Phụ lục 7: Tài liệu số 18 của mật thám Pháp: khẩu cung của bà Nguyễn Thị Thanh, chị của Nguyễn Tất Thành, tháng 5-1920

Trung Kỳ
Sở Mật Thám
MẬT VĂN SỐ 711

Huế ngày 7 tháng 5 - 1920

                     Kính gởi Thanh tra Mật Thám SCR và SG ở Hà Nội

         Tin tức chuyển gởi tiếp theo Mật văn số 600 cùng ngày 28-4, do công sứ Quảng Ngãi cung cấp.

“Bức ảnh đính kèm ở văn thư của Ngài, đã được trao cho Nguyễn Thị Thanh xem. Cô ta xem rất kỹ, lâu và chưa nói với tôi ngay đó là ai, rồi thì thấy ảnh chụp một người Nam mặc y phục Âu Tây và nghĩ rằng nếu người ta trình xem bức ảnh là có ý muốn cô ta nhận diện một người nào trong gia đình hoặc thân thuộc, cô ta nói với tôi về đứa em trai, Nguyễn Sinh Côn, hiện đang ở Anh quốc và nói với tôi là đó chính là đứa em của cô, vì cô thấy có sự giống nhau ở đôi mắt. Tuy nhiên cô ta nói thêm rằng cô ta không thể đoán chắc với tôi có thật đó là đứa em của cô không vì cô đã không gặp trót 10 năm nay, tuy lúc ấy em cô đã 17 hay 18 tuổi rồi. Vào thời kỳ đó, nó rất mảnh mai, có khuôn mặt bầu, mặt mày sáng sủa và rất dễ mến (séduisante). Những nét mặt có thể thay đổi nhiều, nhưng nếu người ta đem đối chiếu ảnh với người thật thì cô ta luôn luôn chắc chắn nhìn nhận ra ngay nhờ một vết sẹo rất rõ ở trên tai. Cô ta không còn nhớ ở tai phải hay tai trái bị một cái nhọt thiếu săn sóc lúc còn nhỏ vành tai phía trên bị sưng phù lên và hơi bị sứt.

Nhân cuộc đối chất này, tôi tưởng nên ra lệnh cho Nguyễn Thị Thanh cung cấp tin tức về gia đình của cô, tin tức rất quan trọng để đối chiếu tin tức do Tổng Đốc Nghệ An ở Vinh cung cấp và Ngài đã chuyển cho tôi ở Mật văn số 291 ngày 23 tháng 2 vừa rồi.

Nguyễn Thị Thanh khai với tôi như sau:

Cha của cô nguyên quán làng Kim Liên, Tổng Lam Thinh, huyện Nam Đàn (Nghệ An) lúc thiếu thời tên gọi là Nguyễn Sinh Sắc và sớm được đổi thành Nguyễn Sinh Huy khi ông ta đỗ Cử nhân. Mẹ của cô nguyên quán làng Huang Trân(1), gần Kim Liên và cùng một tổng.

Nguyễn Sinh Huy có một người con gái và hai người con trai: Nguyễn Thị Thanh, chị cả sinh năm 1887, hai người con trai là Nguyễn Sinh Khiêm, sinh năm 1890 và Nguyễn Sinh Côn sinh năm 1893. Hai đứa em trai sau đổi tên (cô không nhớ chính xác vào thời nào) là Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành. Cô cũng có một em trai thứ ba sinh khoảng 1900 chỉ sống có một tháng rưỡi thôi.

Vào năm 1894 cô ta mới 8 tuổi, cha cô đỗ Cử  nhơn và vào chuyển vào Huế cùng với mẹ cô và hai người em trai, để cô lại một mình với bà ngoại ở làng Hoàng Trù. Ở Huế ông xin được 1 việc làm nho nhỏ với đồng lương ở Sở Nông nghiệp và đã 2 lần được đề cử đi làm giám khảo (examinateur) các kỳ thi Hương ở Bình Định và Thanh Hóa, vào khoảng các năm 1897 và 1900.

Sau lần giám khảo cuối cùng này (1900), khi đi ngang qua Vinh, ông tranh thủ về làng quê ở Kim Liên để lo xây mộ song thân ông. Ông về làng được ba tháng thì được tin bà vợ ở Huế qua đời vào ngày 19 tháng Chạp năm Thành Thái thứ 12 (nhằm ngày 7 tháng 2 năm 1901), ông tức tốc quay về Huế gặp lại hai người con trai đang ở với mẹ. 

Tháng 4 năm sau (tháng 5-1901) Nguyễn Sinh Huy đỗ Phó bảng và vào tháng 8 ông trở lại Kim Liên với hai người con trai, gặp lại con gái Nguyễn Thị Thanh lúc này đã rời làng Hoàng Trù (1 tháng sau cái chết của mẹ cô) về  làng Kim Liên. Ở đó cô sống với một người giúp việc trong ngôi nhà của thân sinh cô. Lúc ấy cô được 14 tuổi, Khiêm 11 tuổi và Côn 8 tuổi.

Nguyễn Sinh Huy ở lại Kim Liên khoảng 1 năm, rồi trở lại Huế năm 1902 với 2 con trai. Ở đây ông được lên làm Hàn lâm viện Kiểm  thảo rồi được thăng lên làm Thừa biện Bộ Lễ.

Vào năm 1906, Nguyễn Thị Thanh đi với cô giúp việc vào với thân sinh cô ở Huế; Đó là lần đầu tiên cô đến Huế. Nhưng cô ta không thể chịu đựng lâu dài cái tính nóng nảy của cha khi uống rượu say và thường hay đập đánh cô ta nữa. Năm sau, cô trở về làng Kim Liên ở trong ngôi nhà của thân sinh cô với hai người giúp việc. Cô cho biết biết vào năm 1909 thân sinh cô được đề cử đi làm giám khảo kỳ thi Hương tại Bình Định và cũng trong năm đó ông được bổ làm tri huyện Bình Khê, hai người con trai cùng đi với ông. Sau 7 hay 8 tháng, Nguyễn Sinh Huy bị bãi chức vì chứng say rượu và trở về Huế vào năm 1910 với con trai lớn Nguyễn Tất Đạt, còn Nguyễn Tất Thành thì ở lại Bình Định rồi sau làm trợ giáo ở trường Dục Thanh (Phan Thiết).

Cũng từ dạo ấy Nguyễn Thị Thanh không còn có tin tức gì của thân sinh cô nữa. Người ta đã bắn tin rằng ông đã chết, nhưng vài tháng trước khi cô bị bắt vào năm 1917 hay 1918 gì đó cô lại được tin thân sinh cô đang ở tỉnh Gia Định.

Nguyễn Tất Đạt không ở Huế bao lâu. Vì cần tiền, anh đã trở về làng Kim Liên làm công cho nhà in Ô.OGER ở Vinh(1) trong một vài  năm. Bị tố cáo có mưu đồ với kẻ phản loạn anh bị bắt, bị xử án và bị đày đi Khánh Hòa, ở đó anh đã viết hai lá thư gởi chị, trước khi bà chị bị bắt.

Về vấn đề liên quan đến Nguyễn Tất Thành, cô ta vẫn tưởng làm trợ giáo ở Bình Định, sau đó năm 1911, cô nhận 1 lá thư của em gởi từ Pháp tin cho biết anh ta đã rời Sài Gòn với một người Âu để tiếp tục sự học ở Pháp và sẽ trở về trong năm sáu năm nữa: Lá thư này bị đánh cắp. Cuối năm 1915, qua trung gian của Tòa Công sứ Vinh, cô nhận được một lá thư của một viên chức làm việc ở Hải Phòng (?) cho biết em của cô đã đi Luân Đôn cùng với đứa con thứ 3 của viên chức này và cho địa chỉ ở Luân Đôn. Cô không thể nói rõ viên chức ấy là ai, cũng không nhớ địa chỉ người ấy đã cho, cô chỉ nhớ mơ hồ chữ  “VON” ghi ở địa chỉ. Cô ta cất lá thư đó trong một cái rương nhưng cô không rõ bây giờ nó thế nào vì tất cả của cải của cô đều bị tịch thu trong một vụ lục sóat nhà cô sau khi cô bị bắt vào năm 1918. Sau đó, Nguyễn Thị Thanh cũng không có tin tức gì về em trai của cô là Nguyễn Tất Thành nữa.

Những tin tức này bổ túc cho những tin tức thành phố Vinh cung cấp và cho phép chúng ta tin chắc Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Tất Thành là một người. Ngòai ra, thật hết sức quan trọng nếu cố tìm xem “Nguyễn Ái Quốc” có vết sẹo ở tai như Nguyễn Tất Thành đã có.

Bức ảnh này cũng sẽ trình cho những kẻ khác biết được Nguyễn Tất Thành, nhất là thời kỳ còn là học sinh Quốc Học ở Huế, lấy tên là Sinh Cô”.

Thanh tra Mật Thám Trung Kỳ
Ký: Sogny

                                                                     (AOM, SPCE 364)
(Do Nguyễn Đắc Xuân chuyển ngữ, xem nguyên bản tiếng Pháp kèm theo sau)


(1) Có lẽ là Hoàng Trù nhưng người Pháp nghe ra là Huang Trân. NĐX

(1) Thật vậy, Nguyễn Tất Đạt làm công cho ông OGER trong thời kỳ ông này làm phụ tá quản lý hành chính ở Vinh, để dịch những sách chữ Hán mà viên chức này cần dùng trong việc soạn một tác phẩm về Đông Dương (Ghi chú của Sở Mật Thám Huế).
 

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123