung học Qui Nhơn. Đang học thì được gia đình xin cho ra học Đồng Khánh, vì Đồng Khánh là trường nữ trung học độc nhất ở miền Trung, có chương trình dạy học đặc biệt. Nữ sinh được học trường Đồng Khánh là vinh dự lắm. Đó là lý do tôi xa Qui Nhơn quê ngoại của tôi.

Từ một tỉnh nhỏ ra học trường lớn ở Kinh, tôi rất lo. Nhờ biết lo nên sau vài trimestre (tam ca nguyệt) tôi cũng học được và chẳng bao lâu còn được khen thưởng như hồi còn học ở Qui Nhơn. Suốt bốn năm học, chỉ có chị Chồn (sau này là phu nhân của kiến trúc sư Hồ Đắc Cáo) và tôi (Đào Xuân Yến ) thay nhau đứng nhất nhì lớp. Nhờ học lực, lại xuất thân trong một gia đìng nghèo, cụ thân sinh tôi mất sớm nên tôi được nhà trường cho học bổng (boursière) ở nội trú không mất tiền. Trong lớp chỉ có hai học bổng mà thôi.

Đến năm 1927 tôi học năm thứ tư. Ai theo dõi việc học hành của tôi cũng đều nghĩ rằng tháng 5 năm đó bằng Thành Chung thế nào cũng đến với tôi. Nhưng ở đời không ai học được chữ ngờ…

Tôi không nhớ lúc đi học tôi ăn nói, giao tiếp thế nào mà được nhiều người đứng đắn tin cậy. Tuy tôi rất chăm học nhưng không hiểu vì sao dưới chiếu tôi nằm khi nào cũng có sách, báo, thơ, văn quốc cấm…..như Hải ngoại huyết thư, Lưu cầu huyết tệ tân thu…Qua chị Trần như Mân( bà Đào Duy Anh sau này), Hoàng Thị Vệ( bà Thân Trọng Phước sau này) là những người học trước tôi ba lớp( khi tôi lên tứ niên thì hai chị đã ra trường, chị Mân được bổ dụng làm giám thị trường Đồng Khánh) tôi được tiếp xúc với bác sĩ Trần Đình Nam, thầy Võ Liêm Sơn, ông Nguyễn Đình Ngân…Bác sĩ Trần Đình Nam thường gọi chúng tôi đến nhà chơi nghe bác sĩ nói chuyện tình hình thế giới và cho mượn sách về đọc. Lúc đó mà chúng tôi đã được đọc những cuốn như L'Expension de l'Allemagne( không nhớ tác giả nào), Cô Lâu Mộng của Võ Liêm Sơn…Về sau tôi mới hiểu các chị muốn đào tạo chúng tôi thành những người yêu nước.

Cuối năm 1925 tôi đang học năm thứ ba thì nghe tin nhà yêu nước Phan Bội Châu bị bắt ở Quảng Châu, người Pháp đưa cụ về nhà giamvà xử tử hình tại Hà Nội. Chúng tôi hết sức xúc động. Chị Trần Thị Như Mân-giám thị trường Đồng Khánh-làm một chuyện và từ trước đến lúc bấy giờ chưa ai giám làm, đó là việc chị đã thay mặt một số giáo viên và học sinh trường Đồng Khánh đánh điện tín cho toàn quyền Varren - Đảng viên Đảng xã hội Pháp, xin ân xá cho nhà yêu nước Phan Bội Châu.

Khi cụ Phan được ân xá và đưa về giam lỏng ở Huế (tại nhà tham tri bộ binh Nguyễn Bá Trác, số 17 Đặng Dung ngày nay), chị  Mân tổ chức một đoàn học sinh đến thăm cụ Phan. Tôi được đại diện chị em thăm thứ ba, chị Lê Thị Bảy (em gái thầy Lê Phước) đại diện chị em năm thứ hai. Trong đoàn đi thăm cụ Phan hình có cả chị Bội Lan.

 Khi chúng tôi đến được chỗ quản thúc cụ Phan, chúng tôi thấy có một số học sinh Khải Định đã ở đó, đặc biệt là hàng trăm đồng bào đang đứng chật cả sân bộ tham chờ để được tận mắt thấy cụ Phan.

Gặp nữ sinh Đồng Khánh cụ Phan rất mừng. Sau đó ít lâu cụ xin phép đến nói chuyện với trường Đồng Khánh (bài nói chuyện vừa được tái bản trong bộ Phan Bội Châu toàn tập).

Khi mới bị giam lỏng ở Huế, cụ Phan được Huỳnh Thúc Kháng, thầy Võ Liêm Sơn, bác sĩ Trần Đình Nam chăm sóc chu đáo.Bác sĩ Trần Đình Nam đang làm giám đốc bệnh viện trung ươn Huế của Pháp đi ủng hộ người lãnh tụ chống Pháp cho bọn thực dân Pháp căm ghét. Chúng đã trả thù bác sĩ Nam bằng cách đuổi bác sĩ lên cao nguyên. Hôm tiễn bác sĩ lên ga Huế, có đại diện của nữ sinh Đồng Khánh, trong đoàn có tôi có chị Bội Lan…Tấm biểu ngữ tiễn bác sĩ có viết “cũng nước non nhà”( ý nói lên cao nguyên cũng là một phần đất của Việt Nam không sao cả). Buổi tiễn đưa có cả bài diễn văn được viết sẵn. Tôi không nhớ ai viết, nội dung viết những gì và ai đọc…Tôi chỉ nhớ nghe bài viết giảng văn nầy lam cho bác sĩ rất cảm động.

Tuy bị giam lỏng cụ Phan vẫn tìm cách để tiếp xúc với ngững người yêu nước, những nam nữ học sinh có nhiệt huyết…Chúng tôi truyền tây nhau đọc Nam Quốc Dân Tu Trí, N ữ Quốc Dân Tu Trí do cụ Phan viết. Tuổi trẻ bắt đầu “xao xuyến” với những bài nói chuyện, những thơ văn của cụ Phan. Tình hình đó đã ảnh hưởng đến từng lớp học.

Năm tứ niên, một hôm đúng vào giờ học đạo đức (morale), bà giáo Durandeau dạy bài “Loyalisme” (ý nói trung thành với nước bảo hộ), tôi buột miệng hỏi bà giáo:       

Ở bên Pháp  người ta có học bài đó không?

Bà Durandeau thiệt thà đáp:

- Ở bên Pháp  là nước chính quốc, học Loyalisme làm gì! Chỉ dạy ở nước Bảo hộ để học sinh trung thành với nước Pháp thôi!

Câu trả lời gây cho học sinh một ức uất ngầm. Đến chiều 20 tháng 4 năm 1927, sắp đến ngày đi thi, tôi vận động chị em trong lớp:

- Chiều nay có composition morale (bài tập đạo đức), nếu ra bài Loyalisme thì đừng làm!

Giữa lúc bên trường Khải Định có một nam sinh tứ niên bị một thầy Pháp nhục mạ, anh cãi lại và bị đuổi ra khỏi lớp. (Sau nầy tôi mới biết anh nam sinh đó là anh Nguyễn Đình Diễu, anh đã bị miệt thị là đồ sale race-dòng giốn dơ bẩn).Cũng có tin học sinh một lớp nào đó phản đối thầy, yêu cẩu thầy giáo phải cho anh Diễu vào lớp.

Thầy giáo ấy không chịu bỏ lệnh đuổi anh Diễu, học sinh cả lớp ùn ùn kéo ra, nhà trường doạ nạt thì họ cũng không vào. Tôi phổ biến những tin tức ấy cho chị em nữ sinh Đồng Khánh, vận động viết đơn xin xuống Toà Khâm đề nghị can thiệp cho anh nam sinh bị đuổi học trở lại lớp học.

Viết đơn xong, cả lớp tứ niên sắp hàng tuần hàng xuống Toà Khâm; chị em mặt áo dài đen, quần trắng, dép guốc hẳn hoi, nón lá thì gửi vào phòng giám thị của chị Trần Thị Như Mân. Chúng tôi làm những việc ấy rất tự nhiên. Bởi thế không thấy được tai hại cho chi Mân khi gửi mấy chồng nón là vào phòng chị. Trong lúc đó chị Mân không thấy việc đó có lợi gì cho chị nhưng vì muốn ủng hộ những người học sinh thân yêu của mình, chị cũng nhận rồi đến đâu thì đến. 

Chiều hôm đó bà Durandeau đến lớp, không có học sinh, bà thở dài bỏ vào phòng hiệu trưởng.

Thấy chúng tôi kéo đi, học sinh các lớp élémenteire(sơ đẳng) chạy theo:

- Các chị ơi cho bọn em theo với!

Lúc chúng tôi vừa ra khỏi sân trường, nhà trường cho đóng cổng.

Học sinh các lớp élémentaire trèo tường chạy theo. Bà hiệu trưởng Boutron Damasy muốn ngăn mà không ngăn được đành đứng nhìn theo với nỗi thát vọng não nề.

Chúng tôi đi học theo đường Jules Ferry (nay là đường Lê Lợi). Bọn cò Tây được tin nữ sinh Đồng Khánh kéo về Toà Khâm, chúng rầm rầm rộ rộ đến đi dọc hai bên lề đường để sẵn sàng ngăn chặn những hành động bất thường của đoàn biểu tình. Thấy bọn có Tây mặt mày đỏ kè đằng đằng sát khí, chị em chúng tôi rất sợ, nhưng nghĩ mình có làm điều gì phạm pháp mà sợ nên cứ đi.

Bọn cò Tây xem chúng tôi như những kẻ phạm tội, chúng nạt nộ, mày tao với chị em nữ sinh. Bỗng chị Minette Jean người nhỏ nhắn sinh đẹp(sau nầy là bà Đoàn Nồng) tách ra khỏi hàng, ngước đôi mắt tôi nhìn thẳng vào mặt một cò Tây, bảo với giọng thẳng thắng:

- Nầy nầy, các ông không được “tutoyer” (mày tao) với chị em  chúng tôi, vô lễ!

Tên cò nghe chị nói một cách bất ngờ, hắn đành ngậm thinh. (Sau nầy có dịp xem câu thơ “Cô du kích nhỏ giương cao súng, thằng Mĩ…” đề dưới bức ảnh bắt phi công Mĩ, tôi lại nhớ hình ảnh chị Minette năm xưa..).

Về Toà Khâm (địa điểm toạ lạc trường Đại học sư phạm Huế ngày nay), chúng tôi xin gặp Khâm Sứ. Khâm sứ lúc đó là ông Friès, từng làm Khâm sứ ở Qui Nhơn, có biết cụ thân sinh tôi (cụ Đào Thái Hanh).

Friès có một bà vợ người Việt-cô Ba Thanh, cô Ba Thanh cũng biết má tôi. Tôi nghĩ sự quan biết ấy thế nào tôi cũng xin cho anh Diễu vào học lại được. Nhưng người của Toà Khâm ra trả lời chúng tôi Khâm sứ đi vắng.Chánh văn phòng ra tiếp chúng tôi, nhận đơn và hứa sẽ trình bày cặn kẻ với Khâm sứ. Học sinh đưa đơn xong nhưng không chịu về.Chị em đòi giải quyết việc nêu trong đơn rà mới chịu về. Một bên hứa, một bên đòi thực hiện ngay. Không bên nào chịu bên nào. Cuối cùng Toà Khâm gọi xe vòi rồng đến xịt giải tán cuộc đấu tranh.

Trong lúc nữ sinh Đồng Khánh xuống Toà Khâm bên bờ nam sông Hương thì ở bên bờ bắc sinh viên trường Hậu Bổ Quốc Tử Giám cũng “xuống đường”, trong đó, tôi còn nhớ có anh Ngô Võ Anh, Nguyễn Đình Diễn.v.v.,các anh đánh nhau với cò Pháp, nhiều lần u đầu.

Trời tối, áo quần ướt hết phải ra về. Nhưng về đâu bây giờ? Vô lẽ đấu tranh chưa có kết quả mà rút về nội trú ở Đồng Khánh thế sao? Mà biết trở về có được không? Ai lại chịu nhục nhã như thế!

Trong lúc bối rối thì bà Đạm Phương (Hội trưởng Nữ công học hội ) và Hồ Thị Hạnh ( tức Sư bà Diệu Không sau này ) xuất hiện. Bà Đạm Phương và cô Hạnh đã điều đình với bà Ưng Uý - người có nhà trống đang cho hai người Nam bộ thuê (ông Phan Văn Hùm và ông Nguyễn Văn Tề) đồng ý cho học sinh bãi khoá về tá túc. Các nữ sinh khác cũng xuống ở, đông lắm, tôi không còn nhớ hết.

 Chúng tôi ở nhà bà Ưng Uý  (tức bà Hồ Thị Huệ, chị ruột cô Hạnh, mẹ của nhà bác học Bửu Hội sau này) cả tuần lễ. Hai bà vợ ông Hùm, ông Tề nấu nướng phục vụ mỗi bữa đén hàng trăm người ăn. Lúc ấy, tôi không biết tiền ở đâu mà đài thọ được cho chu đáo, đầy đủ như thế. Sau mới biết việc bãi khoá của chúng tôi không những được học sinh ở Huế hưởng ứng mà còn có học sinh các tỉnh miền Trung ủng hộ, các nơi gửi tiền về cho. Hội quán Quảng Nam ở gần nhà cụ Phan trên dốc Bến Ngự là một đầu mối liên lạc, nhận thư, điện, tiền các nơi gửi về.

Hiệu trưởng trường Đồng Khánh đã thi hành mọi biện pháp: dụ dỗ, đe doạ… vẫn không gọi được học sinh về học. Cuối cùng chính quyền bảo hộ phải ra tay. Chính bắt ép những công chức có con em bãi khoá phải gọi con về đi học, nếu không, gia đình phải trả một số tiền chính phủ đã bỏ ra để dạy dỗ học sinh ấy trong quá khứ. Nặng hơn nữa, họ đuổi cha mẹ ra ngạch công chức. Nhiều học sinh vì áp lực cha mẹ phẩi trở về trường, một số khác “cứng đầu”, cha mẹ có khuyên lơn cũng không chịu về.

Tôi nói chuyện với các chị lớp dưới:

- Chúng tôi đã học hết chương trình lớp tứ niên, chỉ còn đi thi nữa là song. Tôi không khuyên mấy chị vào, nhưng nếu mấy chị ra thì sợ bỏ lõ việc học hành…!

Tôi nói chưa hết ý, các chị đã cắt ngan, trách tôi ngây:

- Các chị ích kĩ lăm! Sao các chị ra mà bắt chúng tôi vô học lại. Chnúg tôi không vô đâu, nhục nhã lắm!

Anh Phán của tôi (cán sự công chánh Huế) có cô con gái Xuân Huyên sắp bị đuổi, tôi khuyên anh đi xin cho cháu vào học lại, không ngờ anh cũng phản đối luôn:

- Em sợ bị nhục, bỏ trường mà đi, sao em bắt anh chịu nhục đi xin cho cháu học lại!

 Ông cử Nguyễn Đình Miến (nội tổ Nguyễn Đình Châu – Ban liên lạc đồng hương Huế ở TP HCM bây giờ) khen học sinh bãi khóa theo cách của ông:

- Bọn trẻ bây giờ nó có cái tứ hay thiệt!

Vì học sinh bãi khoá, chị giám thị Trần Thị Như Mân bị cho thôi việc, chị Thái Thị Bôi (hình như dòng dõi với nhà yêu Thái Phiên) bị đuổi học, chị Sính - người Việt gốc Hoa, gia đình nghèo bị tịch thu nhà cửa (để trừ tiền học)… Còn tôi - một người thường được các thầy cô gọi là “ major! Major” (người đứng đầu khóa) các môn học đều giỏi, chỉ có một bài học loyalisme (trung thành với mẫu quốc) là không học được. Tôi không đó cũng là bài học cuối cùng của tôi ở ngôi trường thân yêu - Collège Đồng Khánh. Tôi đã bị đuổi ra khỏi trường Đồng Khánh với một lời phê trong học bạ ảnh hưởng đến cả cuộc đời tôi:

 “Đuổi học vĩnh viễn ra khỏi trường trung học Đồng Khánh vì đã tham gia tích cực cuộc bãi khoá ngày 27.4.1927”.

Luật lệ giáo dục lúc bấy ấy qui định những người bị đuổi, không được học hành thi cữ trên toán cõi Đông Dương trong vòng hai năm.

Tham gia bãi khoá, tôi đã chấp nhận không học, không thi nữa. Em tôi là Xuân Nhạn cũng có ý như thế. Quyết định của nhà trường đuổi tôi không làm cho tôi ngạc nhiên.

Trường Đồng Khánh đã đã dạy tôi hết chương trình Thành Chung và cũng chính thời gian theo học ngôi trường nầy đã dạy cho tôi thế nào là trách nhiệm của một người dân khi nước mất.

Sau bãi khoá, chúng tôi tham gia phong trào dùng hàng nội hoá, chùng tôi lui tới Hội Nữ công do cụ Đạm Phương nữ sĩ làm Hội trưởng và chị Như Mân làm thư ký.

Năm nay, trường Đồng Khánh kỷ niệm 75 năm thành lập vào đúng năm thứ 65 tôi bỏ trường mà đi. Nhớ lại chuyện cũ không biết bao nhiêu kỉ niệm vui buồn…Nhưng điều mừng hơn cả là mỗi khi trở lại mái trường xưa, tôi – cũng như các chị em khác, không thấy có điều gì thẹn với tuổi trẻ của mình cả.

Những chị em đã học cùng một lớp với chúng tôi, những chị em khác lớp đã cùng tôi bãi khoá, vì lâu ngày tôi quên không nhắc lại trong đoạn hồi ức nầy, mong ccs chị thông cảm. Những ai còn sống nên viết bổ sung để những người soạn sử nhà trường tham khảo.

Một mai rồi sẽ có nhiều chuyện đổi thay, nhưng chắc chắn sự có mặt của trường Đồng Khánh trong lịch sử Huế sẽ vẫn còn mãi.

 

                                                         Tết Nhâm Thân – 1992

                                                       Đ. T. X. Y

                                                   (Quả phụ Nguyễn Đình Chi)   

           

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123