Chương 13: Những tháng ngày ở các tỉnh phía Nam

Mặc dù Bình Định và các tỉnh phía Nam không phải là địa bàn nghiên cứu của tôi, nhưng đã nhắc đến huyện Bình Khê thì tôi vẫn phải theo phương pháp cổ điển nhất là phải đặt chân đến nghiên cứu tại chỗ.

Tôi có một người em trai  sinh sống tại Quy Nhơn, nhờ thế việc “đi thực tế” của tôi tại Bình Khê đỡ phần tốn kém. Tôi thực hiện chuyến đi này khoảng tháng năm 1980. Đường bộ từ Quy Nhơn lên đến Bình Khê khoảng 40 km.

Đi Honda, ngồi sau lưng chú em, lòng tôi cứ nghĩ mình sắp lên một nơi “chó ăn đá, gà ăn muối”. Tôi chờ đợi bắt gặp những trái đồi khô cằn, những thửa ruộng xác xơ để mô tả mảnh đất đói nghèo-nơi cha con ông Phó bảng Huy đã sống từ tháng 5.1909 đến tháng 1.1910(1). Nhưng không ngờ: Bình Khê đã được đổi thành huyện Tây Sơn rất trù phú: màu xanh của lúa, của mía phủ kín cả đất ruộng, đất màu. Từng đàn chim mía bay rộn ràng qua khung trời xanh. Hầu hết nhà dân Tây Sơn đều lợp ngói. Tôi không tìm ra đâu một mái nhà tranh. Chợ Tây Sơn buôn bán tấp nập, xe đò đứng “ăn hàng” ở chợ đầy nhóc.

Đứng giữa thị trấn Tây Sơn, lòng tôi tràn đầy một cảm xúc khó tả, ngỡ ngàng giữa sự hiểu biết cũ và thực tế mới. Không hiểu được tâm trạng của tôi, chú em cầm tay kéo vào một quán ăn:

- “Độ này đang mùa chim mía-đặc sản của dân Tây Sơn, anh vào ăn một trận cho vui rồi hãy đi nghiên cứu!”

Không thể từ chối được, tôi phải đi theo người em. Chim mía nhổ lông rồi còn lại bằng ngón tay cái, thịt thơm, xương dòn. Thịt chim ram hay nướng gì để nhắm rượu cũng ngon cả. Ăn thịt chim kèm theo rau thạch gây một vị rất lạ. Tôi không tả được nên nói đại với người em: “Đây là hương vị Tây Sơn”. Tôi thấy khách từ Quy Nhơn lên, từ Cao Nguyên xuống dừng xe vào ăn chim mía rất đông. Nhìn họ ăn, họ chắp chắp miệng  tôi tưởng tượng là ngon lắm. Nhưng riêng tôi thì chưa thích lắm, bởi vì lòng tôi đang nôn nao muốn ăn nhanh để có thể rảo bước đến ngay cái mảnh đất huyện đường Bình Khê cũ-nơi Bác đã sống qua. Em tôi hiểu ý nên cũng chấm dứt nhanh cuộc “nhậu” miễn cưỡng này.

Tôi đến nơi đặt huyện đường Bình Khê năm xưa lòng bồi hồi xúc động. Nhưng rất tiếc đến nay (1980) không còn dấu vết gì, nền nhà cũ đã phá đi làm cơ quan và nhà ở mới. Tôi ngước mắt nhìn lên vùng An Khê với các hòn “ông Nhạc”, “ông Bình”, tôi quay lại nhìn dòng sông Côn nước rút bày cả lòng sông sỏi cát, bến thuyền Trường trầu vắng vẻ gợi lên một cảm giác xa xưa, man mát. Tôi đi về phía quê hương anh em Tây Sơn, qua cầu sông Côn lên thăm ngôi đình Thành hoàng-nơi có cái nền nhà Nguyễn Huệ hai trăm năm trước. Tôi thăm giếng nước, thăm cây me “giải khát” cho quân Tây Sơn. Tôi tin chắc ngày xưa đến Bình Khê với cụ thân sinh, Bác Hồ đã nhiều lần đến chơi dưới gốc cây me cổ thụ này!

Những người cao tuổi giới thiệu với tôi ông Bùi Gia Tưởng (con trai ông Bùi Duệ), ông Bảy Thiêm ở làng Xuân Huề, xã Bình Phú (cũ). Các cụ đã trên 90 tuổi. Qua các ông tôi được biết: “Lúc hai anh em con ông Huyện đến đây, dân địa phương thường gọi là cậu Ấm Khôm và cậu Ấm Rôm. Ông Hương bộ Yêm lúc còn sống có giữ một tấm ảnh ông Huyện chụp với hai người con trai. Hai cậu Ấm mặc áo dài đen đứng hai bên ông Huyện trông rất chững chạc.”

Tôi hỏi;

- “Vì sao mà gọi là Ấm Khôm và Ấm Rôm?”

Các ông cười:

- “Khôm có lẽ là đọc trại chữ Khiêm. Còn Rôm có lẽ là cậu em hay đi chơi ngoài nắng người bị sảy rôm lên chăng?”

- “Tấm ảnh ấy” - Tôi hỏi - “bây giờ ở đâu, thưa các cụ?”

Các ông lắc đầu:

- “Ồ lâu quá rồi. Ông Quách Tấn - tác giả Nước Non Bình Định, năm 1947 có về tìm tấm ảnh đó, nhưng không rõ Quách Tấn có tìm được không!”

Thế là tôi nhanh chóng theo chú em trở về ngay Qui Nhơn, sáng hôm sau tôi đi xe đò vào Nha Trang tìm nhà thơ cổ điển Quách Tấn ở số 12 Bến Chợ.

Ông Quách Tấn cho biết năm 1929 ông đã thấy tấm ảnh đó ở nhà Hương bộ Yêm, nhưng năm 1947 ông về tìm thì ông Hương bộ Yêm đã mất, tấm ảnh đã chuyển sang tay người khác... Lúc đó tôi - tức Quách Tấn - cứ tưởng tấm ảnh đã vô tay những người cách mạng, chớ không ngờ... Nhưng tôi tin là tấm ảnh vẫn còn.

Trên đường trở lại Huế tôi có ghé lại Bình Khê lần nữa song không tìm thêm được “tin tức” gì cụ thể hơn.

Sau những lúc “bế tắc”, nghẽn đường tôi thường nằm moi trong trí nhớ của mình, đọc lại tư liệu trong các sổ tay và nghe lại các cuốn băng đã thu tiếng nói của những “nhân chứng” cao tuổi.

Trong cuốn sổ tay của tôi có ghi một đoạn:

- “Bác nói Bác đã từng học sư phạm tại Qui Nhơn”. Câu nói đó tôi ghi vội và sơ sót đã không ghi tên người kể và cũng không ghi được trường hợp nào Bác đã nói như thế. Khi nghiên cứu về Bác thì tôi hoàn toàn không nhớ đến chi tiết này.

Lại trong cuốn băng hỏi chuyện thầy Hồ Đắc Định có mấy câu kết thúc:

Lời thầy Định:

- “Còn tôi nếu anh thấy cần, tôi sẽ kể thêm một vài mẫu chuyện về thời gian Bác ở Qui Nhơn”.

- “Cám ơn thầy - Lời của tôi trong băng - Để thầy nghỉ. Con chỉ nghiên cứu về thời gian Bác Hồ ở Huế thôi!”

Nghe lại tiếng nói của mình trong băng tôi rất ân hận và tự trách mình: “Tại sao lúc đó mình lại nhác đến thế? Cục bộ đến thế? “Tôi càng ân hận hơn khi tôi trở lại hỏi chuyện ông Định thì ông đã đau nặng yếu quá không thể tiếp chuyện tôi được nữa. Ông bảo tôi xé tờ lịch lật ngược lại để ông viết cho tôi mấy chữ nguệch ngoạc: “Anh vô Thành tìm cụ Nguyễn Đạm mà hỏi. Tôi có kể lại với cụ Đạm lúc cụ Đạm làm việc ở tòa Khâm”.

Cầm mảnh giấy trong tay tôi mừng rỡ không dám chần chờ nữa, tôi ngược đường Nguyễn Chí Thanh, băng qua cầu Đông Ba vào ngay Thành Nội để gặp lại cụ Nguyễn Đạm.

Tôi thú hết “tội lỗi” với ông Nguyễn Đạm và tôi đã được ông “tha tội” bằng một số thông tin sau đây:

- “Anh Thành ở Bình Khê với ông cụ, hình như cha con lúc đó gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế. Trước cuộc sống khó khăn đó, anh Thành phải đi tìm việc làm để kiếm sống qua ngày. Anh xuống Qui Nhơn trú trong nhà ông bà Phạm Ngọc Thọ  - Công Tôn nữ Chánh Tín (cháu nội Tuy Lý Vương). Ông Phạm Ngọc Thọ đã từng dạy Pháp văn Nguyễn Sinh Cung tại trường Pháp Việt Đông Ba. Bà Công Tôn nữ Chánh Tín là em ruột cụ Ưng Dự - người cũng từng dạy Pháp văn cho Nguyễn Sinh Cung tại trường Pháp Việt Đông Ba và Lớp chiều (Cours du soir) tại Ngã Giữa (Phan Đăng Lưu và Trần Hưng Đạo ngày nay.)(2) Cuối năm 1909, Qui Nhơn mở khoa thi lấy Tổng sư đầu tiên. Anh Thành về nạp đơn ứng thí với cái bằng tiểu học mang tên Nguyễn Sinh Côn. Anh hy vọng bọn thực dân ở đây không hay biết gì về việc anh giúp dân chống thuế và buộc phải tự nghỉ học ở Huế.

Viên chánh chủ khảo khoa thi Tổng sư năm ấy là thầy Hồ Đắc Quỳnh-người đã dạy anh Thành ở trường Pháp Việt Đông Ba. Một phần vì kiến thức rộng và khả năng sư phạm của anh, một phần vì tình thầy trò cũ, khoa thi Tổng sư năm ấy anh Thành đã được chấm đỗ đầu bảng. Nhưng không may, lúc danh sách những người mới trúng tuyển chuyển đến tay Công sứ Pháp ở Bình Định là Friès (tên Công sứ đã có thành tích dìm phong trào chống thuế ở Bình Định trong biển máu) thì tên Nguyễn Sinh Côn đã bị gạch. Thật là họa vô đơn chí! Lý do rất dễ hiểu vì tên tuổi tất cả những người chống thuế ở miền Trung bị theo dõi đã được thông báo đầy đủ ở toà sứ của Friès từ lâu!”

Phải chăng đây là sự kiện mà sau này Bác vẫn còn nhớ và kể lại với một cán bộ nào đó là Bác đã học Sư phạm ở Qui Nhơn chăng?

*

*    *

Không được học tổng sư ở Qui Nhơn, tại sao Bác không trở lại Huế, không về Nghệ An mà lại vào Phan Thiết?

Vì sao lại vào Phan Thiết mà không vào thẳng Sài Gòn hoặc một tỉnh nào đó phía trong Qui Nhơn?

- Bác không trở lại Huế vì cái bằng Tiểu học của Bác mang tên Côn-cái tên đang bị thực dân Pháp theo dõi. Bác không thể tìm được việc làm ở cái đất đặt tòa Khâm sứ Trung kỳ này(3). Bác lại càng không về Nghệ An, bởi vì thực dân Pháp cũng đang đàn áp những người yêu nước ở Nghệ An rất dữ dội. Trở về Nghệ An lúc đó không khác gì hành động Bác tự đem nộp mình cho kẻ thù. Bác không thể vào ngay Sài Gòn, vì Sài Gòn lúc đó là thuộc địa của Pháp, người Trung kỳ muốn vào phải có đầy đủ giấy tờ như sang một nước khác. Nhiều người cho rằng: đầu thế kỷ XX - biên giới của nước Pháp sang đến tận Nam kỳ. Thế thì Bác có muốn mười mươi đi nữa cũng không thể nào vào ngay được. Bác cũng không vào một tỉnh nào khác vì những địa phương đó không có những thuận lợi đối với Bác như Phan Thiết mà tôi sẽ trình bày sau đây.

Phan Thiết là đất “tị địa”. Không khí chính trị ở Phan Thiết dễ thở hơn so với các tỉnh ở Trung kỳ đã thấm máu đồng bào chống thuế năm 1908. Trong tác phẩm Trung kỳ Dân biến thỉ mạc ký, ông Phan Chu Trinh cho biết: “Tình hình Bình Thuận không có lộn xộn gì. Quan tỉnh ấy có thừa dịp Khâm sứ (Trung Kỳ) chỉ thị thêu dệt kết án hơn 10 người từ 5 đến 10 năm tù. Công sứ tỉnh ấy là Garnier công bình không chịu kê tên, lại biện bạch giúp thả ra, không ai mắc tội, chỉ bị quan Nam bắt giam một vài tháng thôi.”(4). Do mâu thuẫn giữa Khâm sứ Trung kỳ và Công sứ Bình Thuận mà không khí chính trị ở đây dễ thở, trường Nghĩa thục Dục Thanh không bị đóng cửa như các trường Nghĩa thục ở Nghệ An, Quảng Nam, Hà Nội.

Đang bị thực dân theo dõi, lúc ấy không nơi nào trên dãi đất Trung kỳ dung Bác tốt bằng Phan Thiết.

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê tác giả sách Đông Kinh Nghĩa Thục cho biết trong thời gian ấy cũng có Nguyễn Hữu Hoàng quê ở Hà Tĩnh bị can

tội chống thuế ở Quảng Nam cũng bỏ trốn vào Phan Thiết dạy học theo tinh thần của các trường Nghĩa thục của phong trào Duy Tân(5). Phan Thiết là nơi dễ làm ăn lại thiếu người có chữ. Giữa tháng 5 năm 1905, ông Phan Chu Trinh - trong một chuyến “Nam du” cổ động cho phong trào Duy Tân ở Phan Thiết đã có một bài thơ mô tả tỉnh Bình Thuận với những câu:

“Gái lo trang điểm màu son phấn

Trai lại trau tria cuộc ngựa gà”

“Thanh khí rán bòn năm bảy kẻ

Văn chương cằn sảy một đôi nhà”

Tình hình làm ăn thuận lợi ở Phan Thiết (thuộc tỉnh Bình Thuận) có lẽ Bác đã được người bạn đồng khoa của cụ thân sinh cho biết từ những năm mới trở lại Kinh đô (1905-1906). Do đó, phải chăng khi gặp bế tắc ở Qui Nhơn, tiếng gọi của Phan Thiết lại vang lên và Bác đã đi theo tiếng gọi ấy?

Phan Thiết cũng là nơi Nguyễn Hiệt Chi - anh ruột của Nguyễn Hàn Chi - thường gọi là Khoá Nối, đang sinh sống và đang tham gia các hoạt động yêu nước. Và như bạn đọc đã biết ông Hàn Chi là bạn đồng hương Nghệ Tĩnh, một lãnh tụ của cuộc chống thuế ở Huế mà Bác có tham gia. Ông Hàn Chi đã hy sinh, chắc chắn ông Hiệt Chi sẽ rất mừng khi được đón “chiến hữu” của em mình là Bác (thông thường là như thế). Chúng ta có thể phỏng đoán: khi nói đến Phan Thiết, có lẽ Bác đã nghĩ đến người anh của Hàn Chi. Vì mối thân tình này mà ông Hiệt Chi đã cho con trai là Nguyễn Kinh Chi đến học với Bác khi Bác dạy học tại trường Dục Thanh chăng? (Anh Từ Chi - Một nhà Đông Nam Á học nổi tiếng của ta, là con trai ông Nguyễn Kinh Chi, tuy không được người xưa kể lại, nhưng anh cũng đồng ý với những phỏng đoán nêu trên của tôi).

Để hỗ trợ thêm cơ sở thực tế cho những phỏng đoán này tôi xin trích một đoạn tự thuật của ông Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại (lúc ấy làm quan tại Khánh hòa) để bạn đọc tham khảo:

Dân cư hai tỉnh Thuận Khánh (tức Bình Thuận và Khánh Hoà. NĐX) phần đông làm nghề nông không chuộng văn học. Sở xưng cử tú trong tỉnh phần nhiều là Nghệ Tĩnh ngụ cư. Người làm việc phần nhiều học trò Quảng Ngãi. Còn người bản tỉnh ngoài những người làm ruộng và chăn nuôi, toàn là những người ăn chơi... Tại Bỉnh Thuận có Tú tài Nguyễn Hiệt Chi hội hợp các bạn lập nên Liên thành thơ quán, ủy người đến xin, ta có câu đối:

“Dự ngã tẩy trừ ô não cựu

Vị quân diễn thuyết vũ đài tân””(6)

Ngoài ra, Phan Thiết còn là nơi ông Hồ Tá Bang đang hoạt động.

Ông Bang người Kế Môn (huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế), học trò của Nguyễn Lộ Trạch, là bạn Tân thơ, Tân sách với Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc khi ông ở Huế. Ông đã vào Phan thiết tiếp tục công việc của Nguyễn Lộ Trạch dang dở. Ông Ưng Thuyên Vu Hương đã từng nhắc đến tên ông. Tôi cũng được gia đình ông Phan Bội Châu ở Bến Ngự cho biết: “Ngày xưa cụ Phan đã từng kể Hồ Chí Hữu (tức Hồ Tá Bang) ở Phan Thiết đã đóng phần dẫn dắt Nguyễn Ái Quốc vào Sài Gòn đi tìm đường cứu nước.”

Vì vai trò của ông Bang nếu đúng như thế thì quá quan trọng nên tôi phải tìm hỏi chuyện của gia đình ông Bang.

Trên đường đi Phan Thiết, tôi gặp bác sĩ Đối - bạn đồng nghiệp với bác sĩ Hồ Tá Khanh - con trai ông Bang. Bác sĩ Đối (ở Đà Nẵng) khuyên tôi không nên vào Phan Thiết, mà nên vào thành phố Hồ Chí Minh gặp bà con gái của ông Bang ở tại số nhà 52 đường Bàn Cờ, Quận 3.

Nhờ sự chỉ dẫn chính xác của bác sĩ Đối, tôi đã gặp bà con gái của ông Bang tên là Hồ Thị Liệt. Chồng bà là ông Lê Trung Ngạn - một công chức nhỏ đã về hưu từ lâu. Hiện nay hai ông bà sống qua ngày nhờ vào một tủ sách bày bán ngay tại nhà. Lúc đầu tiếp tôi, ông Ngạn có vẻ dè dặt. Tôi đoán biết ý ông chưa tin vào khả năng làm việc của tôi, nên tôi phải tự giới thiệu mình bằng những tài liệu tôi đã viết về Bác Hồ đã in trên báo và ngay cả những bài chưa in báo lần nào. Khi hai ông bà bắt đầu tin tôi thì họ cung cấp cho tôi tất cả những tư liệu mà gia đình còn giữ được. Trong chuyến đi ấy có anh Trần Viết Ngạc (Khoa Sử Đại học Sư phạm Huế) và anh Nguyễn Hữu Châu Phan (một người nghiên cứu lịch sử lâu năm ở Huế), các anh đã giúp tôi chụp ảnh toàn bộ những tư liệu cần thiết.

Trước khi đi vào phần nội dung, bà Liệt đã tâm sự:

(Trích băng ghi âm)

- “Tôi mới trên 70 nên không được hân hạnh gặp Bác Hồ lúc Người dạy học ở Phan Thiết. Những gì tôi được nghe cha mẹ kể lại đến nay bệnh hoạn tôi cũng không còn nhớ được bao lăm!

Trước ngày giải phóng 1975, tôi đau dữ lắm. May mà tôi sang Pháp kịp để giải phẫu cái gan chớ không tôi chết rồi. Nhưng không ai ngờ chữa bệnh sắp lành thì giải phóng miền Nam. Hết lo chết lại lo bị kẹt xa gia đình chồng con, buồn cũng muốn chết luôn. Sau đó nghe tin Thủ tướng Pham Văn Đồng sang Pháp, tôi liều mạng đến xin Thủ tướng cho tôi về nước. Nghe tôi là con gái ông Hồ Tá Bang, Thủ tướng rất vui:

- “Lúc sinh thời có lần Bác có nhắc đến cụ Hồ Tá Bang. Không ngờ hôm nay gặp cô là con gái cụ Bang ở đây. Nếu cô muốn về thì về với chúng tôi luôn!”

Nghe Thủ tướng cho phép theo về nước với ông, tôi như người chết đi sống lại. Cha mẹ tôi ăn ở phúc đức giờ đây tôi mới được hưởng. Tôi được theo Thủ tướng đi chuyên cơ về Hà Nội.

Thủ tướng bảo tôi:

- “Đây là Phủ Chủ tịch, nơi Bác đã sống từ ngày giải phóng Thủ đô đến khi Người từ giả cuộc đời. Cô có thể ở lại đây, nghỉ ngơi, đi thăm viếng các danh lam thắng cảnh Hà Nội. Khi nào không thích nữa thì vào thành phố Hồ Chí Minh.”

Tôi hết sức cảm động, không ngờ mình lại có được những vinh hạnh như thế này. Nói chuyện với Thủ tướng lưỡi tôi cứ líu lại. Có lẽ tôi là một trong những người dân Sài Gòn được thăm chỗ ở của Bác tại Thủ đô sớm nhất.

Ở trong Phủ Chủ tịch được mấy hôm thích quá, tôi không ngờ đời mình lại có được những vinh hạnh như thế này. Tuy nhiên nỗi nhớ nhà, sự nôn nóng được gặp mặt chồng con cứ xô tới, buộc tôi phải xin phépThủ tướng rời Hà Nội. Thế là từ hồi đó đến nay tôi cứ ở riết trong cái nhà này, kể chuyện cho nhà tôi nghe, kể đi kể lại hoài mà không thấy chán. - Bà Liệt vừa nói vừa rót cho tôi một cốc nước đậu ván rang - Nhờ vậy mà bây giờ tôi nhớ được chút ít chuyện xưa để kể với anh. Trước kia suốt ngày lo làm ăn thời giờ đâu mà nhớ, mà kể. Mà có nhớ cũng không dám, kể chuyện Cụ Hồ ở tù như chơi.

*

*     *

- “Cha tôi - Bà Hồ Thị Liệt kể - là người làng thợ vàng Kế Môn, tỉnh Thừa Thiên, có đầu óc thực dụng. Ông vào Phan Thiết làm ký lục hồi cuối thế kỷ trước. Mẹ tôi là con gái họ Huỳnh hào phú có danh ở Bình Thuận. Khoảng năm Ất tỵ (1905) và Bính ngọ (1906) phong trào hội buôn, trường học sôi nổi cả nước, được các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp vào tận nơi cổ vũ, cha tôi cùng bạn đồng chí kêu hùn vốn thành lập ra Liên thành thương quán và mở trường Dục Thanh được có thành hiệu.

Năm Duy Tân Canh tuất (1910) cha tôi bị đổi ra làm ký lục cho toà sứ ở Hội An, cụ không thích Tây nên bỏ về. Cụ được cổ động hội Liên thành tín nhiệm, bầu là Tổng lý trong Hội. Cụ đã mua được một cái thẻ thuế Đinh của Nam kỳ nên cụ có điều kiện vô ra Sài gòn-Chợ lớn luôn, cụ lập được một Phân cuộc của Liên thành trong đó. Đối với Bình Thuận lúc đó, Sài Gòn, Chợ Lớn là một nước khác, vô ra khó lắm. Ngay cả lúc cụ Phan Chu Trinh vào ở chờ trong nhà tôi hàng mấy tháng trời mà vẫn không vào được. Thế mà cha tôi cứ đi vô, đi ra quanh năm suốt tháng ít khi nghỉ. Thời gian đó Bác Hồ với cái tên Nguyễn Tất Thành đang dạy học tại trường Dục Thanh. Anh Thành là con cụ Phó bảng Nghệ - bạn của cha tôi ngày còn ở Kinh. Anh Thành có khiếu dạy học, có tinh thần yêu nước thương nòi nên cha tôi thương, mời anh về ăn ở ngay trong nhà. Nhà tôi lúc đó rộng rãi, cha tôi lại hiếu khách nên ngày nào nhà cũng có khách. Các nhà Nho, các nhà trí thức trong Nam ra, ngoài Bắc vô phần lớn đều có ghé qua nhà tôi đàm đạo, nói chuyện yêu nước. Nhiều người ghé lại có mục đích là nhận tiền tiêu, hoặc nhận tiền do cha tôi kinh doanh, quyên góp để gởi cho những người yêu nước. Cụ Phan Bội Châu ở nước ngoài cũng thường nhận được tiền của Công ty Liên thành.

Anh Thành ở trong  nhà cha mẹ tôi chưa đầy một năm thì vào một ngày giáp tết năm Tân hợi (1911) Anh Thành đã xuống ghe bầu theo cha tôi vào Sài Gòn. Sở dĩ tôi nhớ được cụ thể thời điểm đó vì tôi có một người chị đã qua đời vào một ngày cuối năm ấy. Theo lời cha tôi, anh Thành tâm sự: “Thằng Tây ở xứ Bảo hộ thì thấy nhiều rồi, còn thằng Tây ở xứ của nó ra sao thì chưa biết. Tôi muốn vào để xem.”

Bà Liệt kể chuyện xưa với cái giọng nóng hổi như chuyện vừa xảy ra. Bác Lê Trung Ngạn ngồi bên tôi trầm ngâm, chốc chốc thì bác nâng bình châm nước vào chén của bà Liệt và chén của tôi. Tôi lật xấp tài liệu mang theo bên mình xem qua rồi nói với vợ chồng ông bà Ngạn:

- “Có lần Bác Hồ đã kể với bà Louis Storon rằng: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi - lúc này thường tự hỏi nhau rằng: Ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là người Nhật, người khác nghĩ là người Anh, có người nghĩ là người Mỹ. Tôi thấy phải ra nước ngoài xem cho rõ”(7). Phải chăng Bác đã tiếp thu được những nhận định này của các nhà yêu nước qua những cuộc gặp gỡ tại Phan Thiết? Và quyết định ra nước ngoài-tức là vào Sài Gòn - biên giới của nước Pháp tại Đông Dương, cũng đã bắt đầu từ Phan Thiết?”

Ông Ngạn dè dặt:

- “Chưa tìm được tài liệu thì mình không nên khẳng định. Nhưng tôi cũng đồng ý với những ước đoán của anh. Bác Hồ vào Sài Gòn là chặng đường đầu tiên của cuộc trường chinh tìm đường cứu nước của Bác ở nước ngoài.”

Tâm trí của tôi bỗng loé lên một ý nghĩ:

- “Xa Phan Thiết cũng có nghĩa là xa quê hương, từ giả nếp sống tiểu tư sản của một cậu học trò, một ông thầy giáo để bước vào đời thợ, đời của một người lao động bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước.”


(1) Theo thư của ông Nguyễn Sinh Huy gởi cho Khâm sứ Trung Kỳ tháng Giêng 1911- Tháng Chạp năm Duy Tân thứ 4) cho biết ông đã được: “bổ làm tri huyện Bình Khê tháng 5.1909 và bị giáng xuống hàng tứ phẩm với việc bãi chức tháng vào Giêng 1910. (Tài liệu số 2)

(2) Có lẽ vì mối quan hệ đó mà sau này con trai của ông bà Phạm Ngọc Thọ và bà Công Tôn nữ Chánh Tín là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã để vợ đầm ở lại bên trời Tây để về Việt Nam tham gia kháng chiến với cụ Hồ.

(3) Lê Thanh Cảnh, Bđd.

(4) Phan Chu Trinh, Sđd, tr.87.

(5) Nguyễn Hiến Lê, Sđd, Lá Bối, Sài Gòn, 1968, tr.140.

(6) Nguyễn Văn Mại, Lô Giang tiểu sử, tr.124.

(7) Anna Louis Storon, Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo Nhân Dân,18.5.1965.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123