Chương 9: Muốn làm quen với văn minh - văn hoá Pháp

Theo lời hướng dẫn của ông Lê Thiện, về Huế tôi tìm nhà ông Hồ Đắc Định ở Bãi Dâu (số 8 đường Cao Bá Quát). Tôi vào nhà lúc ông đang cạo râu.

Ông Định nổi tiếng là một người giỏi Hán văn, giỏi Pháp văn và đặc biệt vẽ rất đẹp. Người thầy giáo tài hoa ấy có một người vợ trẻ hơn ông đến bốn mươi tuổi. Ông là thầy dạy Hán văn cũ của tôi ở Đại học Văn khoa Huế. Nhờ tình thầy trò cũ tôi được ông tiếp một cách thân mật. Sau năm ba câu thăm hỏi tôi vô đề ngay:

- “Sau ngày thống nhất đến nay con chuyên đi nghiên cứu để viết về Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế. Qua lời giới thiệu của cụ Lê Thiện con biết gia đình thầy còn giữ nhiều ký ức có liên quan đến đề tài của con, hôm nay con đến thăm thầy cô và kính mong thầy cho con hân hạnh được ghi lại những ký ức ấy!”

Ông Định vừa cạo râu vừa nói với tôi:

- “Xin lỗi nghe! Cạo lỡ hàm râu. Mà này, sao anh không đi làm cái chi kiếm tiền mà lại đi viết về cụ Hồ cho khó khăn vậy? Cụ Hồ chết rồi còn nhờ nhàng chi được nữa đâu?”

Ông Định tỏ ra xem thường tôi. Có lẽ ông nghĩ tôi kém chữ Hán mà lại nhác học nên rồi làm gì cũng chẳng ra gì chăng? Tôi cảm thấy hơi bẽ bàng:

- “Lúc cụ Hồ còn sống thì con hiểu mọi việc chưa thấu đáo, làm sao con viết được! Còn bây giờ muốn đi làm bất cứ việc gì miễn có tiền thì con lại tiếc những năm tháng bỏ thành phố đi theo kháng chiến. Con rất mong thầy thông cảm và giúp cho để con có thể viết thành công!”

Ông Định sợ tôi thất vọng, ông đổi giọng an ủi tôi ngay:

- “Nói vậy cho vui chứ tôi biết anh là một người rất có chí. Không làm thì thôi chứ đã làm thì làm đến nơi đến chốn. Nhưng tôi có biết  gì nhiều đâu hè?”

Ông Định đổi thái độ làm cho tôi mừng thầm: “Cám ơn thầy đã cho con những lời dạy bảo quý báu. Sau này con có làm được một cái gì chính là nhờ các ông, các thầy và bà con xứ Huế hết lòng giúp đỡ cho con!”

*

*     *

Lời kể cụ Hồ Đắc Định (87 tuổi) (1):

- “Lúc cụ Hồ còn là câu học sinh Nguyễn Sinh Côn ở trường Đông Ba và trường Quốc Học tôi có biết nhưng ít khi gặp nhau chuyện trò. Tuy vậy, trong gia đình tôi thì không thể quên được người học sinh ấy. Bởi vì cuộc đời học vấn của cụ Hồ lúc ấy có liên quan đến ông anh tôi là thầy trợ Hồ Đắc Quỳnh. Trước đây mấy người cháu của tôi đi tập kết (Hồ Đắc Nga làm ở báo Độc Lập) gửi thư về bảo tôi viết chuyện ấy. Nhưng tôi không viết. Anh lạ gì người Huế mình có thói quen rất sợ mang tiếng “thấy sang bắt quàng làm họ”. Bây giờ thì cụ Hồ đã mất gần mươi năm rồi, đối với anh là học trò cũ, tôi không thể từ chối được.Tôi kể anh nghe rồi anh coi chọn sử dụng được cái gì thì tuỳ ý anh.

- “Lúc vào học trường Pháp Việt Đông Ba trình độ Pháp văn của anh Côn còn kém lắm. Từ điển rất hiếm và học sinh cũng chưa có thói quen tra Từ điển. Gặp chữ gì khó hiểu anh Côn cũng hỏi thầy. Một hôm mới vào lớp anh Côn thấy dòng chữ kẻ phía trên tấm bảng đen trước mặt, anh đứng dậy hỏi thầy:

- “République Francaise,

Liberté-Égalité-Fraternité, nghĩa là gì, thưa thầy?”

Anh tôi- cụ Hồ Đắc Quỳnh - vốn là một học sinh thông minh, mới 23 tuổi đã đỗ Thành chung, tuy vậy anh cũng chưa hiểu hết câu tiêu ngữ này. République Francaise là nước cộng hoà Pháp nhiều người đã hiểu. Còn ba chữ kia thì sao? Vì tình trạng đất nước mình lúc đó không có những từ tương đương với những từ Pháp ấy. Cuối cùng anh tôi giở Từ điển ra xem và đọc nguyên văn bằng tiếng Pháp cho anh Côn và cả lớp đều nghe. Nghe xong anh Côn vẫn chưa thỏa mãn. Hết giờ anh Côn và một số học sinh đi theo yêu cầu thầy giáo giải nghĩa thêm bằng tiếng Việt nữa. Khi anh  hiểu mấy chữ ấy rồi thì anh rất thích thú. Anh nói với bạn bè anh sẽ học tiếng Pháp cho thật giỏi để hiểu được văn minh, lịch sử nước Pháp. Ngoài giờ học ở trường anh còn xin đi học cours du soir  (Lớp chiều) với thầy Ưng Dự (lớp học chiều ấy mở ngay ở ngã tư Trần Hưng Đạo-Phan Đăng Lưu ngày nay).”

Tôi xin lỗi ông Định và hỏi chen vào:

- “Thưa thầy, có lẽ vì thế mà sau này Bác Hồ đã kể lại với nhà báo Man-đơ-sơ-tam như thế này chăng: “Vào trạc13 tuổi lần đầu tiên tôi đã nghe những từ Pháp Tự do-Bình đẳng-Bác ái... Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ ấy” (2).

- “Có thể như thế!” - Ông Định đồng tình với tôi.

Thói quen nghề nghiệp khiến tôi buộc miệng hỏi:

- “Theo nghiên cứu của nhiều người, Bác Hồ đã vào học trường Đông Ba từ năm 1905, vậy câu chuyện trên chắc phải xảy ra vào những ngày đầu Bác mới vào học phải không, thưa thầy?”

- “Tôi cũng nghĩ thế!” - Ông Định gật đầu.

Tôi thắc mắc:

- “Bác sinh năm 1890, năm 1905 Bác lên 15 tuổi. Thế tại sao Bác có thể quên nói với nhà báo Man-đơ-sơ-tam là năm 13 tuổi?”

Ông Định chậm rải nâng bình nước trà lên, móc xác trà cũ bỏ ra và bỏ trà mới vào bình, miệng ông chúm chím cười nói với tôi:

- “Năm 1923, Bác Hồ nói như thế là chính xác đó. Theo những bạn bè cũ của Bác Hồ cho biết Bác sinh vào nămm 1892, ông Lê Thanh Cảnh đọc được hồ sơ mật thám Pháp lập từ năm 1920 ở Toà khâm cũng nói Nguyễn Sinh Côn sinh năm 1892, các nhà viết sử phương Tây (trước và sau năm 1945) cũng đều cho rằng Bác sinh năm 1892. Anh về giở sách lại mà xem. Những tài liệu cho rằng Bác sinh năm 1890 chỉ mới xuất hiện sau năm 1945 và chỉ có Nhà nước của mình xác nhận như vậy thôi!”

Tôi sực nhớ lại những tài liệu tôi đã đọc (3) và có vẻ suy nghĩ trước con số năm sinh của Bác Hồ 1890. Đọc được ý nghĩ của tôi, ông Định bảo tôi với giọng nghiêm trang của một thầy giáo cũ:

- “Nhưng anh cũng phải hiểu rằng: Khi vào Huế học, Bác Hồ đã lớn tuổi, muốn xin đi học tiếng Pháp được dễ dàng biết đâu Bác đã khai trụt tuổi? Đến năm 1945, Cách mạng thành công, chính quyền do Bác lãnh đạo Bác cần gì phải khai trụt nữa! Bác có thể lấy lại cái năm sinh chính thức của mình là 1890 chăng! Làm như thế cũng có lợi. Ông chủ tịch nước lớn tuổi một chút để thêm phần trịnh trọng với nước ngoài và các tầng lớp quần chúng, như vậy có sao đâu? Mình là người cầm bút, làm việc khoa học, có lương tâm phải tìm hiểu cho thật cặn kẽ mới thấy được sự thật. Bút sa gà chết anh nhớ chớ?”

Tôi mừng rỡ:

- “Gần 90 tuổi rồi mà thầy vẫn còn chính xác quá! Con xin ghi lòng tạc dạ những lời chỉ giáo quí giá của thầy!”

...

- “Xin thầy kể thêm cho con một số hồi ức có liên quan đến thời gian Bác Hồ còn ngồi ở ghế nhà trường Quốc Học!”

- “Thời gian ấy tôi có biết nhưng tôi không nhớ rõ bằng cụ Lê Thiện, gia đình cụ Ưng Dự, gia đình cụ Hoàng Thông, gia đình cụ Lê Văn Miến. Còn tôi nếu anh thấy cần tôi sẽ kể thêm một vài mẩu chuyện thời gian Bác ở Quy Nhơn!”

Trời đã chiều, tôi thấy ông Định mệt tôi thưa:

- “Cám ơn thầy - Để thầy nghỉ. Con chỉ nghiên cứu về thời gian Bác Hồ ở Huế thôi!”

*

*     *

Hình ảnh ông Lê Văn Miến trong tình cảm của những người đã từng học với ông rất sâu đậm. Những lần nghe tôi báo cáo công việc nghiên cứu về Bác Hồ ở Huế, các bậc lão thành cứ hỏi:

- “Anh đã nghiên cứu kỹ về cụ Lê Văn Miến chưa? Thầy Miến có dạy Bác và có ảnh hưởng đối với Bác đấy!”

Bởi thế tôi đã bỏ một thời gian khá lâu để nghiên cứu và viết một bài về cụ đăng trên tạp chí Văn Hoá Nghệ Thuật (4).

Theo di cảo của ông Lê Thước, ông Lê Văn Miến là người đã được Triều đình giao cho mở trường PhápViệt tại Nghệ An. Cơ sở của trường đặt tại ngôi nhà cũ của ông Hoàng Cao Khải (5). Ông Miến cũng là người lập ra Hoan châu học hội và có đóng tiền cho Triêu dương thương điếm. Ông Lê Thước còn cho biết thêm, Bác Hồ đã từng học Pháp văn với ông Miến tại trường Pháp Việt (Vinh), và ông Phó bảng Sắc cũng thường lui tới trụ sở của Triêu dương thương điếm và Hoan châu học hội. Ngoài tài liệu chưa xuất bản của ông Lê Thước, tôi chưa có thêm tư liệu nào khác để khẳng định điều này. Sự kiện ông Miến có dạy Bác Hồ ở trường Quốc Học thì đã được nhiều người và nhiều tư liệu khác nhau xác nhận.

Ông Lê Văn Yên con trai thứ của ông Lê Văn Miến hiện nay (1978) ở tại số nhà 153, đường Thuận An Huế, kể lại rằng:

- “Từ đầu năm 1943 thầy tôi đưa gia đình về Phò Trạch ở trong một ngôi nhà do lòng hảo tâm của học sinh cũ của thầy tôi mua tặng. Trong những năm ấy ông Nguyễn Tất Đạt bị an trí ở Phù Lễ (Quảng Điền) hay lên thăm thầy tôi, đôi khi ông ở lại trong nhà hàng tuần lễ. Trong những ngày ấy ông Đạt hay ngồi đàm đạo với thầy tôi, kể lại những kỷ niệm hai anh em Đạt Thành học với thầy tôi tại trường Quốc Học Huế. Khi thầy tôi mất (6.6.1943) có hai người học trò đứng chịu tang: người thứ nhất là ông Nguyễn Trác đại diện cho Hội học sinh Quốc tử giám, thứ hai là ông Nguyễn Tất Đạt đại diện cho học sinh Quốc Học.”

Ông Tôn Thất Sa nguyên là giáo viên dạy vẽ tại trường Quốc Học từ năm 1905 kể:

- “Năm 1956 kỷ niệm Đệ thập lục chu niên trường Quốc Học, chúng tôi - những giáo viên và học sinh cựu trào của trường có dịp ngồi lại với nhau kể chuyện xưa. Anh Ưng Dự nói có dạy Pháp văn cho cụ Hồ tại lớp chiều và tại trường Quốc Học. Lúc ấy cụ Hồ còn mang tên Nguyễn Sinh Côn. Tôi có biết trò Côn thuở ấy” - Cụ Sa cười và nói tiếp- “Vì trò hay hỏi thầy nên ai cũng biết. Nhưng tôi không dạy trò Côn. Người dạy trò Côn chính là cụ Tế Miến (6). Mỗi lẩn dạy cụ Tế thường dành lại mười phút để kể chuyện văn minh cho học sinh nghe. Cụ kể chuyện ở bên Pháp cũng có người nghèo, đêm đêm các cô gái Pháp nghèo phải ra vườn Luýt-Xăm-bua làm tiền để kiếm sống, ông già bà lão không nơi nương tựa chống gậy đi dọc theo các lề đường phố sục sạo các thùng rác tìm những thứ gì còn ăn được thì ăn... Trong các thư viện, các bảo tàng của Pháp có nhiều cổ vật, nhiều sách vở quý. Đặc biệt là người đọc có thể đến thư viện mượn đọc những cuốn sách nói về Cách mạng Pháp và Cách mạng thế giới. Người Pháp ở Pháp khác người Pháp ở Việt Nam. Người Pháp ở Pháp từ ông Viện Hàn lâm xuống cho đến người dân lao động đều rất quý trọng người Việt Nam miễn là người Việt Nam có tư cách, biết tự trọng, làm việc giỏi, học hành chăm chỉ...Trò Côn nghe thầy Miến kể những chuyện ấy rất thích thú, trò thích hơn cả việc học vẽ. Có lần trò hỏi thầy giáo: “Làm sao có thể qua Pháp để xem người Pháp họ sống ra sao?” - Kể đến đó cụ Tôn Thất Sa nổi cơn ho, cụ dừng nói đưa tay tự vuốt ngực rồi uống một ngụm nước chắp chắp cho khỏi khan giọng rồi kể tiếp một cách hứng thú: “Năm 1927, tôi nghe cụ Phan Bội Châu nói Nguyễn Ái Quốc tức cậu học sinh Nguyễn Sinh Côn ngày xưa ở trường Quốc Học đang hoạt động yêu nước ở Pháp tôi hiểu ra ngay. Trường Quốc Học đối với Nguyễn Ái Quốc rất quan trọng, anh là người Huế lại là học sinh Quốc Học, anh nên nghiên cứu cho thật kỹ ngôi trường này và hoàn cảnh xã hội lúc ấy để giới thiệu cho người đời sau hiểu.”

- “Thưa cụ...!” -Tôi ngắt lời - “Cháu đã nghiên cứu nhưng khó quá. Nhân tiện cháu xin cụ giúp cho cháu một ít tư liệu!”

- “Sẵn sàng!” - Ông Sa đáp một cách nhiệt tình.

Nói dứt lời ông Sa chống hai tay lên bàn cố gắng đứng dậy đi đến mở cái tủ kê bên cạnh lấy đưa cho tôi một xấp giấy màu tím tím. Ông bảo:

- “Đây là bài Le Quốc Học của E. Le Bris -đồng nhiệp của tôi, trong ấy tôi có  một cái dessin vẽ cổng trường Quốc Học thuở xưa. Bài in trên báo Đô Thành Hiếu Cổ (7). Le Bris là giáo sư của trường, ông lại có một tình cảm đặc biệt đối với xứ Huế mình nên bài viết tốt lắm, các anh là hậu sinh có thể tin cậy được. Cần biết thêm chi tiết anh có thể hỏi thêm cụ Ưng Dinh, cụ Lê Thiện, hay ngay cả Phan Văn Dật, Ưng Thuyên. Những người ấy có thể giúp anh được cả!”

Tôi cầm xấp tư liệu măn mo trong tay với một niềm xúc động rạo rực.

- “Thưa cụ con nghe nói đến bài này từ lâu nhưng hôm nay lần đầu tiên con mới được cầm nó trong tay, nhìn nó tận mắt. Những người cụ vừa nhắc đến con đã hân hạnh được gặp một số. Nhân đây xin cụ cho con biết thêm hai điều: Một là trường Quốc Học thuở ấy khai giảng vào ngày tháng nào năm nào? Hai là thuở Bác Hồ học, trường Quốc Học có giống như trường Quốc Học của Le Bris tả trong bài báo này không?”

Ông Sa gật gù:

- “À... à! Lúc đó khai trường vào ngày đầu năm dương lịch (tức 1 tháng giêng). Hình như Lê Thanh Cảnh có viết ở đâu đó như vậy, anh về tra cứu lại có đúng như thế không! Le Bris viết bài đó vào cuối năm 1908 (lúc cụ Hồ còn theo học).”

...

Hôm đó về nhà tôi chăm chú dịch bài báo cụ Sa vừa cho mượn. Điều tôi thú vị nhất là tôi tìm thấy trong bài báo của Lê Thanh Cảnh (Hoài niệm Quốc Học số 2, trang 8) một chi tiết nói về ngày 1 tháng 1 dương lịch là ngày khai giảng năm học mới của trường Quốc Học. Nhờ vậy tôi đã đính chính được một sai lầm của tôi cho rằng Bác Hồ vào trường Quốc Học từ mùa hè năm 1907.

Trường Quốc Học Huế đầu thế kỷ XX qua ngòi bút của Eugène Le Bris.

“... Trước hết về cái cổng trường với cách xây dựng rất Việt Nam. Đó là hai bức tường lớn có những xà ngang để nâng cao một tầng gác, mái lợp theo kiểu Á đông. Sách Đai Nam Nhất Thống Chí cho biết là cổng trường được xây dựng cùng lúc với vòng thành bằng gạch bao quanh vào năm thứ 10 đời Thành Thái (1898). Trên mặt cổng là một bức hoành màu xanh (8) còn đọc được những chữ:“Pháp Tự Quốc Học Trường Môn”.

Một chiếc cầu thang mối mọt và khúc khuỷu dẫn lên gác cổng. Gác có treo một cái chuông rè thỉnh thoảng thả vào cái mảnh đất của một thời đại nào đã qua những âm thanh luống tuổi và khô khan. Vô khỏi cổng trường, du khách bước vào một lối đi râm mát. Lối đi trải dài vô tận cái ngỏ phía Nam của trường, rồi thông ra các vùng lúa Phú Cam, (con đường) chia nhà trường ra làm hai khu vực; bên trái là các lớp học, bên phải là nhà ở của Hiệu trưởng, của một số thầy giáo và học sinh nội trú.

Nói đúng hơn thì Quốc Học có hai trường: trước là trường sơ cấp song song với đường Jules ferry, sau là các lớp bổ túc do thầy giáo Pháp dạy nằm ở cuối cái sân cỏ trồng cây cao-su(?) (9) và cây anh đào Nhật bản(?).Các phòng học giống nhau, nhìn vào rất đau lòng: những bức tường màu vàng ủ mục, những cột lim to đầy sứt sẹo chống đở cho một hệ thống phên làm tổ cho các bầy chuột, những cửa lớn và cửa sổ, gỗ đầy mối mọt, còn đứng vững được là một điều kỳ lạ. Bộ khung của lớp học là như thế. Thêm vào là vài bức bản đồ treo trên vách, những cái bàn dài rất bất tiện với học sinh, một cái bàn sơ sài dành cho thầy giáo. Và, đó là một cái phòng học của trường Trung học Quốc Học.

... Những buổi sáng hè phải đụng độ với những ngọn nắng, với những cơn mưa to chảy dài trên các bức tường hay nhỏ giọt trên trang giấy, với những bầy chuột lớn chuột bé nhảy nhót trên đầu giúp vui cho những cậu học trò lười. Trước năm 1912 các thầy giáo người Âu phải đội mũ hoặc trên đầu phải che dù để lui tới dạy dỗ trong lớp.

... Những dãy nhà này xưa kia được tạo dựng để làm những đồn trại cho Thuỷ quân của nhà vua... Ai ngờ được những đồn đã trở thành trường học.

... Cách đây (1915) bốn mươi năm, quang cảnh tại chỗ này rất khác.Từ sông đào Phú Cam đến đập Thọ Lộc có 15 dãy nhà dài tường gạch, mái lợp tranh đồn trú của 6.200 người thuộc đạo Thuỷ binh của các vua An nam. Các dãy  nhà được làm vào năm Gia Long thứ 5 (1806) và dùng làm trại binh cho đến triều Thành Thái.”


(1) Ghi ngày 11.1.1978.

(2) Trích lại trong Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiểu sử và Sự nghiệp, Nxb Sự Thật, (in lần thứ 3), HN,1975, tr.14.

(3) Những tài liệu viết Bác Hồ sinh năm 1892: -Ellen J. Hammer, The Struggle for Indochina, Stanford University Press, California, USA, P.75 -Philippe Devillers, Histoire du Việt-Nam de 1940 à 1952 Ed.du Seuil, Paris.1952, p.57

(4) Nguyễn Đắc Xuân, Họa Sĩ Lê Văn Miến, Người Vẽ Sơn Dầu Đầu Tiên Ở Việt Nam, tạp chí VHNT, số 9.1982, tr.55.

(5) Ông Đỗ Hữu Nghiêm tác giả bài báo “Chung Quanh Nắm Mồ Của Chủ Tịch Hố Chí Minh” (Đối Diện, số 4 (10.1969, tr.46) có viết: “Thuở thiếu niên trước hết Thành học tại trường làng, rồi tại một trường Trung học Pháp (?) ở thành phố Vinh..”.Vì không rõ xuất xứ tài liệu tác giả đã xử dụng nên chúng tôi chỉ ghi thêm vào đây đê tham khảo.

(6) Tức là Tế tửu Quốc Tử Giám-ngang hàng với Giám đốc Đại Học Quốc Gia ngày nay.

(7) Eugène Le Bris, Le Quoc Hoc, Bulletin des Amis du Vieux Hué, 1916, p.76-81.

(8) Trong thực tế bức hoành này màu đỏ hiện nay vẫn còn.

(9) Có lẽ là cây mù-u.
 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123