Phần thứ ba: Phụ lục

Phụ lục 1

Ái Châu Danh Thắng

(Trong Mộng Châu Thi Thảo, bản thảo còn dở dang của Đào Thái Hanh, hiệu Sa Giang)

PHAN NGỌC

Giới thiệu, dịch, chủ giải và bình luận

LỜI GIỚI THIỆU

Cuối 1990, tôi nhận được tập thơ Ái Châu danh thắng của cụ Đào Thái Hanh, hiệu là Sa Giang. Cô tôi, bà Nguyễn Đình Chi, tức Đào Thị Xuân Yến và bà Đào Thị Xuân Nhạn tức Trương Như Hy, bảo tôi dịch để ghi nhớ một kỷ niệm. Con người duy nhất tôi nguyện học tập và thay thế cha mẹ trong tâm khảm là Cô. Tôi làm nhiệm vụ đứa con để đền đáp ơn của thế hệ cha mẹ tôi, đặc biệt để xứng đáng với lòng tin cậy mà cô đã đặt ở tôi.

Về tiểu sử của tác giả có bài của anh Nguyễn Đắc Xuân. Tôi chỉ thu hẹp vào những nhận xét của một người dịch.

Tôi thuộc thế hệ những đứa con bất hiếu. Một thế hệ đã đi qua trước mắt tôi, thế hệ cha tôi. Thế hệ ấy đã mang theo mình một vốn liếng giàu có về văn hoá, nhân cách, một tâm tư u uất, một nỗi buồn không thể nói ra. Thế hệ tôi không chịu hiểu gì về những người cha lỗi lạc, mà lại thờ ơ, thậm chí bội bạc. Tôi nói thế này thừa biết có nhiều người ghét. Nhưng tôi tin chắc là nói những điều có ích bởi vì cần phải biết đề phòng sự bội bạc. Biện pháp: đừng gây nên một sự đứt đoạn tàn nhẫn trong văn hoá.

Cụ Đào Thái Hanh (1871-1916)

Thi tập Ái Châu Danh Thắng của Đào Thái Hanh, Thành Thái thứ 15 (1903).

Ái Châu Danh Thắng & Sự tích các nữ thần Việt Nam, Nxb Thuận Hóa (1995)

Đây là một thí dụ. Tại sao ngày nay không làm gì có một tập thơ theo loại “Ái Châu danh thắng”. Đó là về mặt đề tài, chưa nói đến giá trị văn học của tác phẩm. Ngày nay, cả thế giới đi xem thắng cảnh. Dịch vụ du lịch là một cách kinh doanh có lãi bậc nhất. Nhưng người ta tìm cái gì trong du lịch? Sự thoả mãn về mọi giác quan, về hiểu biết, về cá tính. Thế hệ cha ông chúng ta tìm hiểu thắng cảnh cũng say sưa không kém nhưng động cơ của sự tìm hiểu này rất khác. Không phải cha ông cha tìm sự thoả mãn về giác quan, mà tìm sự hoà nhập vào vũ trụ vào quá khứ, vào bản thân, một sự hoán cải về tinh thần. Đây là cái bí quyết mà ta vẫn phải nắm để hiểu tại sao ngày xưa có hàng vạn người vào núi, tại sao có thể có những bài thơ văn về núi non, phong cảnh hay đến mức không thể tìm thấy ở văn học phương tây hay hiện đại những bài xúc động đến như vậy.

Chúng ta phải hiểu các thế hệ của Sa Giang. Đó chính là thế hệ rất gần gũi với chúng ta. Đó là cha, ông chúng ta. Đó là thế hệ đạo đức trong sáng, nhân cách trong sạch, ý chí cao thượng nhưng khi ra đời đã cảm thấy tủi nhục. Hơn ai hết, họ hiểu họ đã mất nước. Hơn ai hết họ hiểu họ có nhiệm vụ giành độc lập cho Tổ quốc. Nhưng cuộc đời bế tắc, không thấy có một hy vọng gì thoát khỏi cảnh nô lệ. Thế rồi, những cảnh tàn nhẫn của cuộc sống bắt buộc họ phải làm quan. Mà làm quan tức là đứng về phía kẻ thù. Ai hiểu nỗi cô đơn ấy, nỗi đau khổ ấy? Không ai khổ hơn lớp cha ông chúng ta, những nhà nho uyên bác: họ học, họ tin những điều mà cuộc sống bắt phải phủ định. Cách làm duy nhất để tự cứu lấy mình là không ăn tiền, sống đạm bạc, tìm mọi cách che chở dân trong phạm vi có thể làm được. Tìm một chút vui còn sót lại trong thơ văn, trong quan hệ với bè bạn và trong sự gắn bó với quê hương, sông núi, xóm làng. Cái thế hệ ấy đã ra đi trong cô độc đau buồn. Mang trong người một cái tội tổ tông, thế hệ bắt đầu bằng Nguyễn Khuyến và kết thúc bằng cha tôi, các bác của tôi đã ra đi không dám bộc lộ tâm tư với ai. Đặc biệt với thế hệ chúng tôi. Bởi vì một sự xung đột giữa các thế hệ đã diễn ra, ngày càng gay gắt. Ở ngay tôi cùng có sự xung đột ấy nhưng nó it gay gắt hơn vì từ bé tôi đã tiếp nhận cái học cũ. Nếu tôi không nói thì thế hệ các con cháu của tôi càng không hiểu: cần phải vớt vát cái gì có thể vớt vát được để duy trì tính liên tục của văn hoá, mà trước hết là sự thông cảm.

Tập Ái Châu danh thắng chỉ có những bài thơ về núi sông. Hiểu nó về chữ nghĩa chẳng phải khó. Nhưng phê bình văn học chỉ mới thấy có chữ nghĩa, tức là cái phần hời hợt. Cần phải tìm cho ra các quan hệ bất biến.

Thơ châu Âu, thơ hiện đại cũng nói đến núi sông phong cảnh. Thơ cổ, thơ cha ông ta cũng thế. Nhưng hai thái độ hết sức khác nhau: văn hoá phương Tây, xuất phát từ sự đối lập giữa con người với vũ trụ. Phương Đông thì khác. Không một nhà tư tưởng nào xem con người là một thực thể đối lập với vũ trụ, con người bao giờ cũng là một bộ phận hữu cơ của vũ trụ và cái lý tưởng họ theo đuổi không phải là tìm mọi cách chinh phục ngoại giới, biến nó thành cái vật mà tôi chiếm hữu, sử dụng. Cái minh triết của nó cực kì đơn giản: tìm cách hoà nhập vào ngoại giới bằng hệ thống ứng xử thích hợp gọi là lễ, trong đó ngoại giới được tôn ty hoá, dù đó là núi sông, xã hội, triều đình theo cái tôn ty của chính trị. Cái tình cảm đối với thiên nhiên trong thơ hiện đại và thơ châu Âu không phải là tình cảm đối với thiên nhiên trong thơ cổ phương Đông. Người phương Tây và người hiện đại xem thiên nhiên là phương tiện. Cha ông ta xem thiên nhiên là cội nguồn.

Việc quay lại cội nguồn diễn ra do chổ có một sự gián cách. Đối với Đỗ Phủ, Lý Bạch, các nhà thơ Việt Nam tiếp xúc với phương Tây, cái gián cách ấy là triều đình. Một triều đình quan liếu hoá quên mất bồn phận đối với dân. Cái hay của thơ Đào Tiềm, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm trước hết chính là ở chổ nhà thơ bất lực trước cái gián cách, quay trở về cội nguồn để phá vỡ sự gián cách, trong hình thái học có hiện tượng vị dê-rô (morphème jéro) tức là mọt hình vị không xuất hiện trong ngôn ngữ nhưng nếu ta biết sử dụng, thêm vào trong từ thì cấu trúc các từ cực kì dễ hiểu và chặc chẽ. Còn trong thơ Sa Giang thì cái gián cách, cái hình vị dê-rô mà ta phải thêm vào cho đúng chổ để “đọc” các bài thơ của tác giả.

Nhìn bên ngoài Ái Châu danh thắng ghi lại chủ yếu những danh thắng của Thanh Hoá, nhất là huyện Nga Sơn nơi nhà thơ đã làm tri huyện trong ba năm. Có cái gì có vẻ tẻ nhạt của một quyển nhật kí. Có một cuộc hành trình: Đêm qua Bến Thẩm, đi thuyền sông Lương Giang. Có những ghi lại cuộc du ngoạn: Đề ở động Bích Đào, đề động Kim Sơn… Có những cảm nghĩ theo lối thơ vịnh cảnh “dường như” quen thuộc. Cái gì cũng bình thường. Những cái gì đã khiến cho các nhà nho lỗi lạc nhất thời đại thán phục, dù đó là các ông hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Duy Thiện, Nguyễn Khắc Niêm, các vị danh nho như Lê Chí Tuân, Tạ Thúc Đỉnh. Cái gì đã khiến cho các vị ấy đã thừa nhận là từ khi Đào Tiềm chết đi, thơ cũng chết luôn (ý nói thơ tìm lại thể thống nhất giữa con người với núi sông). Phải đến Đào Thái Hanh thơ mới sống lại. Cái gì đã bắt các cụ ấy phải thừa nhận thơ của Sa Giang có chổ vượt thời Thịnh Đường? Những con người trên đây không nói thế để lấy lòng đâu: các vị ấy rất có ý thức về lời nói của mình, khen mà không đúng là làm thương tổn tới nhân cách. Vả lại địa vị một ông huyện có to lớn gì trong óc của họ đâu? Bởi vì sự thật là thế. Bởi vì các vị ấy đọc thơ Sa Giang với cái hình vị dê-rô mà thế hệ chúng ta và sau này không nắm được.

Vậy tôi xin phép “đọc” thơ Sa Giang.

Sa Giang đến đất Nga Sơn lúc 30 tuổi, đại khái cùng tuổi với quan Tri Huyện Nga Sơn các đây và trăm năm là Tư Thức. Cùng một sự đào tạo, cùng một tâm trạng phóng khoáng, hào hoa. Nhưng Từ Thức đã phá vỡ sự gián cách bằng một tình yêu tiên giới, bằng việc rời bỏ thế gian thành tiên. Còn Sa Giang thì bó tay trước sự gián cách. Chỉ còn biết nhìn trong câm lặng. Biết nói gì đây? Bài thơ đó thường kết thúc bằng im lặng. Hoặc là im lặng trong thực tế khói sóng lúc hoàng hôn (Qua núi Hàm Rồng), cái áo phủ bèo (Xem động Bích Đào, đề ở vách), trước khói mây (Đề động Nghêu Sơn)… Hoặc là sự im lặng càng thêm sâu lắng do một tiếng động: tiếng vượn đêm trăng (Đề động Bích Đào), tiếng sáo trời chiều (Đề động Bích Đào), tiếng ve (Qua thành luỹ Bá Đình)…

Càng đẹp vô cùng. Những con người bất lực trước ngoại cảnh càng thấy nó đẹp, càng thấy mình bất lực. Biết tìm gì đây? Chỉ còn cách hồi tưởng những ngày còn người thực tế đã giúp phần làm cho nhân dân, núi sông đẹp đẽ, yên bình. Do đó bài thơ nào cũng hoà quyện vào quá khứ. Quá khứ sống dậy với sức khiêu gợi của nó. Cho nên Ái Châu danh thắng thực tế là lịch sử Á Châu đượm sắc thái của huyền thoại. Tôi, Sa Giang, có thể làm gì? Tôi nguyện góp phần giảm bớt những khổ đau của dân. Tôi chỉ có thể góp phần thôi vì sức tôi nhỏ bé quá. Tôi nguyện sống thanh bạch, lo đến dân. Niềm vui của tôi? Một chén rượu, một sự hoà nhập với gió trăng, mây khói. Niềm an ủi đã không làm dân khổ. Có thế thôi. Tôi biết nói cùng ai?

Tâm sự ấy, tâm sự Sa Giang, thế hệ sau cần phải hiểu. Chúng ta cẩn hiểu cái tâm sự ấy để sống cuộc sống hôm nay cho xứng đáng với một truyền thống tốt đẹp.

Tôi dịch thơ Sa Giang, vừa dịch vừa khóc. Nhưng ghi lại vài dòng của người dịch. Của một người có lỗi. Mong rằng bạn đọc thông cảm với tập thơ kí sự đồng thời là sự gửi gắm tâm hồn một thi nhân.

Ngày 25 tháng 8 năm 1992

P.N

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123