Chương 7: Trở lại Kinh đô

Ông Phó bảng Sắc đưa các con vào Huế lần thứ hai vào năm 1905 hay 1906?

Ông Bảng vào Huế làm quan theo lệnh của Triều  đình hay vào Huế với mục đích khác? Nhiều tập thể và nhiều nhà nghiên cứu đã phát biểu, đã khẳng định (1). Song tài liệu gốc chưa có, phần lớn những tư liệu có liên quan đến vấn đề này đều qua hồi ức của những người đương thời và chưa được khảo chứng một cách khoa học bằng tài liệu gốc. Tôi xin trích dẫn một ít tài liệu tôi thu thập được ở Huế để góp phần vào kho tư liệu tham khảo chung.

Bổ sung năm 2001: Về thời điểm ông Phó bảng trở lại làm việc tại Huế lần thứ hai được ông Nguyễn Tất Đạt khai với mật thám Trung kỳ ngày 19.3.1920 như sau: “Nguyễn Tất Thành sinh năm 1891(sic). Năm lên 15 tuổi, nó dẫn cha chúng tôi đến Huế trong thời tôi làm việc ở Tòa Khâm sứ với tư cách thợ coi máy rập. Tôi nhận trách nhiệm nuôi nó cho tiếp tục học ở trường Pháp Việt. Năm 1908, đổ bằng tiểu học và được nhập học trường Quốc Học.(Tài liệu số 15, AOM, SPCE 364). Nếu ông Nguyễn Tất Đạt không có ý lừa mật thám Trung kỳ thì ta có thể tin ông Bảng trở lại  Huế vào năm 1905.

 

*

*     *

Bà Bùi Thị Nữ kể theo hồi ức:

- “Nói chuyện yêu nước với những người tin cẩn cụ Phan hay nhắc đến Nguyễn Ái Quốc với một sự trân trọng khác thường. Một hôm cụ tiếp khách trên đò có một người nói giọng Quảng (hình như là ông Trần Đình Nam?) hỏi cụ:

- “Nguyễn Ái Quốc có phải là người học trò có nhiều triển vọng của cụ không?”. Cụ Phan khoát tay: - “Hậy, hậy! Nguyễn Ái Quốc là người tài giỏi lắm, ông ta làm sao là học trò tôi được! Ông tiến bộ lắm, còn tôi thì đã lạc hậu, lỗi thời lắm rồi!” Người khách: - “Tôi muốn hỏi ngày xưa kia!” - “Ngày xưa cũng không” - Cụ Phan khẳng định - “Hồi trung tuần tháng 7 năm Ất tỵ (1905), tôi ở Nhật về định đem một số thanh niên sang Nhật học. Trong một chiếc thuyền trên sông Lam tôi gặp gỡ bí mật một số thanh niên. Tôi giới thiệu tài liệu và kể chuyện nước Nhật duy tân với các bạn trẻ. Họ thích lắm. Trong những người gặp mặt hôm đó có Nguyễn Ái Quốc. Nói chuyện xong, Nguyễn Ái Quốc hỏi tôi: - “Bẩm chú, nước Nhật họ học ai mà giỏi vậy?” Tình thiệt tôi (tức cụ Phan) trả lời: - “Họ học Tây phương!” Nguyễn Ái Quốc gật đầu thích thú. Khi tôi ngỏ ý muốn đem Nguyễn Ái Quốc đi Nhật thì anh từ chối với lý do là chưa có ý kiến của ông Bảng Sắc. Buộc lòng tôi phải đem Trần Hữu Công (tức Nguyễn Thức Tự) con trai của cụ Sơn - thầy học của tôi, ở Nghi Lộc đi. Sau này tôi nghe Nguyễn Ái Quốc qua Pháp tôi hiểu con đường của Nguyễn Ái Quốc ngay. “Cụ Phan uống một ngụm nước rồi nói thêm- “Người ấy trẻ tuổi nhưng sáng suốt hơn tôi nhiều... Tôi thì lão lai tài tận, lạc hậu lắm rồi đừng ai bằt chước tôi nữa!”

Thuật xong đoạn trên bà Nữ bảo tôi nên tìm sư bà Diệu Không hỏi thêm. Vì ngày xưa có lần bà đã được nghe Sư bà nói chuyện về ông Nguyễn Ái Quốc lúc còn nhỏ ở Huế.

*

*     *

Sư bà Diệu Không (nhủ danh Hồ Thị Hạnh) nguyên là vợ ông Cao Xuân Xang (cháu nội cụ Cao Xuân Dục). Sư bà tiếp tôi trong phòng khách của chùa Kiều Đàm (Huế).

... Sư bà Diệu Không kể:

- “Năm lên 10 tuổi tôi theo thầy tôi là cụ Hồ Đắc Trung vào ở trong bộ Học. Lúc ấy tôi mới học chữ Hán nên hễ thấy đâu có chữ Hán là để mắt vào đọc, đọc không hiểu thì hỏi. Bỗng tôi thấy trên tường vừa quét vôi trắng có chừa một khoảng tường cũ ám khói. Trong khoảng ấy có ghi một câu cách ngôn bằng chữ Hán nét chữ đã cũ nhưng rất đẹp. Tôi đọc lõm bõm được vài chữ và không hiểu hết ý nghĩa của nó tôi bèn hỏi thầy tôi. Và thầy tôi đáp; “Nghe nói trước đây gian phòng này dành cho ông Tư Sinh ở. Ông hay đặt cách ngôn và viết lên vách để dạy con. Ông viết nhiều lắm nhưng thợ bên bộ Công qua sửa nhà bôi hết. Còn câu ấy chữ đẹp và có ý nghĩa răn dạy con cái tốt thầy truyền cho thợ phải để lại.” - Bà kể tiếp - “Sau đó thầy tôi không làm ở bộ Học nữa tôi lớn lên và làm dâu cụ Cao Xuân Tiếu - bạn với thầy tôi, tôi lại đến ở trong bộ Học lần thứ hai. Nhớ chuyện cũ có lần tôi hỏi ông gia tôi: “Thầy có biết ông Tư Sinh đã từng ở trong bộ Học này không?” Ông gia tôi đáp: “Biết rõ. Ông Tư Sinh là người cùng quê Nghệ An với mình, năm Ất mùi (1895) ông có nhận học điền của họ Cao Xuân (Diễn Châu) để vào Kinh thi Hội, đi một lần với thầy (tức Cao Xuân Tiếu). Nhưng khoa đó ông không đậu. Cho mãi đến khoa Tân sửu (1901) ông mới đỗ Phó bảng. Sau này con ông là Nguyễn Sinh Côn học sinh trường Quốc Học cũng được họ Cao Xuân cấp học điền. Gia đình ông Phó bảng có nhiều ân nghĩa với gia đình mình. “Tôi (sư bà Diệu Không) có cái tính hay hỏi nên hôm đó tôi đã hỏi ông gia tôi: Ai là người Nghệ có chí học hành thì được họ Cao Xuân cấp học điền chứ có riêng chi cha con ông Tư Sinh mà cha nói nhiều ơn nghĩa?”. Ông gia tôi không muốn kể nhưng ông biết tính tôi cứ đeo hỏi nếu tôi chưa được trả lời đầy đủ. Để khỏi bị “quấy rầy” hơn nữa ông đã giải thích tiếp: “Năm ấy ông mình (cụ Cao Xuân Dục) đang chuẩn bị thành lập bộ Học cho Triều đình, thì một hôm ông Phó bảng từ Nghệ An vào thăm ông. Ông hỏi ông Phó bảng: “Chú Bảng vào Kinh làm chi?” Ông Phó bảng đáp: “Xin thú thật với cụ, từ ngày mẹ các cháu mất, tôi phải nuôi dạy các cháu một mình. Nuôi dạy và thương yêu các cháu cũng là một cách làm vừa lòng mẹ các cháu dưới suối vàng. Tôi không rõ các cháu nghe ai xúi giục, các cháu muốn học chữ Tây. Ngoài quê mình ngặt một điều không có ai dạy và cũng chẳng ai trọng nể việc học chữ Tây cho nên tôi phải vào Kinh.” Ông cười rồi vặn hỏi ông Bảng: “Thế chú có biết dưới mắt người Tây những người đỗ đại khoa như chú mà không làm quan thì làm chi chú biết không?” Ông Phó bảng ngẫm nghĩ mãi mà vẫn thấy khó trả lời. Ông mình mới nói tiếp: “Không làm quan thì làm giặc đó. Đời nào người Tây để cho chú yên để chú dạy con ở giữa chốn Kinh thành này”. Ông Bảng lo lắng: “Thế cụ bảo cháu phải làm gì?” Ông dạy: “Chú phải làm quan”. Ông Phó bảng phân trần: “Cái đời làm quan vào lòn ra cúi, cháu không muốn!”. Ông bảo: “Thế thì chú không ở đây được.” Ông Bảng van nài: “Thế thì cụ cho cháu một chức quan mà chẳng ai thèm làm để cháu được ở đây!” Thế là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy được bổ làm Tư vụ Học chánh (tùng bát phẩm 7-2) và được đến ở ngay trong nhà của bộ. Ông Bảng làm Tư vụ nhưng chẳng mấy khi ông chịu làm việc. Suốt ngày ông uống rượu, ngâm thơ và đặt cách ngôn viết lên vách dạy con cái thôi. Quan lại và nhân viên chung quanh ông rất khó chịu trước thái độ của ông. Sở dĩ không ai dám nói ra điều gì vì họ nể ông (tức Cao Xuân Dục). Về sau cụ Phan Châu Trinh đi hoạt động cách mạng bỏ trống chức Thừa biện ở bộ Lễ lâu ngày, ông Bảng bị chuyển sang điền khuyết. Từ đó ông được Triều đình cấp cho một gian nhà ở dãy trại đường Đông Ba”.

Ngày tôi được nghe sư bà Diệu Không kể lại những mẩu chuyện trên thì trước đó tôi đã tìm được gian nhà của gia đình ông Bảng ở tại dãy Trại đường Đông Ba. Tôi xin kể lại tường tận như sau:

Sau ngày đất nước thống nhất, một người bạn giáo viên nghe nhà văn Thanh Tịnh nói chuyện về Bác Hồ, đã kể lại với tôi: - “Ngày xưa cụ thân sinh Hồ Chủ tịch, nhà ở gần vùng chợ Xép, cụ Quản Nghiêm ở cạnh nhà thường chạy qua thăm...”.

Lúc ấy tôi đang mang trong lòng cái khát vọng muốn biết “Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế”, song chưa có gì cụ thể và cũng chưa nắm được một đầu mối nào để lần theo hỏi chuyện. Vì thế khi nghe anh giáo viên kể đến tên ông “Quản Nghiêm”, và vùng “chợ Xép” tôi đi tìm hiểu ngay. Thế nhưng đồng bào ở chợ Xép không còn ai nhớ ông Quản Nghiêm là ai cả. Tôi liền tìm đến nhà một ông quan võ, nay đã gần 90 tuổi, hỏi thăm. Ông này cho biết: “Ông Quản Nghiêm trước đây ở dãy Trại đường Đông Ba và làm việc tại Hộ Thành. Sau năm Duy Tân khởi nghĩa (1916), ông Quản dọn nhà vào ở đâu trong vùng hồ Tịnh Tâm.” Tôi lại mò mẫm theo lời chỉ dẫn rất mơ hồ của ông quan võ gần đất xa trời ấy. Năm lần bảy lược hỏi thăm, may thay một buổi sáng mùa xuân năm 1977, tôi gặp được bác Lê Viết Triết, đã trên 70 tuổi, con trai ông Quản Nghiêm, nhà ở số 34 đường Hộ Thành (Đường Đinh Tiên Hoàng ngày nay). Ông Triết đứng giữa sân một ngôi nhà gạch cũ kể: - “Hồi ấy tôi mới trên 10 tuổi đang đứng chơi ở chính cái sân đây thì bỗng nhiên có một người đàn bà quấn khăn vành, khuôn mặt khôi ngô, hỏi tôi với cái giọng Nghệ: - “Có phải nhà ông Quản đây không em?” - “Phải.” -Tôi (tức Lê Viết Triết) đáp rồi chạy vào nhà gọi thầy mẹ tôi ra. Mẹ tôi nhìn thấy bà khách liền mếu máo chạy đến ôm chầm lấy bà khách, hỏi: - “Nghe nói cô bị xử trảm rồi răng còn sống về được đây?” Bà khách đáp: - “Họ xử rồi nhưng họ chưa trảm nên tôi còn được về ghé thăm ông bà!” Trẻ con hay tò mò, tôi đón đường mẹ tôi hỏi: - “Cô mô rứa, mẹ?” Mẹ tôi nói nho nhỏ: - “Cô Thanh con cụ Phó bảng, ngày xưa nhà cô ở cạnh nhà mình ngoài dãy Trại đường Đông Ba. Lúc nhỏ cô hay lý sự nên bị cụ Bảng đánh cho luôn. Mỗi lần cô bị đánh thầy hay chạy qua can. Sau đó cô đi làm cách mạng bị tù. Chừ mãn hạn tù cô về ghé thăm thầy mẹ!”

Ông Triết biết nhiều chuyện rất thú vị có liên quan đến gia đình Bác ở Huế, nhưng tôi đang nóng ruột muốn biết” gian nhà nào Bác đã ở tại dãy Trại “nên tôi đã vô phép ngắt lời ông:

- “Bác còn nhớ nhà ông thân của Bác ở dãy Trại không?”

- “Còn nhớ chớ!” Ông Triết trả lời.

Tôi mừng quá, sẵn xe Honda tôi nổ máy chở bác Triết ra vùng chợ Xép đường Đông Ba ngay. Thế là, thưa độc giả thân mến, có lẽ tôi là người cầm bút đầu tiên ở Huế, đã hân hạnh được biết, dù chưa cụ thể, một trong những khu vực Bác Hồ đã sống qua trong thời gian Người ở Huế.

Nhà của ông Quản Nghiêm năm xưa là gian nhà đầu tiên dãy Trại bên tay phải (nếu đi từ trong ra cửa Đông Ba). Nhà ông Phó bảng ở bên cạnh tức là gian thứ hai của dãy Trại (gồm 12 gian). Nếu đúng như thế thì mái nhà lịch sử ấy nhằm vào số 47 đường Mai Thúc Loan hiện nay (1977).

Tìm được một di tích thiêng liêng như thế tôi rất mừng. Song tôi lại cho rằng mới nghe một người kể dù cho người ấy đáng tin cậy đến đâu, cũng chưa thể kết luận được. Niềm vui dần dần hạ xuống. Mỗi lần đi qua đường Đông Ba tôi lại suy nghĩ mông lung. Trước đó chừng mươi năm, tôi cùng anh chị em Thanh niên Huế công tác bên cạnh bộ đội Trung đoàn 6 (Phú Xuân), góp phần làm chủ thành phố Huế suốt 25 ngày đêm trong chiến dịch Huế Xuân Sáu tám (2.1968). Sau tết Mậu thân tôi đã được báo cáo những sự tích chiến đấu trên đường Mai Thúc Loan và cửa Đông Ba với ông Lê Tư Minh - Phó bí thư Khu ủy kiêm bí thư Thành ủy Huế. Vì thế, có một lần ông Lê Tư Minh ra báo cáo chiến sự Xuân Mậu thân với Trung ương trở vào, ông bảo tôi:

- “Bác theo dõi mặt trận Huế rất sát. Khi biết cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở cửa Đông Ba, Bác rất xúc động. Bác có nhắc lại ngày xưa gia đình Bác ở cửa Đông Ba.”

Nhớ mẩu chuyện cũ, tôi tìm gặp lại ông Lê Tư Minh (đang công tác ở Ban nông nghiệp Trung ương). Nghe ông Lê Tư Minh kể tôi có ghi lại một đoạn như sau:

- “Khi tôi báo cáo đến đoạn chiến trận diễn ra ác liệt tại đường Mai Thúc Loan và cửa Đông Ba, Bác đã đứng dậy, chân đi tất nhẹ nhàng trên sàn nhà gỗ. Người bước nhẹ nhàng chậm rãi (có lẽ lúc này Người đã yếu không được đi guốc hay đi dép như thường lệ). Bác khoát tay bảo tôi dừng lại một chút rồi Ngưòi hỏi: - “Đường Mai Thúc Loan trước kia là đường gì chú Tư?” Tôi kính cẩn trả lời: - “Dạ thưa Bác, đường Đông Ba, ạ!” Bác trầm ngâm một lúc rồi nói giọng lắng đọng: - “Ngày xưa, nhà ông cụ Bác ở đường Đông Ba. Từ ngoài đi vào Thành, nhà ở phía tay trái, căn thứ mười hay mười một gì đó, nay Bác không còn nhớ rõ!”.

Nghe Bác kể tôi rất xúc động - Lời ông Lê Tư Minh - Tôi có ý định nhờ anh em hoạt động trong thành xác minh để sau này tôn tạo làm khu di tích quý báu của Huế nhưng chưa có dịp.”

Nghe ông Lê Tư Minh nói đến đó tôi liền so sánh hai lời kể trên:

- Bác Triết chỉ gian thứ hai (dãy Trại 12 gian) - từ trong ra, bên phải;

- Ông Lê Tư Minh kể lại lời của Bác gian thứ mười hoặc mười một từ ngoài vào, ở  bên trái.

Như thế lời thuật lại của ông Lê Tư Minh gần khớp với sự chỉ dẫn của bác Triết. Nhưng tôi vẫn còn hồ nghi. Nhiều khi người ta thân nhau không phải chỉ ở cạnh nhà nhau. Gia đình của ông Quản Nghiêm có thể ở cách nhà của ông Phó bảng một vài gian, ông Quản cũng có thể qua chơi nhà ông Phó bảng được. Và chính Bác cũng không còn nhớ gia đình Bác đã ở gian thứ mười hay thứ mười một kia mà!

Tôi rất chú ý cái gian thứ mười một (ngoài vào) hay gian thứ hai (trong ra) nhưng tôi vẫn chưa yên tâm để công bố tài liệu trên. Một thời gian sau, khi nghiên cứu về những năm tháng Bác theo học tại trường Pháp Việt Đông Ba và trường Quốc Học Huế tôi may mắn gặp được một người bạn học của Bác thuở ấy (năm 1978 đã ngoài 90 tuổi ta) tôi mới có dịp trở lại ngôi nhà thiêng liêng này. Người bạn học buổi thiếu thời của Bác tên là cụ Lê Thiện nhà ở tại số 26/11D Nguyễn Bỉnh Khiêm Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo lời cụ Lê Thiện kể thì nhà cụ Thiện lúc ấy ở đường Tịnh Tâm mỗi lần đi học trường Pháp Việt ngoài cửa Đông Ba cụ hay ghé vào gian Trại thứ hai (bên trái) rủ Nguyễn Sinh Côn đi học.

Sau ngày gặp cụ Thiện trong tâm trí tôi không còn một nghi ngại nào nữa về căn nhà của gia đình Bác ở dãy Trại đường Đông Ba. Từ đó tôi mới bắt đầu tìm lai lịch, nội dung gian nhà cùng mối quan hệ của nó với thời thơ ấu của Bác.

Bổ sung năm 2001: Về sự việc cụ Phó bảng và gia đình ở tại dãy Trại đường Đông Ba đã được một mật văn của Mật thám Pháp ở Trung Kỳ đề ngày 8-3-1911 (Tài liệu số 2) xác nhận rằng: “Con trai ông ta (tức Nguyễn Tất Thành con trai của ông Nguyễn Sinh Sắc.NĐX), cách đây 2 năm (tức năm 1909) đã ở 1 căn hộ ở Đông Ba, đã đột ngột biến mất. Người ta tin là nó ở Nam Kỳ.” (AOM.SPCE.364).

 

*

*       *

Trước kia phía trong cửa Đông Ba có hai dãy Trại của đội Tuyển phong - một đơn vị vũ trang của Nam triều, có nhiệm vụ canh giữ cửa Đông Ba. Theo tài liệu cũ và các vị cao niên, năm Thất thủ Kinh đô (1885), quân Pháp từ Trấn bình Đài (Mang Cá) tấn công vào Thành Nội, đội Tuyển Phong đã chiến đấu chống quân Pháp rất anh dũng. Vì lý do đó, sau khi chiếm được Kinh thành, bọn giặc Pháp đã xóa phiên hiệu đội Tuyển phong (cũng như tất cả lực lượng vũ trang khác của Nam triều), doanh trại của họ giao cho các quan nhỏ làm việc trong Lục bộ ở. Những quan chức ở đây phần lớn quê ở Nghệ Tĩnh và Quảng Nam. Năm 1903, ông Đào Tấn thôi giữ chức Tổng đốc An Tịnh về Kinh sung chức thượng thư bộ Công. Thấy dãy Trại các quan ở hư nát, bệ rạt quá ông Đào Tấn cho ông Hường Hàng đấu giá sửa chữa lại (2).

Theo ông Ưng Tuệ (trên 90 tuổi) nhà ở đường Nhật Lệ cho biết: Cả dãy Trại 12 gian (bên đối diện cũng thế) dựng trên một cái nền gạch cao. Mỗi căn rộng năm mét, sâu 12 mét, cột kèo bằng gỗ lim thô tháp, chung quanh có tường gạch trát vôi, mái lợp ngói to bảng cục mịch khác với vẻ thanh lịch của các cung điện nhà vua. Mỗi gian có một lớp cửa bàng khoa. Phía sau dựng một dãy chái tranh làm nơi nấu nướng. Trong nhà - theo cụ Lê Thiện - đồ đạc đơn sơ gồm một chiếc chỏng tre và một bộ ngựa mấy tấm. Đó là nơi nằm viết lách, nơi tiếp bạn bè, nơi ăn uống và cũng là nơi nằm ngủ. Lúc đó chưa có nước máy, hằng ngày chị em cậu Côn phải đến cái giếng ở Ngã tư Âm hồn gánh nước. Việc vệ sinh vô cùng trở ngại. Ở dãy Trại ai muốn đi tiêu phải băng qua chợ Xép dùng cầu tiêu của tư nhân, mỗi bận đi phải trả vài xu (3).


(1) Hồ Chí Minh Toàn tập (T.I) tr.543 bảo cụ Sắc đem gia đình vào Huế 1904; Hoài Thanh Tuyển tập (t.2) lại nói 1905 (tr.404)

(2) Mạc Như Tòng, Những điều nghe biết về Đào Tấn, Trong kỷ yếu Đào Tấn, Nhà thơ Nhà Nghệ sĩ Tuồng xuất sắc, VHTT Nghĩa Bình, Qui Nhơn, 1978, tr.123.

(3) Nguyễn Đắc Xuân, Gian Nhà Bác Hồ ở dãy trại đường Đông Ba, Văn Hóa Nghệ Thuật, số 5/180, tr.31-32.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123