Chương 10: Kinh đô trong tay giặc pháp

Ông Ưng Thuyên biệt hiệu Vu Hương là cháu nội nhà thơ Tuy Lý Vương, anh em chú bác ruột với nhà thơ Ưng Bình Thúc Gịa Thị. Người ông nhỏ nhắn, tính tình điềm đạm, khẳng khái. Ông đã từng làm Tham biện cho toà Khâm sứ Huế, khi Cách mạng tháng Tám /1945 thành công, ông được giữ lại làm việc. Ông có công trong việc xây dựng nền hành chính đầu tiên của chính quyền của ta ở Trung kỳ.

Nhờ anh Bửu Chỉ-một họa sĩ trẻ có tiếng ở Huế, là con trai út của ông, giới thiệu, tôi đã được ông tiếp trong một ngôi nhà ngói khang trang bên bờ khúc sông Hương yên ả cuối làng Vỹ Dạ.

Nghe yêu cầu của tôi, ông Vu Hương đáp với giọng khiêm tốn:

- “Tôi là hậu sinh, khi tôi vào Quốc Học thì Cụ Hồ đã từ giả mái trường này đền năm sáu năm. Tôi chỉ biết Cụ Hồ khi tôi làm việc ở toà Khâm. Biết qua anh em đồng nghiệp bàn tán về nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc và biết qua hồ sơ mật thám Pháp theo dõi Nguyễn Ái Quốc. Có lẽ những điều tôi biết Nhà nước cách mạng đã biết cả rồi...Vì anh là bạn của các con tôi, để giúp cho anh đỡ một phần khó nhọc, tôi có thể nói với anh một chút ít về cái bầu không khí chính trị đầu thế kỷ XX tại Huế. Những gì tôi nói với anh bản thân đã hiểu được trong thời gian tôi tòng sự tại Toà Khâm. Tuy vậy, sự hiểu biết đó rất rời rạc. May mắn là trong những năm gần đây hưu trí ở nhà tôi có dịp tham khảo sách báo cũ sự hiểu biết của tôi được hệ thống hơn. Hôm nay tôi nói cho anh nghe, có gì cần hỏi thêm anh cứ hỏi, có gì anh thấy chưa đúng thì anh đính chính hộ tôi, có gì tôi thiếu anh bổ túc thêm cho.” - Ông cười chúm chiếm - “Hậu sinh khả úy - các cụ ta đã thường nhắc nhủ như thế rồi mà!”

Nói xong ông đứng dậy mở tủ lấy tập giấy đánh máy dày cộm đặt lên đùi, tiếp tục nói chuyện với tôi.

*

*     *

(Trích băng cassette)

... “Xã hội Huế lúc Bác Hồ học trường Quốc Học như thế nào? - Cụ Phan Bội Châu đã viết trong Việt Nam Vong Quốc Sử như sau: “Vua hiện tại của Việt Nam là vua Thành Thái. Người Pháp chỉ còn để lại cái Nội điện cho vua cư trú, còn giữ danh hiệu Hoàng đế cho vua xưng hô. Người Pháp lại cho lính Pháp giữ quanh Nội điện, ai ra vào đều do quân Pháp cai quản. Vua đi ra ngoài độ một bước cũng phải vâng hiệu lệnh của người Pháp, nhất thiết mọi chính lệnh, chiếu, chỉ trong nước đều trước hết phải bẫm với người Pháp, người Pháp đồng ý mới được đem thi hành... Người Pháp cố lưu cái hư vị bù nhìn ấy để có chỗ đỡ cho mọi việc ác nghiệt mà chúng làm, tất chúng công bố khắp ở trong nước, lan truyền ra cả nước ngoài cho rằng đó là điều vua tôi Việt Nam mong mỏi làm như vậy. Bởi duyên cớ ấy, ngưới Pháp trói buộc họ nhà vua lại càng chặt, mỗi tháng hai ba lần kiểm điểm nhân danh trong Tôn phủ nhà vua, chiếu tên điểm mặt, có thiếu ai người Pháp truy cho cùng, bốn mặt bủa lưới bắt trị tội rất nặng, há chẳng phải là sợ để những việc bí mật của người Pháp bị tiết lộ ra chăng? Vì thế cho nên không có một người nào dám ra ngoài tố cáo...(1) Sống trong cảnh cá chậu chim ồng như vậy, vua Thành Thái vẫn không chịu bó tay. Khi tới tuổi trưởng thành, nhà vua tập lái ô-tô cắt tóc ngắn, mặc Âu phục để cho đồng bào xem đó mà “duy tân”. Nhà vua tranh thủ những gì Pháp có thể đồng ý để làm lợi cho dân. Chính Người đã xướng xuất việc làm cầu Trường Tiền, dời chợ Đông Ba đem ra ngoài giại, thành lập phố Trần Hưng Đạo ngày nay, lập trường Quốc Học dạy khoa học phương Tây và tiếng Pháp cho thanh niên Việt Nam. Chính Người cũng góp công xây dựng nhiều công trình trong Nội, xây lăng Dục Đức...”.

Nhân ông dừng nói để nghỉ một chút, tôi hỏi:

- “Thưa bác, theo nghiên cứu của cháu, có nhiều tài liệu cho biết vua Thành Thái còn hay tiếp xúc với nhà soạn tuồng Đào Tấn và họa sĩ vẽ sơn dầu đầu tiên ở Việt Nam là ông Lê Văn Miến. Chính nhà vua có yêu cầu họa sĩ vẽ kiểu các loại súng bộ binh của châu Âu để Người bí mật thuê đúc trang bị cho các đội nữ binh của nhà vua. Nhưng chuyện chưa thành thì quan đầu triều Nguyễn Thân đã biết tâu với Pháp và Pháp đã ra tay chia rẽ những người yêu nước này. Ông Đào Tấn bị bức phải về hưu, ông Lê Văn Miến bị bãi chức Hành tẩu bộ Công để ra Nghệ An mở trường Pháp Việt, còn vua Thành Thái mấy năm sau bị quản chặt trong điện Càn Thành?(2) .

Ông Vu Hương gật đầu nói với vẻ thận trọng:

- “Thầy Miến có dạy Bác Hồ, tôi cũng được học với thầy. Tôi nghe thầy kể thầy đã vẽ chân dung cho vua Thành Thái và thầy đưọc mời ăn cơm với nhà vua. Nhưng tôi không hề biết chuyện thầy được nhà vua yêu cầu vẽ các kiểu súng... Tuy vậy, cũng có thể tin được điều đó vì vua Thành Thái rất táo bạo!”

Tôi lại hỏi tiếp:

- “Bác đã cho phép, cháu xin hỏi thêm một câu: người ta nói vua Thành Thái điên phải không?”

Ông Ưng Thuyên giải thích:

- “Một người có chí hướng như vua Thành Thái không điên mà sống trong cảnh cá chậu chim lồng như thế cũng phải điên. Nhưng vua Thành Thái không đến nỗi điên, trước con mắt cú vọ của Pháp, trước những đại thần thân Pháp như Nguyễn Thân...Không giả điên thì làm sao Ngài thoát được sự vây bủa ấy? Một chứng minh rất rõ là khi bị người Pháp bắt phải tốn vị (abdiqué) Ngài không chịu ký vào bản văn do Khâm sứ Lévecque viết sẵn. Sau khi bị tốn vị, Ngài không có hành vi gì gọi là điên nữa cả. Một người điên thì đưa vào bệnh viện chữa bệnh chứ sao lại đưa đi đày? Trong thực tế vua cũng có làm một vài việc của người điên trước mặt Pháp hoặc bọn đại thần thân Pháp để đánh lừa chúng. Bọn Pháp lại rất xảo quyệt, thấy vua có những hành động của người điên, chúng kích thích cho vua làm nhiều hơn rồi chúng cho lan truyền rộng ra “vua Thành Thái điên”. Cuối cùng Pháp tuyên bố vua Thành Thái bị bệnh phải nhường ngôi lại cho con là Hoàng tữ Vĩnh San. Làm như vậy giảm bớt dư luận lên án Pháp đã truất phế vua Việt Nam. Riêng những người trẻ trong lứa tuổi của Cụ Hồ chắc chắn người Pháp không thể lừa phĩnh được. Tuổi trẻ Huế lúc ấy rất phẫn nộ hành vi thô bạo của Pháp và họ có nhiều cảm tình với vua Thành Thái. Ngày 3.9.1907, Pháp công bố bản văn tốn vị của vua Thành Thái thì ba hôm sau 7.9.1907, Pháp cho biết Hoàng tử Vĩnh San đã lên ngôi với niên hiệu là Duy Tân. Việc vua Duy Tân lên ngôi có nhiều dư luận kích động tuổi trẻ Huế. Riêng cái tên “Duy Tân” cũng đã có một ý nghĩa báo trước một biến cố gì đó sẽ xảy ra cho ông vua mới lên tám tuổi này(3). Điều làm cho không khí chính trị ở Huế lúc đó khó thở nhất là việc Khâm sứ Pháp lấy lý do vua còn nhỏ, Triều đình phải lập một Phụ Chính phủ để giúp vua điều hành công việc Triều chính(4) và người đứng đầu cái gọi là Phụ Chính phủ ấy chính là viên Khâm sứ Sylvain Lévecque. Như thế, dưới triều Duy Tân nước ta không những mất trên thực tế mà cũng mất luôn cả trên danh nghĩa. Người đứng đầu nước Nam là một viên Khâm sứ Pháp. Tình hình chính trị tối tăm như vậy, tình hình đời sống kinh tế của đồng bào mình cũng hết sức thúc bách...”.

Điều ông Vu Hương nói được nhiều tư liệu lịch sử Huế nói rõ: Cơn bão năm Thìn (1904) thổi sập hai vài cầu Trường Tiền, hàng trăm dinh thự, chùa chiềng, nhà cửa bị gió thổi bay chưa sửa chữa xong. Trong Niên phổ Di cảo của Lạc Tịnh Viên còn ghi lại: “sắt cầu Trường tiền bay xuống hai vài, kẽm lợp toà Khâm bị bay mấy tấm. Nhà quan còn chưa có vật liệu mà tu bổ huống chi nhà dân”(5). Nạn hạn hán, nước mặn ngược sông Hương đe dọa mùa màng. Bọn thực dân mị dân bỏ tiền ngăn con sông Thọ Lộc (chảy về Vân Dương) - thường gọi là Đập Đá. Nhưng vẫn không ngăn được nước mặn lan đến hai huyện Hương Thủy và Phú Vang. Nước mặn không qua được sông Thọ Lộc thì nó chảy vào sông Lợi Nông rồi cũng chảy vào Thọ Lộc. Trước kia chưa có Đập Đá nước mặn vào gặp một trận mưa lớn nước mặn có đường thoát ra. Từ khi có Đập Đá nước mặn vào bị ứ lại, nhà nông càng thêm lo lắng. Trong lúc đó thì sưu thuế không giảm mà lại có thêm những điều khoản đổi mới gây cho dân đinh gặp nhiều khó khăn. Cuối năm 1907, toàn quyền Đông dương ra Nghị định vẫn giữ nguyên mức Thuế mỗi tráng niên phải trả đồng niên là 2đ2, trong 10 ngày sưu phải để tám ngày làm việc cho hàng tỉnh (trước kia có sáu ngày) ở nơi xa. Tám ngày làm xâu (chưa kể thời gian đi và về) mỗi người dân phải tự túc cơm gạo rất tốn kém. Song song với những sự kiện ấy, tình hình chính trị ở Huế cũng có những biến chuyển có ảnh hưởng phần nào đến dân chúng, đặc biệt là giới Nho sĩ và dân thành thị. Ngày 15.12.1906, thực dân Pháp bắt đầu khai thác đoạn đường Sắt Đà Nẵng-Huế (104km) trước đó ngày 15.5.1906 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định lập ở Trung kỳ một Hội đồng hoàn thiện giáo dục bản xứ để nghiên cứu các vấn đề giáo dục(6). Tháng 7 năm sau (1907) hai quan đại thần là Cao Xuân Dục và Huỳnh Côn vào Sài gòn bàn nghị việc Học chánh. Bộ Học do Cao Xuân Dục làm thượng thư được thành lập, trường Quốc tử giám từ làng An Ninh được dời về trong Thành; thiết lập trường nữ học(7). Huế lúc bấy giờ là Đế đô, giữ vai trò chỉ huy văn hóa nên có nhiều bậc anh tài, học giả quy về. Huế là nơi có nhiều sách vở. Chính  nhờ những sách vở lạ đó mà Nguyễn Lộ Trạch đã có thể tự học và trở nên người thầy của phong trào Duy Tân. Huế lúc ấy có nhiều du học sinh tốt nghiệp ở châu Âu về như các ông Lê Văn Miến, Thân Trọng Huề. Những vị này mang về Huế nhiều sách vở, tư tưởng mới của Tây phương. Thân Trọng Huề dâng biểu yêu cầu bãi bỏ cách  học, cách thi cũ. Huế cũng là nơi đón tiếp những danh sĩ miền Bắc vào như các vị Nguyễn Thượng Hiền, Đào Nguyên Phổ. Đào Nguyên Phổ mua được nhiều Tân thư của Trung Hoa. Sách vở thời ấy do những ghe lớn đưa theo hàng hóa vào Phố Lữ rồi có những ghe nhỏ buôn sách chèo lên đậu một bến nào đó trước Phu Văn Lâu chờ người tới mua. Các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế và có lẽ cả ông Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Cụ Hồ cũng đã được “khai nhãn” bằng những Tân thư, Tân sách này.Những sách vở của Tây phương do phái duy tân bên Trung quốc dịch có những cuốn nổi tiếng: Dân ước của Thoa(8), Tiến hoá luận của Tư Tân Tắc(9), Dân Quyền Thiên của Mạnh Tư Cưu(10). Những sách báo viết về tình hình chính trị Trung quốc có những nét giống với tình hình Việt Nam lúc ấy: Ẩm băng thất của Lương Khải Siêu, Tự do thư, Trung quốc hồn... Những Tân thư Tân sách do chính người Huế viết ra sát với tình hình Việt Nam có tác dụng sâu sắc nhất đối với người Huế: Thiên hạ đại thế luận, Thời vụ sách thượng, Thời vụ sách hạ của Nguyễn Lộ Trạch, Tự trị thượng sách của Hoàng Thông.

Ông Vu Hương nói:

- “Nhờ đọc Tân thơ, Tân sách mà các nhà Nho yêu nước có những tư tưởng mới, đặt cuộc vận động cứu nước của Việt Nam vào khung cảnh thế giới chứ không còn bó hẹp trong hoàn cảnh cục bộ Việt Nam như các nhà Văn thân Cần Vương trước đó đã làm. Nguyễn Lộ Trạch đi tiên phong, không thực hiện được tư tưởng duy tân ở Huế, ông  phải vào Phan Thiết hoạt động, công việc chưa thành thì ông mất. Ông Hồ Tá Bang là người cùng quê (làng Kế Môn, huyện Phong Điền) và cũng là học trò của ông tiếp tục vào và ông Bang đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập Công ty nước mắm Liên Thành và trường Nghĩa thục Dục Thanh. Phan  Bội Châu vào Huế viết Lưu cầu huyết lệ tân thư cổ vũ lòng yêu nước của các giới. Phan Bội Châu và Cường Để lập đảng bí mật - Duy Tân  Hội. Phan Châu Trinh bỏ chức Thừa biện ở bộ Lễ để vào Nam, ra Bắc vận động Dân quyền, Khai dân trí, Chấn dân khí rất sôi nổi. Ông sang Nhật rồi bỏ về gửi thư cho Toàn  quyền Paul Beau nêu lên tình trạng cơ cực của người Việt Nam. Phong trào hiệp thương (mở hội buôn), mở trường nghĩa thục, phong trào cắt tóc ngắn, dùng hàng nội hóa nổi lên khắp nơi. Cuộc vận động duy tân khởi đầu từ cuối thế kỷ thứ XIX đã dần dần phát triển và đưa đến cao trào là cuộc chống thuế diễn ra vào mùa hè năm 1908. Cuộc đấu tranh chống thuế ở Thừa Thiên-Huế diễn ra rất dữ dội. Vì nó đánh thẳng vào sào huyệt của thực dân Pháp ở Trung kỳ. Tuy vậy nó không được các nhà viết lịch sử chống Pháp đề cập đến mấy. Theo tôi biết ngay cả cụ Huỳnh Thúc Kháng nhiều lần viết về vụ chống thuế ở miền Trung năm 1908 cũng đề cập đến Thừa Thiên-Huế rất sơ sài. Phải chăng vì những người lãnh đạo chống thuế ở Huế ít học và phần lớn đã bị trừ diệt, những người còn sống bị tội đồ đày Côn Đảo, Lao Bảo thì thiếu khả năng viết lách?”(11).

Ông Vu Hương ngừng một lát rồi nói như đặt hàng cho tôi:

- “Bây giờ hòa bình rồi, các anh nên thu thập tư liệu, nhất là các Châu bản triều Nguyễn chưa ai khai thác dựng lại cái quang cảnh lịch sử ấy. Nếu chưa nghiên cứu kỹ về hoàn cảnh nào Cụ Hồ đã sống qua ở Huế làm sao có thể hạ bút viết những dòng về sự phát triển tình cảm yêu nước của Cụ được? Làm sao lý giải được sự kiện Cụ không sang Đông mà lại sang Tây?”

*

*    *

(Những tài liệu ông Vu Hương cung cấp có việc tôi đã biết qua sách báo, qua các lần gặp gỡ hỏi chuyện các cụ cao tuổi. Nhưng cũng có nhiều việc tôi phải “sống” thêm nữa, phải đọc nhiều hơn nữa mới hiểu hết. Điều tôi mừng nhất là những tài liệu ông Vu Hương cung cấp rất chính xác, không có điều gì phải hiệu đính lại cả.)

Găp ông Vu Hương xong tôi thẳng đường về làng Dã Lê chánh thăm gia đình. Nhân tiện tôi mở cái băng vừa thu ở nhà ông Vu Hương cho bác tôi là ông Nguyễn Đắc Vọng nghe. Ông Vọng trước kia được ông nội tôi đem vào Đại Nội học nhạc từ đời Khải Định. Bác Vọng thấp, người tròn tròn, dễ thương. Không hiểu sao con ngưòi ấy lại “hợp nhãn” vua Khải Định. Nhà vua tuyển bác Vọng vào làm thị vệ. Vua Khải Định dị ứng với phụ nữ nên đêm đêm nhà vua ôm bác Vọng mà ngủ. Năm 1922 bác được vua Khải Định cho làm một thành viên trong đoàn tuỳ tùng của vua đi dự triển lãm Kinh tế thuộc địa tại Marseille (Pháp)(12). Sau ngày vua Khải Định băng (1925), bác Vọng được thăng Ngũ đẳng và vẫn tiếp tục phục vụ trong Nội. Năm 1936, thời vua Bảo Đại, bác Ngũ Vọng bị vu là có âm mưu ám sát vua Bảo Đại, bác bị tù, bị thực dân tra tấn rất dã man. Khi được tha về làng, bác bất mãn với chế độ thực dân, hay nói huyên thuyên nên dân làng không ưa, ngay cả người thân trong gia đình cũng không mấy người thích bác. Từ ngày về sống với quê nội (1956) tôi hay ngồi nghe bác kể chuyện thâm cung bí sử trong Nội, chuyện bác theo Khải Định đi dự triển lãm Marseille năm 1922, chuyện vua Khải Định bị cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc làm nhục ở Pháp. Có thể nói: con cháu trong nhà, bác chỉ còn thích nói chuyện với một mình tôi thôi.

Nghe xong cuốn băng của ông Vu Hương, bác Vọng nói:

- “Nghe ông Vu Hương nói làm cho bác nhớ quá. Chuyện chống thuế xin xâu của dân mình lớn lắm nhưng chưa ai viết cả. Những người thủ lãnh như Ấm Mộng (tức Lê Đình Mộng), Khóa Mãnh đều là dân làng mình, chuyện lại xảy ra tại làng Công Lương ngay trên đây, cho nên có ai biết chuyện khấc thuế xin xâu cho bằng dân làng mình. Hồi nhỏ nghe ông nội kể bác nhớ cả, nghiệt là mấy năm nay tuổi cao, bệnh đau đầu của bác tái phát, bác không còn nhớ mấy để kể cho Xuân viết. Trước đây mấy năm còn mệ Ấm Mộng (bà quả phụ Lê Đình Mộng.NĐX) ở sau lưng nhà mình, Xuân có thể gặp và hỏi được một số chuyện, nay thì Mệ đã mất rồi (1969). Xuân tìm bà Lê Thị Xuân Lan con mệ Ấm lấy Tôn Thất Dương Giai (anh ruột nhà sử học Dương Kỵ) ở làng Vân Dương cũng thuộc xã Thủy Vân mình đây, hỏi thêm. Trong làng thì còn anh em (chú bác) với Ấm Mộng là Lê Đình Nghĩa, Lê Đình Hoàng và anh em với Khoá Mãnh... đều ở xóm ngoài đây thôi. Điều quan trọng là Xuân phải gặp cha Thích (Sản Đình) - con ông Thượng Mại (cậu ruột của Ấm Mộng) mượn cuốn Lô Giang tiểu sử của ông Mại mà đọc thêm. Ông Mại có viết chuyện Ấm Mộng lãnh đạo chống thuế trong Lô Giang... bác đã đọc quyển đó bằng chữ Hán lâu rồi!”

- “Con đã gặp cha Thích và đã đọc cuốn đó rồi” - Tôi đáp - “Ông Đồ Sô chỉ cháu đó.”

- “Đúng rồi, cụ Đồ rành mấy chuyện đó lắm.”


(1) Phan Bội Châu, Sđd, tr.93.

(2) Nguyễn Đắc Xuân, Bđd.

(3) Tính theo tuổi Dương lịch thì mới 7 tuổi (1900-1907).

(4) Gồm các ông: Miên Lịch, Cao Xuân Dục, Lê Trinh, Huỳnh Côn, Nguyễn Hữu Bài và Tôn Thất Hân.

(5) Ưng Trình, Niên Phổ Di Cảo, Đại học Minh Đức xb, Sài Gòn 1972, tr.7.

(6) Dương Kinh Quốc, VN Những Sự kiện lịch sử, T 2 (1897-1918).

(7) Dương Kinh Quốc, VN Những Sự kiện lịch sử, T 2 (1897-1918).

(8) Jean J. Rousseau.

(9) Spencer.

(10) Montesquieu.

(11) Có phải vì thế mà sử gia nổi tiếng của Pháp là ông Jean Chesneaux trong tác phẩm Cotribution à L’Histoire de la nation Vietnamienne (Paris Eïd. Sociales, 1955) đã cho rằng cuộc chống thuế 1908 là một cuộc khởi nghĩa của những người vô sản, trong khi đó ông lại ghép Đông Kinh nghĩa thục vào những hiện tượng Tư sản. (tr.183.205)

(12) Khải Định, Ngự Giá Như Tây Ký, Huế 1922, tr.49.
 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123