Chương 8: Những điều còn nhớ về người học sinh trường Pháp Việt Đông Ba và Quốc học ấy

Khi nghe tin tôi tìm được chỗ ở đích xác của Bác Hồ ở Huế, các bạn của tôi cũng vui lây và họ khuyến khích tôi phải vượt qua nhũng khó khăn để làm việc. Một hôm đi làm về, đạp xe vô cửa Thượng Tứ, lòng đang bồi hồi nhớ lại những tư liệu có liên quan đến Bác và cửa Thượng Tứ vừa mới tìm được thì bỗng dưng nghe phía sau có người phóng xe Honda tới vỗ vai:

- “Nhà nghiên cứu vừa rồi có tìm thêm được tư liệu gì mới nữa không?”.

Tôi nhìn ngang qua vai thấy anh Nguyễn Khoa Quả - một nhiếp ảnh viên nổi tiếng ở Huế, tôi đáp với giọng lạc quan bình thường:

- “Chưa có gì mới!”

Anh Quả bảo tôi:

- “Thế anh đã gặp ông Nguyễn Đạm, thân sinh của bác sĩ Nguyễn Hoài ở Bệnh viện Trung ương Huế chưa? Cùng đi một chuyến xe lửa với ông ta, vô tình mình được nghe ông kể chuyện ông học một lứa với Bác Hồ ở Huế đó!”

Tôi mừng rỡ:

- “Thế có phải là ông cậu ruột của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường không?”.

Anh Quả đáp:

- “Đúng rồi, đúng rồi”.

Tôi mừng rỡ:

- “Cám ơn anh. Tốt quá, chiều nay tôi sẽ đến ngay”.

Anh Quả nói tiếp:

- “Nhà ông Đạm ở kiệt 1 đường Âm Hồn gần đây thôi!”.

Tôi chia tay anh Quả và đi thẳng vào nhà ông Nguyễn Đạm.

*

*      *

Ông Đạm vừa bị ngã, gãy xương đùi phải bó bột. Từ khi bị nạn ông không tiếp ai. Nghe tôi là bạn anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và có quen biết với bác sĩ Nguyễn Hoài (con trai ông) nên ông cho phép tôi được vào phòng riêng của ông, nói chuyện.

Ông Đạm tóc đã bạc trắng, người dong dỏng cao, nằm trong phòng thiếu ánh sáng nên nước da trắng của ông đã ngã vàng. Sau một vài câu thăm hỏi, tôi xin được nghe những kỷ niệm của ông với Bác Hồ.

Ông nói chậm rãi, giọng run run:

- “Tôi người gốc Quảng Trị theo gia đình vào Huế từ nhỏ. Tôi không phải là người đồng trang đồng lứa với anh Côn, tôi nhỏ hơn anh đến bốn năm tuổi. Khi tôi vào học trường Pháp-Việt Đông Ba thì anh đã sắp ra trường. Tôi còn nhớ một vài kỷ niệm về anh, không phải vì anh đã trở thành Bác Hồ mà nhớ vì lúc nhỏ anh có một tính cách khác với các bạn cùng lứa. Cụ Bảng Huy thân sinh của anh làm quan, nhà ở dãy Trại đường Đông Ba. Những tối sáng trăng bọn trẻ chúng tôi thường mua Thanh trà đem đến Ngã tư Anh danh (nay là Ngã tư Mai Thúc Loan-Đinh Bộ Lĩnh)  ngồi ăn và nói chuyện. Người anh cao to, nuớc da ngăm ngăm đen, đầu hớt ca-rê, tóc dựng đứng lên. Anh nói giọng Nghệ rất to. Khi nào nói cũng dướng dướng cổ lên. Có lẽ vì thế mà hạt nút ở cổ áo anh thường đứt hết. Trông anh có vẻ bướng bướng. Các bạn rất thích anh, vì anh lúc nào cũng có vài chuyện mới để kể. Anh có cái tính không bao giờ để tàn câu chuyện mới ra về. Anh thường chia tay anh em bạn bè sau cái phút kể chuyện hào hứng nhất. Vì thế mỗi lần thấy anh đứng dậy, ai cũng muốn níu lại. Khi chia tay, các bạn thường chìa tay bắt và chào ”Ô-rờ-voa” (1), còn anh thì không chào như thế. Anh nói tiếng Tây bằng cái giọng Nghệ đặc sệt: “Rơ-vu-kịt!” (2). Như trên tôi đã nói, tôi không được học một lớp với anh Côn, anh nên tìm tờ đặc san Hoài niệm Quốc Học số 2, đọc bài hồi ký của ông Lê Thanh Cảnh tham khảo thêm!”.

Tôi tiếp lời:

- “Thưa ông, cháu đã đọc bài ấy rồi, nhưng cháu chưa thỏa mãn!”

Ông Đạm khuyên:

- “Thế thì anh nên vào cư xá Thanh Đa Thành phố Hồ Chí Minh hỏi xem thử ông Lê Thanh Cảnh có còn nhớ thêm được gì nữa không? Nhưng cũng phải coi chừng, ông Cảnh...” - Ông Đạm không nói hết lời mà thay vào những từ còn lại bằng một nụ cười héo hon trên môi. Trông ông Đạm đã có vẻ mệt, tôi đành phải cám ơn ông và xin được trở lại trong một dịp khác.

*

*      *

Tuy ông Đạm đã mách cho, nhưng tôi cũng phải nhờ ông Nguyễn Đình Hàm - nguyên là Hiệu trưởng trường Quốc Học, giới thiệu thêm. Mùa hè năm 1978 tôi vào Thành phố HCM tìm gặp ông Lê Thanh Cảnh. Nhà ông ở tại số 4/18 / lô 4 cứ xá Thanh Đa, TP.HCM. Hôm đó vào sáng Chủ nhật, gia đình ông đi xem lễ, chỉ có một người cháu trai ở nhà. Người cháu ông Cảnh tiếp tôi trong một gian phòng đơn sơ, sàn nhà chưa lát ca-rô còn xô xảm dấu vết của các sỏi. Tôi ngồi chờ chủ nhà trên  một chiếc ghế xích đu, tấm bố đã mòn, trết mồ hôi láng bóng. Hai bên chỗ tôi ngồi là một cái bàn đặt năm bát cháo trắng và bên kia là một chiếc chỏng tre để ngổn ngang sách báo, chai lọ, ly tách và những đồ dùng cần thiết hàng ngày. Chờ ông Cảnh hơi lâu tôi có dịp nói chuyện với người cháu của ông Cảnh và nhìn đưọc kỹ lưỡng những đồ dùng của ông để trên chỏng tre. Mắt tôi đã dừng lại những cái nhãn dán trên một thẩu rượu. Cái nhãn ấy có viết đôi câu đối:

“Bán rượu bán chè không bán nước

Buôn ngàn, buôn vạn, chẳng buôn quan” (3)

Tôi nghĩ vơ vẩn về dụng ý của người dán câu đối này. Ông Cảnh đã viết trong hồi ký rằng ông đã làm bí thư, ngồi bên cạnh bốn đời Khâm sứ Huế. Đồng bào Huế cũng cho biết ông Cảnh là chủ nhân của nhiều hảng buôn lớn ở nhiều nơi. Có lẽ bây giờ ông muốn dùng câu đối này để thanh minh cho đời ông với chính quyền mới đây chăng?

Khoảng 9 giờ sáng thì chủ nhân về. Ông Cảnh người cao, hốc hác, nhưng tướng mạo dềnh dàng. Tuổi đã trên 90 mà ông cũng đủ sức leo lên được bốn tầng lầu chứng tỏ ông đã có một thời trai trẻ được dinh dưỡng tốt.

Mới nghe người cháu giới thiệu tôi và mục đích tôi đến nhà ông, ông vừa cởi áo véc-tông mắc lên giá vừa nói một thôi dài với giọng gay gắt:

- “Tôi biết chuyện gì về cụ Hồ tôi đã viết hết cả lên đặc san Quốc Học, anh tìm lấy mà đọc. Bây giờ tôi không còn nhớ thêm gì nữa và cũng không có thì giờì tiếp các anh. Chúng tôi nghèo đói lắm làm không đủ mua gạo nấu cháo húp, có thì giờ đâu mà tiếp các anh!”

Tôi tiếp lời ông:

- “Cháu đã đọc bài của ông rồi, nhưng cháu mong muốn được nghe ông kể thêm cho một số chi tiết nữa!”

Ông Cảnh quay lại phía tôi:

- “Anh cứ đọc và xem như không gặp tôi. Tôi nói thực với anh: xin anh tha cho tôi để tôi được yên ổn làm ăn. - “Ông chỉ qua cái bàn có mấy tô cháo - “Cuộc sống của chúng tôi bây giờ chỉ có vậy” -Ông ngồi phịch vào cái ghế xích đu và đưa tay cho tôi bắt và nói một cách dứt khoát:

- “Thôi chào anh!”

Tôi biết ông Cảnh bất mãn với chế độ mới. Mà ông bất mãn là điều dễ hiểu thôi. Biết mình không đủ sức thuyết phục ông hôm nay nên tôi đã cáo từ.

*

*      *

Tôi về trọ trong nhà một bà bác dâu (bà Phùng Thị Dung)-bà con cô cậu với ba tôi, tại Hàng Xanh (Bình Thạnh). Thường ngày vô đây tôi chỉ nói chuyện bà con làng nước với bác, ít khi tôi đem chuyện viết lách ra nói. Lần đó, sau khi gặp ông Cảnh mà chưa được như ý, tôi về than thở với bác. Thật bất ngờ bác nói với tôi:

- “Ông Cảnh ngày xưa học một trường với bác Trợ Nhuận nhà mình đó. Xưa nay ông nổi tiếng là một người làm cao, ai còn lạ gì?”

Nghe bác nói rất rành rọt thế mà tôi cứ nghi là mình nghe nhầm! Lẽ nào có sự may mắn như vậy? Tôi hỏi lại:

- “Thưa bác ông Cảnh có học một trường với bác mình thật à?”

- “Chớ sao!” - Bác tôi nhắc lại:

- “Thế bác Trợ có biết Bác Hồ Chí Minh à?”

Bác tôi đáp:

- “Lúc sinh thời bác Trợ có nói học một lớp với Bác Hồ, nhưng lâu quá bác không còn nhớ rõ. Con muốn biết thì lên hỏi ông Trợ Thiện trên Đa-kao đây nì?”

Hôm ấy về nhà chưa ăn cơm trưa mà tôi đã cảm thấy no. Đợi cơn mưa dông Sài Gòn dứt, theo sự chỉ dẫn của bác, tôi ngược lên Sở thú rồi rẽ vào tìm nhà ông Thiện ở trong một cái kiệt đường Nguyễn Bĩnh Khiêm (số 26/11D).

Ông Thiện người cao to, đã quá cái tuổi chín mươi nên nước da hơi bạc, đầu tóc trắng phau. Tôi vào nhà giữa lúc ông đang ngồi trong bộ xa-lông đã ám khói đọc báo Nhân Dân. Tất cả các sách báo cũ đều được ông bọc bao ni-lông trong và xếp đặt cẩn thận xung quanh ông. Tôi đưa cái giấy giới thiệu của Hội văn nghệ cùng cái thư mấy chữ của bác tôi gửi thăm ông. Ông tuần tự đọc các thứ giấy tờ với đôi mắt trần, nét mặt tỉnh khô. Ông hỏi tôi:

- “Anh là cháu Trợ Nhuận à?”

- “Dạ phải-Thưa cụ!”

- “Trợ Nhuận nào?”

- “Trợ Nhuận người làng Dã Lê Chánh có nhà ở tại Gia Hội ngày xưa học một lớp với cụ đó!”

- “Trợ Nhuận độ này mạnh không?”

- “Thưa cụ, bác cháu mất từ hồi vỡ Mặt trân năm bốn bảy kia chớ!”

- “Rứa à? Nhưng sao anh lại là cháu được?”

Tôi nhìn ông khó hiểu quá. Tôi giải thích:

- “Bác Trợ với ba cháu là chỗ anh em cô cậu!”

Ông lại hỏi tôi thêm một thôi dài nữa. Tôi hơi nản, bụng cứ bảo dạ “lại gặp một củ trối nữa đây rồi!” May sao cuối cùng ông bảo:

- “Xin lỗi anh. Lưu manh ở cái đất Sài Gòn này nhiều lắm. Tại vì Trợ Nhuận là người Huế, còn anh thì lại nói giọng Quảng khiến tôi nghi quá! Sở dĩ tôi hỏi anh cặn kẽ một chút để khỏi lầm thôi, chớ tui với Trợ Nhuận ngày xưa thân thiết như anh em. Và còn gì sung sướng hơn trước khi tôi nhắm mắt, được kể những kỷ niệm của đời mình với cụ Hồ cho một ngưòi viết văn nghe!”

Nghe ông Thiện đổi giọng tôi lại đâm tiếc. Tôi ân hận biết đâu sáng nay tôi cứ sấn sổ ngồi lại nhà ông Lê Thanh Cảnh rồi cuối cùng biết đâu cũng sẽ được ông chấp nhận chăng? Tôi nhanh chóng tự kiểm điểm và rút kinh. Bây giờ thì tôi phải giấu chuyện bị ông Cảnh từ chối buổi sáng nay.

Ông Thiện đã tiếp tôi nhiều buổi và sau đây là một đoạn tự sự của ông.

- “Khoảng năm 1920 tôi dạy “cours Supérieur” (4) tại một ngôi trường Pháp Việt do anh Hoàng Tạo (con trai cụ Hoàng Thông đã từng làm Quản giáo Hán văn tại trường Quốc Học năm xưa) làm hiệu trưởng (tại Quảng Ngãi). Hôm ấy tôi đang đứng giảng bài cho học trò thì có giấy gọi tôi đến Toà sứ. Công sứ Pháp lúc đó là Jean Dupuis tiếp tôi với thái độ lịch sự của một người quen biết từ lâu.

- “Chào thầy giáo. Hôm nay chúng tôi có một việc quan trọng cần đến sự giúp đỡ của thầy giáo. Thầy giáo vui lòng chứ?”

Tôi chưa biết được mục đích Toà sứ gọi, tôi hỏi với giọng ngạc nhiên:

- “Ngoài việc dạy học, tôi có tài cán gì đâu để có thể giúp được cho các Ngài?”

- “Có chứ!” -Tên Công sứ cười vui vẻ - “-Bạn của ông giới thiệu mà!”

- “Bạn tôi?”.

- “Ông không nhớ ông Dương Đình Hoè sao?”.

Tôi ngúc đầu:

- “Hoè là bạn học cùng lớp với tôi ở trường Quốc Học Huế, cùng đổ Thành chung với tôi một lần. Sau đó tôi đi dạy học, còn Hoè thì vô làm thư ký ở Toà sứ”.

Dupuis trưng ra trước mặt tôi một chiếc ảnh căn cước của một người thanh niên có khuôn mặt thon thon, đôi mắt sáng, đội mũ mốt-xăng. Ngón tay cái của tên Công sứ che mất cái tên đề dưói tấm ảnh. Anh ta hỏi tôi:

- “Có biết người này không?”.

- “Không biết” - Tôi lắc đầu đáp.

Dupuis từ từ giở ngón tay cái ra, miệng anh đọc hàng chữ ghi dưới ảnh: “Nguyễn Ái Quốc”. Cái tên đẹp đẽ và cao quý làm sao! Ngay lập tức linh tính báo cho tôi biết sắp có chuyện không hay đến với tôi đây rồi. Giọng run run tôi bảo:

- “Thưa Ngài ông Nguyễn Ái Quốc có liên quan gì đến tôi đâu?”.

- “Có chứ!” Dupuis khẳng định.

- “Ha!”-Tôi lo lắng, há mồn kêu lên.

Dupuis giải thích trong kẻ răng:

- “Nguyễn Ái Quốc xưa kia có những cái tên Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, học cùng lớp với thầy giáo ở trường Quốc Học. Ông Hoè đã cho chúng tôi biết điều đó. Có đúng không?”

Nửa sợ, nửa mừng. Tôi không ngờ anh Côn sang trời Âu hoạt động cách mạng lại thay đổi dữ vậy! Tôi đáp:

- “Rứa thì có. Cách đây trên mười năm, ông Quốc mặc áo dài đen, học một lớp với tôi ở trường Pháp-Việt Đông Ba, sau qua trường Quốc Học, bây giờ ông ấy mặc Âu phục tôi nhìn không ra!”

Dupuis bỏ chiếc ảnh vào cặp hồ sơ rồi bảo tôi:

- “Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động bí mật tại Pháp. Ông ta nói dân chúng Pháp thì tốt, nhưng những người Pháp cai trị ở Đông Dương thì rất xấu. Ông mỉa mai, chửi bới, xúc phạm đến Nhà nước Bảo hộ rất nhiều. Bộ thuộc địa gởi cái ảnh này về để nhận mặt. Hễ thấy Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Đông Dương thì phải đi báo bắt ngay. - “Dupuis nhìn vào mặt tôi nói nửa như ra lệnh nửa như khích lệ - “Ăn lương Nhà nước Bảo hộ, thầy giáo phải dò xét để bắt cho được Nguyễn Ái Quốc!”

Tôi nghĩ bụng: Trước đây sợ làm tay sai cho Pháp nên không đi làm việc cho các Toà sứ mà chọn con đường đi dạy học. Không ngờ làm thầy giáo trong chế độ thực dân cũng không thoát khỏi số kiếp làm mật thám cho Pháp. Tôi cảm thấy xấu hổ với người bạn xưa đang hoạt động ở hải ngoại. Để được tha về đi dạy học, tôi nói với Dupuis:

- “Nguyễn Sinh Côn ở bên mẫu quốc. Nếu ông ta về nước thì Chính phủ Bảo hộ và những người làm việc thân cận với chính phủ biết trước chớ đâu đến phiên tôi. Xin ngài Công sứ thông cảm và cho tôi cáo từ.”

Tên Công sứ rất bực mình. Hắn dùng dằn một lúc rồi cuối cùng hắn cũng cho tôi về. Trên đường về nhà hình ảnh anh Nguyễn Sinh Côn hiện ra trong tâm trí tôi.

... Nhân ngày khai giảng năm học 1907 ở trường Pháp-Việt Đông Ba, tôi và anh Trần Kinh, vốn là bạn thân từ Cours Préparatoire (5), được lên cours Supérieur (6) thì gặp anh Nguyễn Sinh Côn (hình như anh Côn học băng nên ở các lớp dưới anh không cùng học một lớp với chúng tôi). Vào lớp anh Côn cũng như tôi đều là những học sinh lớn tuổi, vóc dạc cao to, nên phải ngồi ở những hàng ghế cuối phòng. Sau vài tuần, thấy Côn học giỏi, thông minh, vốn sẵn cái tâm sự lớn tuổi, đã học qua chữ Hán, tôi quen thân với anh Côn ngay. Nhà tôi ở gần hồ Tịnh Tâm, mỗi lần đi học tôi đều ghé qua gian thứ hai dãy Trại phía bên tay phải rủ Côn đi học (gian thứ nhất của Chánh quản Hộ thành).

Nghe nói, lúc mới vào học, Côn còn để chỏm, đội nón tre sơn, áo quần vải thô nhuộm nâu, đi guốc gỗ quai mây, mũi guốc cao cong lên. Mấy tuần sau, Côn cúp tóc ca-rê, mặc quần vải quyến trắng, áo vải dù đen, đội nón lá 16 vành như học trò Kinh. Cơ sở của trường dựa vào cái đình chợ Đông Ba cũ. Năm 1899 “chợ Đông Ba đem ra ngoài giại”, cái đình chợ cũ được sửa chữa lại làm thành bốn phòng học (7). Phòng nào cũng trang trí giống nhau. Bức tưòng trước mặt treo bảng đen, phía trên có dòng chữ “République Francaise”, “Liberté-Eïgalité-Fraternité” (8). Trong lớp có 35 người, Lê Thiện, Trần Kinh và Nguyễn Sinh Côn học trội nhất. Ngoài chương trình học ở trường chúng tôi còn đi học cours du soir (lớp chiều) với thầy Ưng Dự (9) hoặc tại hội Quảng Tri Huế. (Hình như lúc đi học cours du soir có cả trò Hổ - tức Nguyễn Sinh Khiêm, tôi nhớ không rõ lắm). Học trong lớp, nghe thầy giảng Pháp văn trò Côn hay ghi chú bằng chữ Hán. Lúc ấy Pháp văn là môn chính, chữ Hán cũng còn trọng, chữ Quốc ngữ còn rất thô sơ. Tôi nhớ có lần thầy giáo đọc một bài ám tả ngây ngô như thế này:

Xắn quần cho gọn

Bới tóc cho cao

Đá mẹ vợ xuống ao

Mới ra người rể thảo.

Côn học giỏi nhưng không học “gạo”. Học môn gì anh cũng hỏi cặn kẽ. Nếu thầy trả lời chưa thỏa mãn, anh hỏi cho đến lúc ngã ngũ mới thôi. Hán văn anh giỏi nhất lớp, môn Pháp văn không có anh học trò Nghệ nào bằng anh.”

Ông Thiện kể đến đó, tôi xin phép được hỏi chen vào:

- “Thưa cụ, cụ Phạm Gia Cận, người cùng quê với Bác Hồ, có kể với ông Tôn Quang Duyệt một mẩu chuyện rằng: “Lúc học trường Pháp-Việt Đông Ba, có lần, thầy giáo ra một bài version (dịch Pháp ra Việt) trong đó có những câu: “Oh chat, Oh chat! Vous voulez manger le rat, Montez sur la poutre” - Bác Hồ lúc ấy đã dịch ra văn vần Việt Nam rằng: “Con mèo, con mẽo, con meo! Muốn bắt con chuột thì leo lên xà!” Có đúng không? Và người thầy giáo ấy tên gì?”

Ông Thiện ngẫm nghĩ rồi đáp một cách thận trọng:

- “Hình như chuyện đó tôi cũng có nghe. Nhưng có lẽ ở các cours dưới. Trong cours Supérieur không có chuyện đó. Nếu có thì người thầy giáo ấy không ai khác hơn là thầy Hồ Đắc Quỳnh. - Anh cả của Hồ Đắc Bích, Hồ Đắc Định. Nếu có dịp về Huế anh hỏi anh Định thì chắc hơn.”

Tôi định hỏi thêm một vài câu nữa, nhưng tôi lại cố nén lòng mình lại để nghe ông Thiện kể chuyện tiếp:

- “Đến cuối năm 1907, nhà trường chọn mười người cho nộp đơn đi thi primaire (tiểu học). Kỳ thi Tiểu học cuối năm 1907, lấy đỗ 7 người. Đó là Lê Thiện, Nguyễn Đình Cảnh, Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Viết Nhuận, Nguyễn Xuân Yến, Phan Văn Quế, Trần Kinh. Đậu được primaire lúc ấy mừng lắm, mừng hơn cả những cậu Tú, cậu Cử sau này. Danh sách những người đổ đều được thông báo với Toà Khâm, những người xuất sắc đều không thoát được đôi mắt của Khâm sứ. Đậu xong chúng tôi vào lớp Nhất niên trường Quốc Học. Lúc ấy trường Quốc Học là hai dãy nhà tranh chạy song song với đường Jules Ferry (Lê Lợi ngày nay). Trường bị trận bão năm Thìn (1904) thổi tốc mái, mái tranh nhiều chỗ hư nát, trời mưa nước chảy ròng ròng, trời nắng mặt trời dọi vào đến mặt học sinh. Tuy nhiên được vào học trường Quốc Học lúc đó oai lắm. Nhiều người có tiền chạy chọt đủ chỗ vẫn không thể xin cho con vào học được. Học trò phần lớn là tôn ấm, con ông cháu cha ở Nam triều và Chính phủ Bảo hộ. Thứ dân phải rất xuất sắc mới lọt vào được. Học trò ỷ thế rất ngỗ nghịch, có cậu đã có vợ, đi học ở lại trường buổi trưa có lính gánh cơm đem đến ăn. Ở trường Đông Ba tôi đứng đầu lớp. Khi qua Quốc Học tôi phải nhường vị thứ ấy cho người khác. Anh Côn không còn gần gũi tôi như xưa. Anh hay đi chơi với những người giỏi Pháp văn, những người nói tiếng Pháp hay để anh nói cho đúng.”

Kể đến đó, ông Thiện nở một nụ cười và bảo tôi:

- “Anh nên tìm ông Lê Thanh Cảnh hỏi thêm. Lúc đó Cảnh rất lanh lợi, cái gì có liên quan đến đời tư bạn bè, ông ta đều nhớ cả”.

Tôi gật đầu vâng lời, ông Thiện kể tiếp:

- “Sức học của anh Côn ở Quốc Học xuất sắc hơn trước. Trí nhớ của anh phát triển một cách lạ thường. Thầy giáo mới viết lên bảng một bài Récitation (Học thuộc lòng), anh đọc một vài lần, thầy giáo lau sạch bài trên bảng anh có thể đọc lại được. Khi làm luận anh hay chêm những câu văn vần. Có một lần trả luận, thầy Queignec cầm bài của anh Côn giới thiệu với học sinh cả lớp rằng:

- “Côn a traité le sujet de rédaction en vers. C’est un élève intelligent et vraiement distingué” (10).

Lúc ấy ở Huế cũng như các tỉnh ở Trung bộ nổi lên phong trào diễn thuyết về dân quyền, hô hào duy tân, cắt tóc ngắn, mặc Âu phục, gọi nhau là “đồng bào”. Người đứng đầu phong trào là Phan Châu Trinh. Ở Huế có các ông Lê Đình Mộng, Trần Trinh Linh... nổi tiếng diễn thuyết táo bạo. Phong trào này hấp dẫn học sinh. Nhiều cậu ham đi nghe diễn thuyết bỏ cả việc học hành. Thực hiện lời hô hào cắt tóc ngắn tức là đoạn tuyệt với cái lạc hậu. Thanh niên học sinh Huế vừa đi phổ biến bài thơ “Húi hề, Húi hề!” vừa cầm kéo ra những chỗ đông người cắt tóc ngắn cho đồng bào. Anh Côn là một trong những người hăng hái nhất trong phong trào này. Cuối năm 1907, sau vụ vua Thành Thái bị cưỡng bức phải tốn vị (abdiquer), dân tình Huế rất giao động. Tiếp đó đầu năm 1908, tiếng đồn dân các hạt Quảng Nam Quảng Ngãi nổi dậy chống thuế tới tấp vang đến đất Thần kinh. Đang lúc tình hình căng thẳng này ông Hoàng Thông - thầy giáo dạy Hán văn tại trường Quốc Học, và một số người trong Hội buôn Đồng Vinh (tại Bao vinh) bị bắt. Rồi không rõ cha mẹ tôi nghe tin ở đâu dự đoán rằng một số học sinh Quốc Học có dính líu tới thầy Hoàng Thông rồi cũng sẽ bị bắt, ông bà cụ sợ tôi có liên can nên bắt tôi phải nghỉ học một thời gian. Tôi nghỉ học đưọc mấy ngày thì cuộc chống thuế ở Thừa Thiên Huế nổ ra. Lúc đầu sôi động ở nông thôn sau lan đến Huế. Trong thời gian đó, do tính hiếu kỳ tôi có trốn về làng Dã Lê Chánh rủ anh Nguyễn Viết Nhuận lên làng Công Lương xem dân chống thuế. Nhưng khi đến gần làng thấy lính tập và dân làng đánh nhau dữ quá, tôi lánh đi ngay. Sau này đi học lại, tôi không gặp anh Côn nữa. Không rõ vì sao (?). Mãi đến sau năm1920, như tôi đã thuật bữa trước, sau khi gặp ông Công sứ Quảng Nghĩa là Jean Dupuis, tôi có kể chuyện lại với anh hiệu trưởng Hoàng Tạo. Anh Tạo và tôi lại có dịp nói chuyện xưa. Anh cho tôi biết, trước ngày từ giả Huế, anh Côn có đến từ giả thầy Hoàng Thông đang bị giam trong lao Thừa Phủ. Lúc chia tay anh rất ngậm ngùi...”.


(1) Aurevoir: (tiếng Pháp) Tạm biệt.

(2) Je vous quitte (Tiếng Pháp): Tôi xa các bạn.

(3) Ông Cảnh đã trích hai câu đối này trong một bài thơ của cụ Giải Huân (Lê Văn Huân).

(4)Tức là lớp Cao đẳng (lớp nhất).

(5) Lớp Dự bị.

(6) Lớp Cao đẳng, lớp Nhất.

(7) ĐNNTC T.Thừa Thiên phủ (thượng) có chép: “Trường Pháp-Việt ở ngoài quách cửa Chính Đông. (Đông ba), nguyên trước là đình chợ Đông Gia (Ba) có một dãy 10 gian, chia làm 5 phòng, trong lấy một phòng hai gian làm chỗ cho giáo viên cư trú, còn bốn phòng tám gian chia làm bốn lớp học dạy học trò”.

(8) Tự do, Bình đẳng, Bác ái.

(9) Một trong những học sinh lớp Tôn ấm đổ Thành chung đầu tiên của trường Quốc Học Huế.

(10) Dịch: Trò Côn đã làm cái đề luận này bằng thơ, đây là một học sinh thông minh và xuất chúng.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123