Chương 6: Những điều ghi nhớ ở quê hương

Ở làng Dã Lê Chánh (xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) có ông Đồ Sô chỉ đỗ Tú tài mà rất hay chữ. Mỗi lần nói chuyện chữ nghĩa ông hay kích bát cụ Thượng thơ Nguyễn Viết Song. Năm 1965 để phục vụ cho việc làm luận văn tốt nghiệp, tôi hay về gặp ông nhờ ông phiên âm cho những bản tuồng Hát bội. Nghe cụ kích bát cụ Song - ông Tiến sĩ đầu tiên của làng tôi, tôi khó hiểu nên phải hỏi:

- “Cụ Thượng ít chữ sao đỗ Tiến sĩ được ông?”

Cụ Đồ nói giọng khinh bạt:

- “Vì khoa Tân sửu (1901) quan trường thấy An Tịnh và Quảng Nam đỗ nhiều quá, Thừa Thiên không có ai đủ điểm nên họ chọn ông Song để khỏi bỉ mặt đất Kinh sư thôi. Nhiều vị Phó bảng nhưng giỏi hơn ông nhiều!”

Tôi thắc mắc:

- “Như ai ông?”

Ông đáp với giọng kính trọng:

- “Như ông Phan Châu Trinh ở Quảng Nam, ông Nguyễn Sinh Huy ở An Tịnh.”

Từ lúc nhỏ tôi đã từng nghe ông nội tôi nói ông Đồ Sô hay nói trạng nên tôi đã bị ảnh hưởng. Tôi hỏi vặn ông Đồ:

- “Ông nhỏ tuổi hơn cụ Thượng tại sao ông biết cặn kẻ vậy?”

Ông Đồ cười khà khà:

- “Thì ông Thượng Mại cậu ruột Ấm Mộng ở ngay sau lưng nhà cháu ấy làm Phó chủ khảo khoa Tân sửu (1901), có chuyện chi cụ không biết! Cháu hỏi cả làng Dã Lê ni có ai mà không biết chuyện nớ? ”

Về nhà tôi hỏi ba tôi về những điều ông Đồ Sô nói có đáng tin không (?), ba tôi có vẻ khó chịu:

- “Chuyện đó cũng có. Nhưng con người cụ Thượng không đến nỗi rứa mô. Chính cụ là người đứng ra bắc cầu Dã Lê cho dân đi, trổ hói Xuân Hòa lấy nước và phù sa cho đồng ruộng làng mình. Cụ cũng có đầu óc lắm. Cụ hay nói với ông mình, Cụ là bạn đồng khoa với cụ thân sinh ông Nguyễn Ái Quốc và cụ cũng muốn làm một cái gì cho dân cho nước nhưng Tây nó không cho!”

Những thông tin trên đã đến với tôi gần hai mươi năm trước. Tôi ít khi có dịp nhớ đến nó. Nhưng không ngờ trong những năm nghiên cứu về thời niên thiếu của Bác, những câu chuyện trên tự dưng sống dậy trong tôi. Tôi về làng gặp những người thân của ông Ấm Mộng nhờ họ hướng dẫn tôi tìm đến gia đình cụ Thượng Mại. Cụ thượng quê ở Kẻ Lừ (Niềm Phò, Quảng Điền), mất đã lâu, tôi đến gặp thầy Sản đình Nguyễn Hy Thích (1891-1978) con trai cụ, nhà ở trước cửa trường Pellerin (cũ) gần ga Huế. Thầy Sản Đình đã từng dạy tôi học Hán văn tại Đại học văn khoa Huế. Gặp lại học trò cũ thầy rất mừng. Lúc đó sức khoẻ thầy đã yếu nhưng thầy vẫn cố gắng đứng dậy đến cái tủ đứng lấy đưa cho tôi một cuốn sách (in ronéo) dày cộm mang tựa đề “Lô-Giang Tiểu Sử” của Tiểu cao Nguyễn Văn Mại (1). Đây là một cuốn Niên ký ghi lại cuộc đời của “cụ Thượng Mại”. Thầy Sản Đình hai tay run run lật từng trang sách, đến trang 103 thầy dừng lại đọc to cho tôi nghe. Một cơn ho chợt đến, thầy phải khom mình ho và đẩy cuốn sách về phía tôi ý bảo tôi tự đọc lấy. Tôi liếc mắt đọc nhanh:

Bốn Mươi Bốn Tuổi

(1901), Tân Sửu, Thành Thái 13

.. .Ngày tháng 3, phụng chuẩn sung Phó Chủ khảo thi Hội.- Kỳ đó ông Cao Xuân Dục (An Xuân Nam), Hiệp Biện Đại học sĩ, Phó Tổng tài Quốc sử quán, làm Chánh Chủ Khảo. Ông Nguyễn Quang, Tư nghiệp, làm Tri cống cử.

... Năm ấy vào Điện thí, bảng đậu như sau này:

Đệ tam-giáp đồng tiến sĩ xuất thân 9 người:

1 .

2. Ngô Đức Kế, làng Trảo Nha, Thạch Hà, Hà Tịnh;

3. Nguyễn Viết Song, Dã Lê, Hương Thủy, Thừa Thiên;

...

9 ...

Phó bảng 13 người:

1

 ...11. Nguyễn Sinh Huy, làng Kim Bồng, Nam Đàn, Nghệ An;(NĐX nhấn mạnh)

...13. Phan Châu Trinh, làng Tây Lộc, Hà Đông, Quảng Nam;

Ngày tháng 5 việc trường thi xong.”

Tôi đọc đoạn sách trên xong xếp sách lại đặt trên bàn. Thầy Sản Đình ngồi đối diện tôi, thầy vừa lau mấy giọt nước trà vấy trên bàn vừa nói với cái giọng xăng xẳng. Trông cử chỉ và nghe giọng nói của thầy tôi bỗng nhớ lại những ngày không thuộc bài bị thầy quở trách.

- “Năm Tân sửu (1901) tôi đã trên mười tuổi-Lời thầy Sản Đình-Tôi vừa bắt đầu học Tứ Thư. Đi làm Phó Chủ khảo thi Hội về, thầy tôi gọi các con lại ngồi quây quần nghe ông kể chuyện. Qua lời kể của thân sinh, tôi vẫn còn nhớ khoa thi ấy có nhiều chuyện vui vui. Ông Chánh Chủ khảo là người cùng quê với một người có tên là Nguyễn Sinh Huy, nổi tiếng hay chữ, nhưng mãi đến năm 40 tuổi với ba lần thi Hội vẫn không đủ điểm để vào Điện thí. Ông Chủ Khảo thất vọng bèn lấy quyền Chánh Chủ khảo lục quyển của Nguyễn Sinh Huy ra xem, lúc đó ông mới hay người cùng quê của ông đã có những lời lẽ phạm đến thời thế, vì vậy mà các quan chấm thi sợ phải đánh hỏng. Ông Chủ khảo cứu người không may bằng cách bảo các quan chấm thi: - “Bây giờ người ta nói vậy mình cũng cần nghe, tôi đề nghị đưa thí sinh này vào thi Đình. ” Ông Chủ khảo là người giỏi văn học, có uy tín với Triều Đình, nên các quan phải thực hiện lời đề nghị của Chánh Chủ Khảo. Song các quan vẫn chưa buông tha ông Huy, thi Đình xong họ chỉ cho ông Huy đổ Phó bảng. Trường hợp ông Phan Châu Trinh cũng vậy.” - Thầy Sản Đình lại lên cơn ho sặc sụa. Thầy ho xong nghỉ một lúc rồi mới nói tiếp- “Anh có biết không? Phó bảng là cái bằng dưới Tiến sĩ một chút. Những người đỗ Tiến sĩ yết tên trên bảng chánh, những người dưới điểm đỗ vào loại lấy rộng (đậu vớt) yết tên vào bảng phụ, nên có tên là Phó bảng. Phó bảng mới có từ Minh Mạng thứ 10 (1829). [Ông thân sinh tôi Phó bảng khoa Kỷ sửu (1889)]. Văn tài giữa Tiến sĩ và Phó bảng không khác mấy, nhưng quyền lợi thì hoàn toàn khác xa. Đỗ Tiến sĩ được vua ban yến, được phát áo mão ngựa trạm để vinh quy bái tổ. Phó bảng thì không được các đặc ân ấy. Ông Chánh Chủ Khảo có một mối cảm tình đặc biệt với ông Huy nên ông đã tâu với vua Thành Thái đại ý là: - “Tâu Hoàng thượng, Tiến sĩ và Phó bảng đức tài cũng suýt soát như nhau. Thế nhưng Tiến sĩ thì được quá nhiều ân vua, Phó bảng chẳng có gì. Xin Hoàng thượng xét lại để cho được lòng sĩ tử”. Vua Thành Thái đồng ý. Kể từ đó có tiền lệ Phó bảng cũng được ân vua giống như Tiến sĩ. Thân phụ tôi nói-Lời thầy Sản Đình-Chỉ có những bậc học vấn rộng, giàu văn tự như ông Cao Xuân Dục mới thấy được khí tiết của những người tài.”

*

*     *

Năm 1978, tôi (NĐX) có dịp gặp đồng chí Trần Minh Siêu - Cán bộ nghiên cứu khoa học của Viện bảo tàng Kim Liên, tôi kể và đọc tất cả những mẩu chuyện và tài liệu trên cho đồng chí Siêu nghe, đồng chí Siêu thích thú bảo tôi:

- “Tôi cũng nghe ông Võ Mai ở Diễn Châu kể lại tương tự như vậy. - Đỗ xong ông Huy về làng Hoàng Trù sống với gia đình. Ông định ở đây cuốc đất trồng khoai nuôi dạy con cái, chăm sóc nhạc mẫu. Ông không để ý đến việc ông là người đầu tiên của làng Sen đã đỗ đại khoa. Vì thế, ông đã rất bất ngờ khi có người làng Sen quê nội của ông sang bảo:

- “Thưa ông Phó bảng, lệ nước xưa nay đã định những người đỗ đại khoa thì không được ở rể. Làng Sen xin mời ông khăn gói trở về quê quán.”

Ông Phó bảng tìm lời thoái thác:

- “Tôi biết. Nhưng bên làng quê tôi không có miếng đất cắm dùi, thử hỏi gia đình tôi biết sống vào đâu? Ở đây, dù là dân ngụ cư, nhưng là nơi tôi đã lớn lên và trưởng thành. Bên này, ông nhạc tôi đã khuất núi, vợ tôi cũng mất, bà nhạc tôi hiện nay thiếu người chăm sóc đỡ đần. Xin bà con cho tôi được yên để tôi có dịp báo hiếu chớ?”

Người đại diện cho dân làng Sen lựa lời nói tiếp:

- “Dân làng ta cũng biết những khó khăn của ông. Ở làng Sen ông cũng có thể báo hiếu được. Còn việc đất vườn nhà cửa để cho gia đình nương tựa thì bà con bầy tui sẽ lo!”

Ông Phó bảng rất trọng đạo lý nên ông phải thực hiện lời yêu cầu của bà con quê nội.

Ngày ông trở lại, bà con làng Sen đã góp tiền mua một nhà gỗ năm gian dựng trên một mảnh vườn trống (tức là ngôi nhà được phục chế ở làng Sen ngày nay). Nghe nói, lúc ấy bà con còn mừng ông đỗ đại khoa hai trăm đồng, nhưng ông không chịu ăn tiêu hay sắm đồ dùng. Ông đem số tiền đó giúp cho những gia đình nghèo có người phải đi phu Trấn Ninh làm vốn dệt vải để sinh sống. Dân nghèo rất cảm kích trước cử chỉ hào hiệp của ông (2).  

Lúc ấy cậu bé Nguyễn Sinh Xin đã mất. Thời gian bắt đầu có những thay đổi trong gia đình ông Bảng. Những thay đổi đó đã ảnh hưởng đến bước phát triển tư tưởng của những người trong gia đình.

Tôi không có điều kiện đi sâu vào giai đoạn này cũng không có ý định sẽ đi sâu. Tôi chỉ xin đề cập đến những điều đáng ghi nhớ ở quê hương đã vang vọng vào đến Huế và sống mãi với thời gian.

Lúc làm rể ở Phù Lễ, ông cả Khiêm có kể với gia đình vợ ông rằng:

- “Cha tôi là một người Nho học, lúc sinh con, ông mong con cái lớn lên vẫn giữ được cái gia giáo của nhà Nho. Con gái phải thanh bạch trong trắng, con trai phải khiêm nhường, cung kính, vì vậy mà anh chị em bầy tui có cái tên Thanh, tên Khiêm, tên Cung. Nhưng không ngờ ngày nay vô Kinh mới hay cái tên của tôi phạm “húy”. Cái tên Khiêm trùng với cái tên Khiêm lăng (lăng vua Tự Đức). Đi học đi thi mà tôi chỉ cần viết một chữ Khiêm là phạm húy, phạm trường quy, sẽ bị đánh hỏng ngay. Vì thế sau ngày ông cụ tôi đỗ Phó bảng về làng ông đã xin đổi tên cho các con! Nhưng sẽ đổi tên gì? Ông bảo chúng tôi: Đời cha lận đận cực khổ, khó khăn biết bao nhưng có công mài sắt cũng có ngày thành kim. Cha mong các con sau này, làm việc gì khó khăn đến đâu cũng phải thành đạt. Người xưa có nói: Ở đời không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền. Tôi có cái tên Nguyễn Tất Đạt và em tôi - Nguyễn Ái Quốc có cái tên Nguyễn Tất Thành kể từ đó.” (3).

Từ ngày trở về nguyên quán với những cái tên mới Đạt, Thành hằng ngày hai anh em giúp chị và cha làm vườn, và công việc nội trợ. Sau đó hai cậu được ông Phó bảng cho tiếp tục học chữ Hán với một người bạn đồng khoa (1891) là ông Vương Thúc Quý. Thầy Quý là con ông Vương Thúc Mậu - người thủ lãnh Chung Nghĩa Binh đã hy sinh vì Tổ quốc, thầy cũng là bạn đồng chí của Phan Bội Châu. Thầy mở trường dạy học, ngoài mục đích dạy học còn chủ trương tập hợp “đồng chí” để làm việc lớn. Cách dạy của ông “không tầm chương trích cú” như các ông đương thời. Ông chỉ chọn những điều tích cực trong mớ sách cũ un đúc cho học trò một nhân sinh quan sống vì dân vì nước.

Qua những lời giảng hấp dẫn, sống động, ông ca ngợi các anh hùng nghĩa sĩ và lên án bọn buôn dân bán nước. Giảng chuyện xưa bên Tàu cụ liên hệ với thực tại nước ta. Học trò của cụ không những biết chữ mà còn biết làm người dân Việt yêu nước. Cậu Thành là học trò lớp nhỏ của thầy Vương song ai cũng nhận cậu là người thông minh, linh hoạt. Người ta kể mỗi lần bắt đầu buổi học thầy thắp ba nén hương tưởng niệm người cha đã hy sinh vì nước. Một hôm, thầy sơ ý làm đổ dầu ra đế đèn, thầy liền ra một vế đối để thử tài học sinh:

Thắp đèn lên dầu vương ra đế”.

Một cậu học trò sắp đi thi Hương, bám vào thực tế để đối lại:

Đốt nhang rồi gió quạt tàn bay”.

Ý nghĩa của vế thứ hai này bình thường quá, cậu Thành xin đọc một câu khác:

Cưỡi ngựa dong thẳng tấn lên đường”, “tấn lên đường” là tiến lên đường nhưng cũng còn có nghĩa là “Nhà Tấn lên nhà Đường” (4).

Trong những ngày ấy, cậu Thành thường được gặp những người yêu nước đến liên lạc với thầy Vương. Những lúc có khách “đồng chí” thầy hay sai cậu Thành đun nước pha trà tiếp khách hoặc sai Thành chuyển giao những thư từ liên lạc giữa những người yêu nước. Với một tâm hồn nhạy bén, đã mang sẵn những khắc khoải về cuộc đời, cậu Thành sớm hình thành trong lòng mình một tình yêu nước dạt dào. Hình ảnh thầy Vương lôn luôn gắn với những tình cảm yêu nước đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này (5).

Năm 1957, sau gần nửa thế kỷ đi tìm đường cứu nước, Bác về thăm quê và Người không quên hỏi:

- “Gia đình cụ cử Quý bây giờ ra sao? Cụ cử Quý là thầy dạy Bác hồi nhỏ đấy!” (6).

Tỉnh ủy Nghệ An lúc đó đã thưa với Bác:

- “Thầy Quý bây giờ còn người con trai là Vương Thúc Oánh!”

- “Để Bác đến thăm” - Bác bảo.

Ông Oánh kết duyên cùng bà Phan Thị Em (tức bà Cương) - con gái của cụ Phan Bội Châu.

Một người cháu - bà con cả bên nội lẫn bên ngoại của Bác - Ông Nguyễn Tài Tư (7) có kể rằng:

- “Lúc thiếu thời, Bác tôi thường được gần gũi cụ Phan Bội Châu và được Người rất thương mến. Ba tôi là ông Nguyễn Tài Triễn có kể với chúng tôi rằng: Nhà ông tôi (tức ông Bảng) cách nhà cụ Phan trên năm cây số. Tuy thế hai ông bạn đồng song và đồng học đó thường gặp nhau luôn, khi ở nhà ông, khi ở nhà cụ Phan, đàm luận văn chương thế sự. Mỗi lần nói đến họa diệt vong và nhục mất nước giọng cụ Phan sôi lên sùng sục. Bác Thành tôi đứng lắng tai nghe sửng sốt, nhiều lúc quên cả việc đun nước pha trà mời khách. Một hôm cụ Phan đến chơi vào lúc trăng vừa lên, gặp bác Thành ra chào, cụ Phan hỏi: - “Tất Thành hả? Nghe cháu hay chữ đối đáp hay lắm. Giờ chú ra câu đối - Cụ Phan vừa vỗ vỗ cái túi tiền lận bên hông vừa nói tiếp - cháu đáp được chú sẽ thưởng tiền ăn kẹo!”. Được cụ Phan lưu ý đến mình, bác tôi thích thú gật đầu: - “Dạ!” Cụ Phan nhìn mặt trăng đang lên hạ câu: - “Nguyệt thướng bạch”. Tiếp lời cụ Phan, bác tôi đọc ngay vế thứ hai: - “Nhật xuất hồng” (8). Cụ Phan khen Bác Thành giỏi và thưởng tiền đúng như lời hứa. Kể lại mẩu chuyện đối đáp này - Lời Nguyễn Tài Tư-ba tôi bình luận thêm: “Cụ Phan là người yêu nước nổi tiếng, nhưng yêu nước theo kiểu Quốc gia chung chung, cho đến lúc từ trần cụ cũng chỉ là một lãnh tụ “trắng thôi”. Còn Bác Thành một nhà ái quốc đã tìm đến được chủ nghĩa Cộng sản và đã trở thành một lãnh tụ “hồng”. Khẩu khí của hai người linh nghiệm thật” (9).

Sau ngày thống nhất ít lâu, nhân một hôm lên thăm ngôi nhà tranh của ông Phan Bội Châu ở đỉnh dốc Bến Ngự, tôi (NĐX) hân hạnh được gặp bà Phan Thị Em (tức bà Cương) con gái độc nhất của ông Phan. Nghe người xưa kể bất cứ chuyện gì đối với tôi cũng bổ ích cả, nhưng tôi cũng không thể giấu được mình là một người đang theo đuổi đề tài về Thời niên thiếu của Bác Hồ. Tôi tranh thủ hỏi bà những kỷ niệm của ông Phan còn giữ về Thời thơ ấu của Bác. Bà Em dù đã trên tám mươi tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn. Bà vui vẻ bảo tôi:

- “Điều đó cán bộ Lịch sử ở Nghệ Tĩnh đã hỏi nhiều lần và tôi đã kể đầy đủ. Nhân đây tôi chỉ nói với anh một vài chuyện thôi. Từ buổi thiếu thời thầy tôi đã sớm hiểu được đại nghĩa lớn lên không muốn làm người tầm thường nên ông thường tìm đọc những văn thơ cổ vũ con người có khí phách xả thân cho việc lớn. Ông đã chọn hai câu thơ của Tuỳ Viên để răn mình là:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

Lập thân tối hạ thị văn chương

[Tạm dịch: Mỗi bữa ăn phải nghĩ đến để lại cái gì  trong sử sách; Lối lập thân nhấp nhất là theo văn nghiệp (ý nói khoa cử)]. Hai câu thơ ấy không những đã hướng đạo cho cuộc đời của thầy tôi mà nó còn ảnh hưởng đến nhiều người chung quanh ông. Năm 1929, nghĩa là bốn năm sau ngày ông bị Pháp bắt về giam lỏng ở đây, theo lời yêu cầu của đồng bào, đồng chí đêm đêm chờ lúc mật thám Tây ngủ yên, ông ngồi dậy lộn từng trang giấy bổi phía trong ra ngoài viết hồi ký-Cuốn Tự Phán (tức Phan Bội Châu Niên Biểu). Đến lúc hừng đông tỏ rạng ông lộn những trang vừa viết xong vào trong rồi sắp lại như cuốn vở cũ của học trò, bọn mật thám Pháp có bất ngờ đến lục soát thì chúng cũng không hay biết gì. Trong cuốn hồi ký quan trọng này thầy tôi đã nhiều lần nhắc đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đặc biệt khi ông kể đến đoạn từ 21 đến 31, thời gian ông thường đọc lại hai câu thơ trên, ông đã ngừng viết ngồi trầm ngâm bên ngọn đèn khuya một lúc rồi chua thêm một chú thích nhỏ ở bìa trang giấy.

“Câu thơ này ở sách Tuỳ Viên, ông Nguyễn Ái Quốc hồi mới lên mười nghe tôi lúc rượu say ngâm câu thơ này đến bây giờ (tức khoảng năm 1929) ông vẫn còn thuật lại” Thầy tôi (bà Phan Thị Em) biết ông Nguyễn Ái Quốc có chí lớn từ khi Người còn để tóc trái đào. Vì thế, vào khoảng tháng 7 năm 1905, thầy tôi bí mật từ Nhật về với ý định đem Nguyễn Ái Quốc lúc ấy còn mang tên Nguyễn Tất Thành - Đông du. Nhưng sau cuộc gặp gỡ trong một chiếc thuyền trên sông Lam, Nguyễn Ái Quốc đã từ chối”. - Bà Em dừng lại một lát, nói  tiếp với giọng rất tỉnh táo - “May thay hồi đó Bác đã không đi theo thầy tôi.”

Câu chuyện của bà Em kể còn đọng lại trong sổ tay của tôi cho mãi đến mấy năm sau mới được giở xem lại. Và tôi cảm thấy hình như nó được kể tiếp khi tôi được gặp bà Bùi Thị Nữ.

Bà Nữ kể:

- “... Cụ Phan xem cô Thanh (chị của Bác) thân thích như con cháu trong nhà. Hai người tù bị giam lỏng này thỉnh thoảng trốn bọn mật thám đến thăm nhau. Những lúc ấy chú cháu thầm thì trao đổi với nhau tin tức Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài hoặc nhắc đến những kỷ niệm thời thơ ấu của Nguyễn Ái Quốc đã để lại trong tâm trí cụ Phan cũng như của cô Thanh. Tôi là người phục vụ được cụ Phan tin cẩn đồng thời tôi là người hàng xóm quen thân của cô Thanh ở đường Hộ Thành, vì vậy những lần cụ Phan nói chuyện với cô Thanh, tai tôi được nghe cả: Một hôm qua nhà cô Thanh mua một ít thuốc cao, nhân tiện tôi hỏi: - “Qua cách nói năng tôi biết cụ Phan có một cảm tình đặc biệt với Nguyễn Ái  Quốc, nhưng không rõ Nguyễn Ái Quốc đối với cụ Phan ra sao?”. Cô Thanh bảo: - “Cụ Phan văn chương rất xuất chúng, lòng yêu nước sôi sục không ai bằng, cụ là linh hồn của Cách mạng một thời, cụ lại quen thân với gia đình của thầy tôi do đó Nguyễn Ái Quốc rất kính phục cụ Phan.” Tôi - tức Bùi Thị Nữ - thắc mắc: - “Rứa tại sao Nguyễn Ái Quốc không Đông du với cụ Phan?” Cô Thanh đáp với giọng nghiêm trang và lắng đọng: - “Vì lúc trước cụ Phan không thỏa mãn được điều mà một cậu bé 15 tuổi đang hăm hở muốn biết.” - “Tôi - bà Nữ - rất kính trọng cụ Phan và rất khâm phục Nguyễn Ái Quốc, mong cô kể lại cho một vài câu về điều mà Nguyễn Ái  Quốc đã muốn biết!”. Cô Thanh nhìn  tôi như muốn đoán xem tôi yêu cầu điều đó để làm gì. Cô hứ một tiếng. Tôi biết tính cô rất nóng nên tôi phải dịu giọng tỏ bày với cô về sự thành khẩn của tôi. Cuối cùng cô bảo: - “Lúc cụ Phan đến nhà cụ Vương Thúc Quý - Thầy học cũ của Nguyễn Ái Quốc - hoặc đến nhà tôi ở làng Sen chơi, cụ Phan hay kể chuyện các anh hùng yêu nước Cần Vương-Văn Thân chống Tây. Cụ kể rất sôi nổi, những người yêu nước ai cũng tài giỏi, song cuối cùng đều thất bại. Một hôm cụ Phan kể xong, Nguyễn Ái Quốc (lúc ấy còn mang tên Nguyễn Tất Thành) hỏi: - “Thưa chú, giặc Tây từ một nơi xa xôi đến đây, quân ít, không có “thiên thời địa lợi nhân hòa” tại sao chúng thắng được dân ta quân đông, tướng tài?” Cụ Phan nhìn Nguyễn Ái Quốc gật đầu rồi lim dim ngẫm nghĩ chứ không trả lời”. Kể lại chuyện cũ bà Bùi Thị Nữ bình luận thêm: “Có lẽ lúc ấy cụ Phan cũng chưa tìm đưoc câu trả lời.

          Sau lần được nghe bà Bùi Thị Nữ kể lại chuyện cũ ấy tôi suy nghĩ mãi. Phải trải qua nhiều năm tháng nghiên cứu về Bác Hồ và suy nghĩ thêm nữa tôi mới hiểu vì sao cụ Phan “ngẫm nghĩ chứ không trả lời” câu hỏi của Nguyễn Tất Thành năm ấy.


(1) Nguyễn Văn Mại, Lô Giang Tiểu Sử, Nguyễn Hy Xước dịch, in ronéo, Huế, 1960, 280 trang.

(2) Theo lời Trần Minh Siêu, có tham khảo thêm bài của Tôn Quang Duyệt, báo Nhân Dân số ngày 19.6.1977. Về sự việc này Mật thám Pháp căn cứ vào khẩu cung của bà nguyễn Thị Thanh thực hiện năm 1920 cho biết: “Tháng 4 năm sau (tháng 5.1901) Nguyễn Sinh Huy đỗ Phó bảng và vào tháng 8 ông trở lại Kim Liên với 2 con trai, gặp con gái Nguyễn Thị Thanh đã rời làng Hoàng Trân (1 tháng sau cái chết của mẹ cô) đã trở về Kim Liên. Ở đó cô sống với 1 người giúp việc trong nhà của cha cô. Lúc ấy cô được 14 tuổi, Khiêm 11 tuổi và Côn 8 tuổi”. (AOM, SPCE 364)

(3) Viết theo lời kể ông Nguyễn Ngọc Bang-cháu bà Nguyễn Thị Giáng (vợ ông Cả Khiêm) ở làng Phù Lễ (Quảng Điền).

(4) Ban NCLSĐ Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, Sđd, tr.71

(5) Lời bà Phan Thị Em thuật, đúng với tác phẩm Tự Phê Phán của Phan Bội Châu được Phạm Trọng Điềm và Tôn Quang Phiệt dịch, Nxb Văn Sử Địa, HN 1957, tr.30.

(6) Trần Gia Linh, Làng Sen,VHNT số 46, 1975, tr.82.

(7) Nguyễn Tài Tư (tức Hồ Chí Trung) Báo Lao Động, 22.9.1971, Sài Gòn). Có biệt hiệu là Thiếu Lăng Quân, Hồ Chí Trung tác giả nhiều bài báo nói về thời niên thiếu của Bác (Báo Động, SG.1971).

(8) Mặt trăng lên trắng; Mặt trời mọc hồng.

(9) Nguyễn Tài Tư (tức Hồ Chí Trung) Báo Động, ngày, 22.9. 197, Sài Gòn.
 

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123