Chương 11: Dũng cảm thay dân Thừa Thiên Huế

Đầu năm Mậu thân (1908), Phong trào chống thuế ở các tỉnh phía Nam Huế bùng nổ, ngọn lửa kháng sưu chống thuế ở Thừa Thiên-Huế âm ỉ bấy lâu có dịp sáng lên. Dân làng Dã Lê Chánh kể rằng:

- “Lúc đó có một người tên là Khoá Nối nói giọng Hà Tĩnh theo chân ông Ấm Mộng về ở tại xóm Giữa làng Dã Lê Chánh với tư cách một người đi buôn quế. Ông loan truyền nhiều tin tức của dân Quảng Nam chống thuế. Dân làng nghe tin này náo nức lắm!”

Cùng lúc ấy, tài liệu cho biết ông Hoàng Thông quản giáo trường Quốc Học và cũng là người đứng đầu Hội buôn Đồng Vinh vừa bị bắt, laoThừa Phủ, lao Hộ Thành ngày nào cũng nhận thêm những nhà Nho có thành tích chống thuế ở các tỉnh Trung kỳ. Những tin tức ấy không làm cho dân Thừa Thiên-Huế sợ hãi mà trái lại nó đã kích động không ít tinh thần tranh đấu của họ. Ai ai cũng xúc động khi hay tin ông Phan Châu Trinh đang diễn thuyết ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội) thì bị bắt đưa về giam ở Hộ Thành, ông đã tuyệt thực bảy ngày để chống lại hành động đàn áp dân chúng Việt Nam của Pháp(1). Và cùng với tin ấy, bọn đề lao Thừa Phủ cũng không thể che giấu được tin ông Châu Thơ Đồng-một yếu nhân chống thuế ở Quảng Nam bị bắt đưa về giam ở Huế. Ông đã tuyệt thực chống bọn thực dân cho đến chết(2). Trong thời gian ấy thanh niên học sinh Huế đi về chơi các vùng nông thôn ở hai bên bờ con sông đào Thọ Lộc ngăn cách hai huyện Hương Thủy và Phú Vang rất đông, đặc biệt là các làng Dã Lê Chánh, làng Công Lương(3). Rồi đột nhiên vào một buổi sáng trung tuần tháng tư năm 1908, tại đình chợ Hôm và các am miếu dọc hai bên bờ sông vừa được nạo vét, đất bùn đã khô khén, xuất hiện nhiều tờ Thông tri giống như tờ Thông Tri của ông Khoá Nối viết phổ biến ở Hà Tĩnh như sau:

“Đáng yêu thay dân tỉnh Quảng Nam

Đáng kính thay dân tỉnh Quảng Nam

Đáng học thay dân tỉnh Quảng Nam.

Giặc Pháp mượn tiếng bảo hộ, ngượüc đãi dân ta thật đã quá.

Hàng năm nộp xong sưu thuế rồi, mình không còn chiếc áo lành, bụng không được ăn cơm no, đi nơi khác tìm ăn, khổ hết chỗ nói. Nếu không một phen đứng dậy tỏ tình kêu nài thì sưu thuế vẫn còn tăng mãi. Dân ta mười nhà đã đến chín nhà rỗng không, khó lòng gánh chịu được.

Nếu cứ ngồi mà đợi, chết. Chi bằng vùng dậy mà tìm lối sống(4).    

Nội dung tờ Thông tri đã kích động tinh thần dân làng Dã Lê và các làng chung quanh lên rất cao. Khí thế kêu gọi đấu tranh lan truyền đi khắp nơi. Được tin đó thực dân Pháp một mặt ra lời hăm dọa, mặt khác cử ông Trần Trạm - Phủ doãn Thừa Thiên vốn là một người nổi tiếng thanh liêm, trong sạch, được lòng dân đi hiểu dụ dân chúng, khuyên dân chúng không nên bắt chước dân hạt Quảng Nam nổi dậy, nếu không nghe lời sẽ bị tội nặng. Đi sau ông Phủ doãn là một đoàn tuỳ tùng gồm một đội lính Khố xanh, Phó quản Trần Phán và tri huyện Phú VangTrần Hữu Chí.

Sáng 10 tháng 4 năm 1908, đoàn đi hiểu dụ của ông Trần Trạm đi thẳng về chợ Sam rồi quay lên làng Dã Lê Chánh, làng Công Lương. Bọn Trần Phán đứng trên đò quát tháo những viên chức trong phủ Công Lương:

- “Quan về  hiểu dụ sao không có ai ra đón cả?”

Một người dân đại diện cho dân đang đứng bên bên bờ sông giả vờ hỏi:

- “Lúc ni mà quan binh đi mô rứa?” 

Trần Phán nói giọng đe doạ:

- “Phủ doãn và quan binh đi hành hạt hiểu dụ, sao không ra đón tiếp mà hỏi chi lạ rứa, không sợ phạm thượng à?”

- “Dân đói kém đang định kéo nhau lên Huyện, lên Phủ xin xâu, xin thuế, dân đâu có ở nhà mà quan binh đi hành hạt!”

- “Ai cho phép dân đi?”

- “Cái bụng đói bắt đi! ”(5)

Sau một hồi đối đáp thanh niên trong các làng kéo ra đông đúc. Người ta kể có một người học trò Nghệ, mặc quần áo trắng, dáng người cao cao, đôi mắt lanh lợi đứng trên bờ, nghe đối đáp tức quá cậu bèn lượm một hòn đất khô ném vào đoàn quan binh do Trần Phán cầm đầu(6). Trần Phán, Bùi Hữu Chí ra lệnh đàn áp. Súng nổ đùng đùng, roi da đập bôm bốp thế nhưng dân chúng không hề nao núng. Họ nhặt đất cục vừa đào hói còn phơi trên bờ ném vào bọn quan binh Trần Phán-Bùi Hữu Chí như mưa. Bọn địch dạt ra, dân ùa xuống nước bắt trói và nhận nước tên Trần Phán. Tên Bùi Hữu Chí bị trói ngoe nằm phơi trên đò. Dân chúng cũng a vào đòi bắt trói Trần Trạm, nhưng có người lại ra lệnh tha, chỉ bắt ông bỏ vào thúng chuẩn bị gánh ông lên trả lại trên “Dinh” thôi. Vừa lúc đó tri huyện Hương Thủy chạy lên Huế cầu cứu đồng bọn thì bị ông Đoàn Thuần (người Dương Nỗ) đốc thúc dân đến bắt và trói ngay.

Trước mũi súng tàn bạo của quan binh tay sai thực dân Pháp, dân Dã Lê Chánh, Công Lương, bị thuơng rất nhiều, riêng ông Nguyễn Cưỡng (Công Lương) chết ngay tại chỗ. Dân chúng bẻ lá thầu đâu ưóp xác ông Cưỡng cho tươi rồi khiêng đi đấu tranh chứ nhất định không chôn(7).

Tin dân làng Dã Lê Chánh và Công Lương bắt trói tên Phó quản và bọn quan lại phủ huyện đi hiểu dụ lan đi rất nhanh, làm động lòng nông dân ngoại thành Huế. Như đã hẹn trước, sáng ngày 11.4.1908, dân chúng ngoại thành chia từng nhóm nhỏ kéo vào Huế. Đoàn người xin xâu xin thuế gánh ông Trần Trạm trong thúng và xác ông Nguyễn Cưỡng trong cáng tiến về phía toà Khâm sứ Pháp và Phủ doãn Thừa Thiên. Đoàn người có những nét rất đặc biệt: tóc cắt ngắn, áo quần rách rưới, mang bị gậy như người đi xin, mo cơm bới bên hông. Có người mang cả nồi niêu và manh chiếu rách.

Lúc đoàn người đã đến gần Toà Khâm (khuôn viên Đại học Sư phạm Huế tại 32-36 Lê Lợi ngày nay), thì phía trên ở gần trường Quốc Học có một nhóm học sinh từ dưới chợ Cống đi lên đang đứng nghe học sinh Nguyễn Sinh Côn nói chuyện. Trò Côn nói với các bạn:

- “Đồng bào người ta đi xin xâu, xin thuế với Pháp, bọn mình là học sinh biết tiếng Tây nên đi thông ngôn giúp đồng bào!” - Vừa nói trò Côn vừa cầm vai các bạn quay lại phía Toà Khâm - “Nào chúng ta cùng về Toà Khâm nào!”

Đám học trò thấy dân đi đông nhưng chưa hiểu thực hư như thế nào, nhưng nghe trò Côn là người lớn tuổi, hiểu biết rộng và có uy tín với các thầy nói thế,  anh em nghe theo ngay. Đi được một lúc, Côn bảo các bạn lấy nón lá lật ngược bề trong ra ngoài. Anh em sợ hư nón có vẻ do dự không làm. Côn tự tay làm trước và anh em làm theo ngay. Về sau họ mới hiểu làm như thế để chứng tỏ thái độ đấu tranh cho đến khi lật ngược được tình thế.

Khoảng mười giờ sáng đoàn người tụ tập đã đông đủ, họ bắt đầu tiến vào cửa Toà Khâm cùng với nhóm học sinh đi trước làm thông ngôn. Tên Hội lý bộ Lại De la Suisse xua lính Khố xanh ùa ra ngăn không cho dòng người tiến vào. Trò Côn len vào trước để gặp bọn Pháp đưa nguyện vọng giảm sưu thuế cho dân(8).

(Cuộc đấu tranh ấy đã ghi sâu trong ký ức Chủ tịch Hố Chí Minh sau này. Có lần Bác đã kể lại với ông Vũ Kỳ-thư ký riêng của Bác, và ông Vũ Kỳ đã kể lại với cán bộ Bình Trị Thiên vào ngày 18.5.1978 ở Huế như sau:

Bác nói với ông Vũ Kỳ (nguyên văn):

- “Mình tham gia với tư cách là một người thông ngôn. Khi đồng bào nói chưa đúng thì mình  thêm vào cho đúng rồi nói chọi với Pháp. Khi bọn Pháp nói những gì làm cho uy thế của đồng bào kém đi thì mình thông ngôn lại để dấy lên tinh thần đấu tranh của đồng bào. Cứ thế đồng bào ùa lên làm cho bọn Pháp không thể nào ngăn chặn được!”

Bọn Pháp giở mọi thủ đoạn ra lừa phỉnh đồng bào, nhưng nhờ những người thông ngôn dịch lại khôn khéo khiến cho họ tránh được mọi âm mưu cạm bẫy của Pháp. Càng về trưa, lời la ó phản đối càng tăng. Thấy dùng lời lẽ không giải tán được đám đông, De la Suisse xua lính Khố xanh ra dùng roi mây, gậy tre, vòi nước đàn áp, giải tán đồng bào. Trò Côn người cao to lại phải đứng trước để thông ngôn nên bị đánh đập nhiều nhất”.

Sau nhiều đợt chống cự, đồng bào phải rút ra khỏi khuôn viên Toà Khâm, nhưng họ không chịu ra về. Đồng bào chạy lên bao vây Phủ doãn Thừa Thiên (địa điểm UBND tỉnh TTH ngày nay), họ ngồi đầy trên đường phố suốt mấy ngày liền khiến cho xe cộ của Pháp không thể nào qua lại được trên cầu Trường Tiền.

Bọn Pháp biết đồng bào và thanh niên còn một chút tôn kính vua Duy Tân, chúng đưa vua Duy Tân ra phủ dụ đồng bào. Đồng bào chỉ nhường đường cho xe vua đi qua lại nhưng vua nói thì họ không nghe. Họ bảo lời của vua là lời của Pháp xếp đặt chớ không phải của Việt Nam. Cuối cùng Pháp phải đưa lính ở đồn Mang Cá lên đàn áp một cách dữ dội mới giải tán được cuộc đấu tranh xin xâu, xin thuế ấy.

(Cuộc chống thuế này có một âm vang rất sâu xa. Mười lăm năm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp (lúc còn là một học sinh Quốc Học) vào Huế học vẫn còn nghe kể lại và Đại tướng đã ghi trong hồi ký Những Chặng Đường Lịch Sử như sau:

Vào thời kỳ này (1908), phong trào đấu tranh ở Huế rất sôi nổi, đòi giảm thuế. Pháp đưa lính từ đồn Mang Cá lên xả súng bắn vào những người dân tay không. Nhiều người bị đẩy xuống sông. Máu đỏ loang trên cầu Trường Tiền.”(9)

Cuộc đấu tranh năm 1908 tại Thừa Thiên-Huế rất mạnh mẽ song vì lãnh đạo thiếu kinh nghiệm, tính tổ chức thấp, quần chúng giác ngộ chưa đầy đủ nên cuối cùng tan rã. Lúc mật thám bắt những nguời chủ chốt thì quần chúng không đối phó được.

Ngoài những người bị đàn áp chết tại trận tiền hoặc bị thương phải lẩn trốn(10) , hằng trăm người đã bị tội “đồ” (tù), đày đi Lao Bảo, Côn Lôn hay bị tử hình.

Trong Châu bản triều Duy Tân còn ghi lại một số người với tội trạng của họ như sau:

- Đoàn Thuần (Dương Nỗ, Phú Vang) Đào Đa (An Lưu, Phú Vang) Trương Hữu Hoàng (Lý trưởng làng Công Lương)... bị tố cáo: “Đều là bình dân, không biết an phận, dám bắt chước hành vi của dân hạt Quảng Nam, tụ tập nhiều người, gây thành náo động, tức như các việc bắt trói quan binh, toan cướp súng ống, thật là hồ hành khích biến... xử giảo giam hậu, phát giao Lao Bảo phối dịch.)”(11)

- Phạm Toản (Xuân Hòa, Hương Thủy), Nguyễn Mãnh (Dã Lê, Hương Thủy) tội: “xướng xuất quan binh... trảm lập quyết”.

- Lê Đình Mộng (Dã Lê, Hương Thủy): xử giảo giam hậu (nhưng sau  được ân giảm chỉ tù chung thân tại Côn đảo).(12)

- Nguyễn Trọng Quỳ (Dã Lê): 5 năm khổ sai; Phan Đạm (Diên Đại): tù 3 năm; Nguyễn Văn Chi (Xuân Hòa) Giảo giam hậu; Nguyễn Cừ (Dã Lê): xử trượng 100, đồ 3 năm; Trần Đức Thuần (Niêm Phò, Quảng Điền): Giảo giam hậu; Khoá Nối(13)  bị kết án vắng mặt: “Cùng dân tỉnh Quảng Nam giao thông, tạo mưu khích biến, phải thám nả, cốt bắt cho được đáo án để dứt mầm ác.”(14)

Bà Lê Thị Đàn (người Thế lại thượng) đồng chí của cụ Phan Bội Châu cũng bị bắt khi đang đi liên lạc với các tỉnh ở miền Trung.

Trong mật văn đề ngày 23.3.1920 của chánh Mật thám Trung kỳ L. Sogny gởi cho cấp trên đã khẳng định: “Nguyễn Tất Thành thật sự đã ở Huế trong thời gian có biến loạn năm 1908 như đã nêu ở đoạn trích Hải - điện tín của khu vực ngày 29 tháng 12 -1919 đã được đính kèm Mật văn số 17-SG ngày 7-1-1920 của Ngài” (AOM.SPCE 364).

Bởi thế, sau những ngày xuống đường tranh đấu đó, trò Nguyễn Sinh Côn tức anh Nguyễn Tất Thành cùng nhiều anh em học sinh đóng vai chủ chốt trong việc thông ngôn giúp đồng bào (như Lê Đình Dương chẳng hạn) đã phải lẩn tránh trước sự truy nã gay gắt của mật thám Pháp. Không ai rõ anh Thành đã tránh nơi đâu. Ông Lê Thanh Cảnh nhớ anh trốn ở miệt Ao Hồ (phường Phú Cát ngày nay); một ngưồn tài liệu khác lại cho biết Anh trốn ngay trong nhà một người quen ở sau lưng Phủ Doãn. Nhờ sự bất ngờ đó mà Anh không bị bắt.(15)

Sự “biến mất” của Nguyễn Tất Thành (hay Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Sinh Cung) khỏi dãy Trại đường Đông Ba cũng đã được một mật văn thực hiện vào đầu năm 1911 của Mật thám Pháp đã ghi nhận. “Con trai ông ta (tức Nguyễn Tất Thành con Nguyễn Sinh Huy. NĐX), cách đây 2 năm  (tức năm 1909) đã ở một căn hộ ở Đông Ba, đã đột ngột biến mất. Người ta tin là nó ở Nam Kỳ”.


(1) Trần Viết Ngạc, “Phan Châu Trinh và sự nhiệp xây dựng ý thức Cách mạng”, Đặc san Liễu Quán (Ronéo), số kỷ niệm năm 48 huý nhật Phan Châu Trinh, Huế 1974, tr.11.

(2) Huỳnh Thúc Kháng, Thi Tù tùng thoại.

(3) So sánh các tài liệu nhận thấy thời gian sau này cậu Nguyễn Sinh Côn hay vắng mặt ở trường Quốc học, đặc biệt là thời gian sau khi cụ Hoàng Thông bị bắt. Không rõ cậu Côn có đi cùng với thanh niên học sinh Huế về các thôn xóm này không?

(4)  Trích lại của Trần Huy Liệu, T/c NCLS số 5-1959.

(5)  Theo lời kể của cụ Cửu Vàng, ông Lê Đình Hoàng - người làng Dã Lê Chánh.

(6)  Có người cho rằng cậu thanh niên này chính là cậu Nguyễn Sinh Côn học sinh trường Quốc Học, cậu có mặt trong cuộc đấu tranh này nhân lúc cậu về thăm nhà bạn học là Nguyễn Viết Nhuận ở làng Dã Lê Chánh.

(7) Theo lời kể của cụ Cửu Vàng, ông Lê Đình Hoàng người Dã Lê Chánh.

(8) Theo tài liệu của cụ Nguyễn Đạm, cụ Ưng Tuệ và cụ Lê Thanh Cảnh (Hoài Niệm Quốc Học, số 2).

(9) Võ Nguyên Giáp, Sđd, Nxb Văn Học, HN, 1977, tr.325.

(10) Sợ liên lụy, gia đình bí mật đem về chôn.

(11) Châu bản triều Duy Tân từ t.VII tờ 148.149. và T.XV tờ 26.27, tờ 95.

(12) Nhờ Phủ doãn Thừa Thiên là Trần Trạm có cảm tình với Duy Tân hội cứu nên Lê Đình Mộng được giảm án.

(13) Tức Nguyễn Hàng Chi.

(14) Châu bản triều Duy Tân, tập XV, tờ 12.13.

(15) Đọc thêm Phụ lục 4: Văn tế các lãnh tụ Phong trào chống thuế năm 1908 tại Thừa Thiên Huế của Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123