Chương 5: Tiếng khóc giữa Kinh thành

Những năm tháng Nguyễn Sinh Cung sống và học chữ Hán với ông thân sinh tại làng Dương Nỗ đã được Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Bình Trị Thiên (cũ) và Khoa sử trường Đại học Tổng Hợp Huế phối hợp nghiên cứu và trình bày trong một Hội thảo Khoa học tổ chức tại trụ sở xã Phú Dương ngày 16.5.1978. Ngành bảo tồn bảo tàng BTT dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy đã căn cứ trên kết quả của Hội nghị Khoa học nêu trên phục chế lại ngôi nhà tranh ba gian hai chái nơi ông Nguyễn Sinh Sắc cùng hai người con trai nương náu trong thời gian hai năm (1898-1900). Ngôi nhà này cùng với những nơi có liên quan đến cậu bé Cung được tổ chức thành Khu di tích Dương Nỗ và nhân dân đã được đến tham quan từ ngày 2.9.1978.

Hội thảo Khoa học về Dương Nỗ ngày 16.5.1978 đã xử dụng tái liệu của hai ông Hoài Thanh và Thanh Tịnh trước đây cho rằng (1): Năm 1900, triều đình Huế điều ông Nguyễn Sinh Sắc đi Thanh Hóa chấm thi Hương, ông Sắc và hai người con trai  phải rời làng Dương từ đó. Đi Thanh Hóa, ông đem theo người con trai lớn để giúp cụ dọc đường, còn người con thứ trở lại Thành Nội sống với mẹ cùng người em út mới sinh tên là Nguyễn Sinh Xin. Sự kiện này cũng được bác Tôn Quang Duyệt (2) và ông Chu Trọng Huyến khẳng định một lần nữa (3). Bởi vì thế: “Ông Sắc phải ở lại ngoài Thanh Hóa lâu vì công việc của kỳ thi cứ kéo dài” (4). Nên chi khi bà Loan mất ở nhà chỉ có một mình cậu Cung và người em nhỏ mới sinh. Bà con dân phố thương tình lo liệu mọi việc để chôn cất bà Loan.

Nhưng gần đây, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh cho biết ông Sắc và hai người con trai rời làng Dương Nỗ vì một lý do khác:

“Theo học với cha ở làng Dương Nỗ chưa đầy hai năm thì mẹ lâm bệnh, cậu Thành tức cậu Cung phải nghỉ học cùng cha trở về Huế chăm sóc mẹ” (5). “Đến khi bà Loan mất anh em cậu Thành (tức Cung) cùng cha và bà con dân phố đưa mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng” (6).

Hai sự kiện trên trái ngược nhau. Các tác giả (cá nhân và tập thể) không trưng dẫn xuất xứ tài liệu nên người đọc khó lòng kiểm chứng, sự tin cậy bị hạn chế rất nhiều. Ở đây tôi không có ý tranh luận việc năm 1900 ông Sắc có đi Thanh Hóa không (?) vì nếu có thì ông đi chấm thi hay làm việc gì khác trong kỳ thi ấy (7). Thi Hương thường được tổ chức vào mùa Xuân, trễ lắm là đầu thu (thu vi), tôi không rõ vì sao khoa thi Hương năm 1900 lại tổ chức vào cuối năm (cuối năm ở nước ta thường mưa lụt, lạnh lẽo sĩ tử khó đi lại) và lại “cứ kéo dài” vì lý do gì? Tôi cũng không rõ Ban Sử Đảng Nghệ Tĩnh đã căn cứ vào tài liệu nào mà khẳng định việc ông Sắc rời làng Dương vì lý do vợ ốm và lúc bà Loan lâm chung ông Sắc đã tiễn vợ đến nơi an nghỉ cuối cùng hay không (?).

Ngoài Ban Nghiên cứu Lịch Sử Đảng Nghệ Tĩnh, còn tất cả các tác giả (8) khác viết về thời gian bà Loan mất tại Huế đều vắng bóng ông Sắc. Ông Sắc đi Thanh Hóa hay đi đâu?

Tôi trở lại Thành Nội hỏi ông Lê Xuyến (cháu đích tôn của thượng thư bộ Lễ Lê Trinh).

- “... Có lần nào bác nghe người xưa kể lại tâm trạng của ông Sắc lúc bà Loan mất không?”

Ông Xuyến nhìn tôi ngờ vực như thử tôi đã hỏi nhầm:

- “Của ông Sắc hay của cậu bé Cung?”

- “Của ông Sắc!” - Tôi khẳng định.

- “Rứa thì không. Qua bao lần kể chuyện, ông nội tôi cũng như bà ngoại tôi không hề nhắc đến sự có mặt của ông Sắc trong đám tang bà Loan. Hình như lúc ấy ông đi vắng nên người ta mới cảm kích trước hoàn cảnh cậu bé Cung chưa đầy mười tuổi đầu mà phải đứng ra nhờ xóm giềng chôn cất mẹ!”

- “Thưa bác có sự kiện gì để có thể chứng minh được điều đó?”

- “Có chứ! Sau khi mẹ mất gia đình không còn ai, cậu Cung phải bồng em sang nhà Viên Diểu làm thợ thêu. Anh giở lại cái sơ đồ tôi vẽ trong sổ tay của anh, anh sẽ nhớ ra ngay. Nếu có ông thân sinh ở nhà thì anh em cậu Cung không phải đi ở nhờ như thế?”

Tôi giở sổ tay tìm xem lại cái sơ đồ ông Xuyến vẽ lần trước và đúng như lời ông nói. Căn phố cũ đã sửa chữa lại nhiều lần và trao tay qua ba bốn chủ. Vị trí nhà ông thợ thêu đáng nhớ ấy nằm vào vị trí nhà 104 Mai Thúc Loan ngày nay. Ông Viên Diểu còn để lại một người con gái, tuổi ngoài tám mươi. Bà con gái ông Viên Diểu không biết chuyện ngày xưa Bác Hồ đã từng ở đậu trong nhà cha mẹ bà.

Sau khi gặp ông Xuyến tôi tìm gặp bà con gái của cụ Viên Diểu đang bán giải khát trong cái quán dựng tạm trước trường cấp 3 Nguyễn Huệ (vị trí đồn Hộ Thành cũ) và tôi được nghe bà kể:

- “Mấy lúc bác Cả ở Phù Lễ lên Huế chơi, khi mô đi ngang qua nhà mẹ tôi bác cũng ghé vào uống vài cốc rượu rồi hỏi: “Rứa chớ người con gái đẻ một lần với em tôi bây giờ lớn chừng mô rồi?” - Mẹ tôi chỉ tôi và nói: “Hắn đó. Có chồng có con rồi đó?” Lúc bác Cả đi rồi tôi hỏi mẹ tôi: “Ông Cả quen với nhà mình khi mô, mẹ?”. Mẹ tôi nói khẽ: “Lúc mẹ mới sinh con, bà Cử mẹ ông Cả sinh thêm một ngưòi con trai rất xinh. Chẳng may sau đó bà mất, cậu bé cứ sang nhà mình bú nhờ. Chỉ có rứa thôi mà ông Cả cứ nhớ mãi.”

(Theo dõi đến đây, có lẽ có bạn đọc trách thầm tôi đang nói chuyện người nọ lại xọ qua hỏi chuyện người kia. Đó là cái bịnh tản mạn của tôi. Tôi xin trở lại buổi hầu chuyện với ông Xuyến vừa bị bỏ dở).

Tôi hỏi:

- “Xin bác kể lại cho lớp hậu sinh chúng tôi về lời người xưa đã kể về tâm trạng của cậu bé Cung lúc mẹ mất như thế nào?”

Ông Xuyến gật đầu, uống một ngụm nước trà đậm cho thấm giọng rồi nói:

- “Lúc cô Thanh bị Chánh mật thám Sogny đưa về giam lỏng tại số nhà 16B đường Hộ Thành (bây giờ là số 37 Đinh Tiên Hoàng) ở ngay phía sau nhà tôi, cô hay vào đây chơi nói chuyện với bà ngoại tôi. Bà ngoại tôi không những có họ hàng với bà Ba (người đã cho ông Sắc thuê nhà) mà bà còn là chị em chú bác với ông Hồ Đắc Quỳnh - người đã dạy cho Nguyễn Ái Quốc hồi niên thiếu tại trường Pháp Việt Đông Ba, vì thế mà bà ngoại tôi biết nhiều chuyện có liên quan đến gia đình ông Sắc ở Huế. Tôi là cháu đích tôn, ba tôi là ông cử Cảnh mất sớm nên khi nào người lớn tiếp khách tôi cũng được ở bên cạnh. Lúc mẹ mất cô Thanh ở ngoài quê, nên chi sau đó cô hay măn mo hỏi chuyện ấy. Bà ngoại tôi kể rằng: “Ông Sắc không mấy khi ở nhà. Bà Loan một mình tảo tần nuôi con dại. Người ta kể bà mất vì đau mấy cái nhọt ở cổ. Người khác lại bảo bà sinh trong lúc khó khăn nên bị sản hậu, cũng có người cho rằng bà Loan mất vì thiếu thốn quá. Theo bà ngoại tôi kể thì bà Loan mất vì cả ba nguyên nhân ấy. Bà Loan từ trần không để lại cho con một bát gạo, một đồng tiền nào! Xóm giềng đang chuẩn bị cúng đưa ông Táo (9), gặp vận bỉ của gia đình cậu Cung, họ cúng ít lại, để dành một phần quà bánh, thức ăn chuyển qua giúp cậu Cung cúng lễ mẹ. Lúc ấy luật lệ của triều đình còn nghiêm lắm. Đất trong Thành cấm người Minh Hương ở, cấm làm nhà có lầu gác cao hơn các cung điện lầu các của vua, cấm khóc than khi gặp chuyện buồn, cấm đưa người chết ra các cửa thành (mà phải đưa thi hài người chết xuống thuyền chuyển ra ngoài bằng cống Thanh Long). Những ai làm sai sẽ bị tội đồ (tù), nếu cố tình làm sai sẽ bị tội trảm (tử hình). Cậu bé Cung dù chưa đến tuổi lên mười - cái tuổi ăn chơi và học hành, cậu chưa thể hiểu được các luật lệ khắc khe đó, nhưng cậu cũng phải ráng hiểu và chấp hành cho đúng. Bị bó chặt trong một sự đau đớn như thế, tâm trạng ai không thống thiết.”

Tôi (NĐX) sực nhớ trong cặp da có cuốn Nhớ Nguồn của Sơn Tùng, tôi giở sách đọc truyện ký Dưới Bóng Hoa Bằng Lăng (10) đoạn nói về tình cảm của cậu bé Cung khi mẹ chết cho ông Xuyến nghe. Nghe xong, ông nói:

- “Ông Sơn Tùng là một nhà văn của Cách mạng tôi không dám có ý kiến. Vì anh yêu cầu nên tôi xin nói một ý riêng: Nghe đoạn văn này tôi rất cảm động, nhưng cảm động vì câu chuyện chứ không thể tin là hoàn cảnh thật của Bác Hồ thời niên thiếu. Anh là người Huế, nếu đã có tấm lòng với cụ Hồ thì anh không nên thêm thắt làm gì, không nên viết cái gì mà thiếu căn cứ. Làm như thế sẽ phụ lòng tin của người đọc”.

- “Tôi xin cám ơn bác!”

*

*     *

Sự kiện bà Loan mất ở Huế là một biến cố lớn đã diễn ra trong đời Bác. Vì sự nghiệp Cách mạng, chắc Bác đã cố giấu tận dưới đáy trái tim, Bác ít khi kể lại chuyện đó với ai. Song vì nó lớn quá, nó đã để lại trong lòng Bác một ấn tượng sâu quá nên dù Người có cố tình giấu kín đến như thế nào rồi có lúc chúng ta cũng thoáng nghe được.

Trong những năm nghiên cứu và viết về Thời niên thiếu của Bác Hồ, tôi đã tìm đọc nhiều tác phẩm viết về Thời thơ ấu của các danh nhân thế giới. Có lẽ nhiều bạn đọc đã biết, lúc nhỏ Victor Hugo sống với mẹ, bà mẹ đã ảnh hưởng rất lớn trong việc Hugo chọn con đường văn học. Trong tác phẩm của nhà văn vĩ đại này luôn luôn nhắc đến tấm lòng yêu thương và biết ơn vô hạn đối với mẹ. Lúc Hugo đã bốn mươi mốt tuổi (1843), con gái đầu lòng 18 tuổi của ông là Léopoldin chết đuối, ông đau đớn vô cùng. Sự kiện đó ảnh hưởng rất lớn trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Bác Hồ cũng mang trong lòng một nỗi đau mất mẹ vô bờ, một nỗi ngậm ngùi thương em không tả xiết. Điều đó cũng đã ảnh hưởng rất lớn đối với văn thơ của Bác.

Bạn đọc nhất là các thầy giáo dạy văn học đã nhiều lần đọc bài thơ Tân Dương ngục trung hài trong tập Nhật ký Trong Tù của Bác song ít bạn chú ý câu đầu của bài thơ chữ Hán này nguyên văn viết bằng chữ quốc ngữ:

“Oa..! Oa.! Ooa..!” (11) 

Nội dung bài thơ kể chuyện một cháu bé người Trung Quốc, vì cha chạy trốn không đi lính cho Quốc Dân Đảng nên mẹ phải mang đứa bé hơn nửa tuổi vào tù. Chữ Hán có thừa từ để Bác ghi lại tiếng khóc của em bé Trung quốc trong tù, nhưng tại sao tác giả lại ghi bằng tiếng Việt? Theo tôi tiếng khóc của người em trai mất mẹ của Bác khóc lúc Người còn ở Huế qua bao tháng năm nó vẫn còn tươi sống trong nỗi nhớ thương của Người! Khi Người muốn ghi lại tiếng khóc của em bé Trung Quốc thì tiếng khóc của người em trong Bác tuôn trào ra trang giấy. Chỉ có tiếng mẹ đẻ mới ghi được cái âm điệu da diết của tiếng khóc này. Tiếng khóc trong hoàn cảnh ấy của em bé Trung quốc hay chính là tiếng khóc của người em mất mẹ, khát sữa của chính Bác năm xưa ở Huế? Cụ thân sinh của Bác phải xa nhà vì cuộc sống, em Bác không ở trong ngục với mẹ nhưng lại ở trong cái nhà tù  nghèo đói với anh!

*

*     *

Đọc tiểu sử của Bác chúng ta biết, mùa Thu năm 1928, từ châu Âu Bác về Thái Lan với cái tên mới là Thầu Chín ra báo Thân  Ái để tuyên truyền và tổ chức Việt kiều ở Thái Lan. Một buổi chiều đi công tác về lỡ đường, Bác và đồng chí Trần Lam ghé vào nhà một Việt kiều làm thợ mộc xin ngủ qua đêm. Anh chị thợ mộc rất vui vẻ được đón khách đồng hương. Tối hôm đó, ăn cơm xong, sau câu chuyện thăm hỏi, Bác và đồng chí Trần Lam xin đi ngủ để mai có sức lên đường sớm. Hai Bác cháu đặt lưng xuống giường được một lúc thì căn nhà gỗ kẻo kẹt vang lên tiếng chị thợ mộc đưa nôi hát ru con. Giọng chị ngâm Kiều rất hay. Hai Bác cháu lắng nghe mê mải, rồi trằn trọc suốt đêm không tài nào chớp mắt được. Sáng hôm sau, Bác cháu cám ơn anh chị thợ mộc rồi tiếp tục cuộc hành trình. Thấy Bác có vẻ mệt nhọc, đồng chí Trần Lam hỏi:

- “Đêm qua Bác không ngủ, sáng nay đi đường hình như Bác không được khoẻ?”

Giọng âu yếm, Bác nói:

- “Không sao. Mình làm cách mạng say sưa nên quên hết chuyện nhà. Đêm qua nghe chị thợ mộc ngâm Kiều ru con làm cho mình nhớ quá. Ngày xưa ở Huế mẹ mình cũng hay ngâm Kiều ru con như chị thợ mộc thế!”-Nói đến đó Bác đổi giọng đọc hai câu thơ vừa xuất hiện trong tâm trí Bác:

“Xa nhà trót mấy mươi niên

Đêm qua (mới) nghe tiếng mẹ hiền ru con!”

Nói đến đó giọng Bác trầm xuống. Bác không muốn đồng chí Trần Lam đọc được nỗi nhớ thương ngậm ngùi trong lòng Bác. Bác đổi giọng nói băng qua chuyện công tác (12).

*

*     *

Khoảng tháng 6 năm 1948, một đêm nọ ở Việt Bắc, Bác ngồi đánh máy Lời kêu gọi thi đua yêu nước, bổng nhiên dưới xóm người dân tộc vẳng lên một tiếng khóc trẻ con “oa! oa!”, tiếng đánh máy chữ lóc cóc dòn dã quen thuộc trong phòng làm việc của Bác tự nhiên trở nên rời rạc rồi im bặt. Bác gọi đồng chí bảo vệ đến nhà và nhờ:

- “Cháu đi tìm dỗ cho con nhà ai đó nín đi. Ngày xưa ở Huế, mẹ chết, em Bác đau, khát sữa cũng khóc như thế đó!”

Đồng chí bảo vệ cảm động quá đốt đuốc đi xuống xóm dân thực hiện lời yêu cầu của Bác ngay. Nhưng đến lúc đứa bé nín hẵn, Bác vẫn ngồi trầm ngâm hút thuốc một lúc rồi Bác mới làm việc lại được.

Sau này có lần Bác nói: “Miền Nam trong trái tim tôi”-phải chăng lúc ấy mảnh đất Huế có con đường Đông Ba, khu chợ Xép đã hiện ra trong tâm trí Bác rõ nhất?

(Viết thêm vào tháng 8.2001): Về người em trai của Bác, nhiều nhà nghiên cứu cho biết cậu bé ấy tên Nguyễn Sinh Xin. Sau khi bà Loan mất, ông Nguyễn Sinh Sắc đã đưa cậu bé Xin về quê. Nhưng các nhà nghiên cứu không trưng dẫn được nguồn tin nào đáng tin cậy cả. May sao, trong chuyến đi Pháp hồi cuối năm 1996, tôi đã sao chép được bộ hồ sơ gồm 21 tài liệu của Mật thám Pháp thực hiện trong những năm đầu thập kỷ hai mươi liên quan đến gia đình và thời niên thiếu của bác Hồ ở Huế. Theo tài liệu số 18, Mật thám Pháp ghi theo khẩu cung của bà Nguyễn Thị Thanh, chị của Nguyễn Tất Thành” khai với Mật thám Pháp vào tháng 5.1920, (AOM, SPCE 364) thì cậu em út của bà sinh khoảng “năm 1900, chỉ sống có một tháng rưỡi thôi. Điều đó chứng tỏ cậu bé Xin đã mất tại Huế sau ngày mẹ mất không lâu. Trong một thời gian ngắn đầu năm 1901, trong lúc cha đi vắng, cậu bé Nguyễn Sinh Cung chịu hai cái tang (mất mẹ và mất em) gần nhau. Trong một đời người, có hoàn cảnh nào bi đát hơn thế nữa đâu?  

Về sự việc khi bà Hoàng Thị Loan mất ông Cử Nguyễn Sinh Sắc không có mặt ở Huế cũng được bà Nguyễn Thị Thanh cho Mật thám Pháp biết và chúng đã ghi lại cụ thể như sau: “Vào năm 1894 cô ta mới 8 tuổi, cha cô đổ Cử  nhơn và chuyển vào Huế với mẹ cô và 2 người em trai, để cô ở lại một mình với bà ngoại ở làng Hoàng Trân (sic) (13). Ở Huế ông xin được 1 việc làm nho nhỏ với đồng lương ở Sở Nông nghiệp và đã 2 lần được đề cử làm giám khảo các kỳ thi Hương ở Bình Định và Thanh Hóa, vào khoảng năm 1897 và 1900. Sau kỳ chấm thi cuối cùng này, ông lợi dụng chuyển ngang qua Vinh về làng quê ở Kim Liên để lo xây mộ cho song thân của ông. Trong khi ông ở đó 3 tháng thì được tin vợ của ông đã từ trần ở Huế ngày 19 tháng Chạp năm Thành Thái thứ 12 (7 tháng 2 năm 1901) ông trở về Huế tức thì và gặp lại 2 con trai ở với mẹ chúng.”

Sau mấy chục năm tìm tòi nghiên cứu, căn cứ trên các hồi ức và tài liệu thành văn cùng thời, đến giờ này tôi đã có thể khẳng định rằng bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mất ở Huế vào ngày 7.2.1901 trong lúc chồng bà là cụ Cử nhân Nguyễn Sinh Sắc đang bận việc xây mộ cho song thân ông ở quê nhà Nghệ An.

Và, theo lời khai của Bùi Quang Chiêu với  Sở Mật Thám Sài Gòn (Mật văn số U.S.1, tài liệu số 19, ngày 21 tháng 9.1922) thì vào năm 1901 hay 1902 gì đó ông Nguyễn Sinh Sắc có học về Canh nông với kỷ sư Bùi Quang Chiêu (14) ở trường Canh nông Huế. Chính vì thế mà Bác đã tìm gặp Bùi Quang Chiêu trên chuyến tàu hai ngưởi cùng sang Pháp năm 1911. Bùi Quang Chiêu khai:

“...  Nguyễn Ái Quốc… vào cuối năm 1911, tôi đã đi với anh ta trên chuyến tàu thủy mà tôi đã quên tên. Anh ấy làm ở trên tàu. Anh ấy tìm tôi vì tôi là thầy dạy học của thân phụ anh ta ở trường nông nghiệp Huế năm 1901 hay 1902… (AOM, SPCE, 364). Tôi rất quan tâm thông tin này nhưng chưa thể xác định được thời điểm cụ học nông nghiệp với Bùi Quang Chiêu trước hay sau thời điểm cụ “vinh qui bái tổ” vào tháng 8.1901.


(1) Tuyển tập Hoài Thanh, VH, HN, 1982, q.II, tr. 403.

(2) Tuổi Thơ của Bác Hồ ở Huế, Báo Văn Nghệ, Hà Nội 1978 (số 21).

(3) Kể chuyện từ làng Sen, Kim Đồng, Hà Nội,1980, tr.28.

(4) Sđd. tr.28.

(5) Những mẫu chuyện về Thời Niên thiếu của Bác Hồ, Nxb Sự Thật, HN, 1980, tr.20 & 21.

(6) Những mẫu chuyện về Thới Niên thiếu của Bác Hồ, Nxb Sự Thật, HN, 1980.

(7) Xem Văn hóa Bình Trị Thiên, số 9.1979, tr.90.

(8) Hoài Thanh-Thanh Tịnh, Tôn Quang Duyệt, Sơn Tùng, v.v…

(9) Theo khẩu cung của bà Nguyễn Thị Bạch Liên (Nguyễn Thị Thanh) khai với Mật thám Pháp vào tháng 5.1920, (AOM, SPCE 364) thì bà Hoàng Thị Loan mất vào ngày 19 tháng Chạp năm Thành Thái thứ 12 ( tức 7 tháng 2 năm 1901). Chú thích năm 2003.

(10) Sơn Tùng, Nhớ Nguồn, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 1975, tr.163, 264.

(11) Viết theo lời kể của nhà Ngữ học Nguyễn Nguyên Trứ (Đại học Sư Phạm Vinh), trình bày tại cơ quan Thành ủy Huế ngày 11.5.1977.

(12) Như chú thích (11).

(13) Người Pháp nghe không rõ tiếng Việt nên đã nhầm Hoàng Trù ra Hoàng Trân.

(14) Bùi Quang Chiêu (1873-1945), quê ở làng Đa Phước Hội, huyện Mõ Cày, tỉnh Bến Tre. Đỗ kỷ sư canh nông tại Pháp, về nước làm việc ở sở Canh nông và tằm tơ Châu Đốc, sau đó ra Huế dạy ở trường Canh Nông.

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123