Chương 4: Bên dòng Phổ Lợi trong xanh

Thời niên thiếu tôi sống ở Đà Lạt. Vì hoàn cảnh gia đình, mãi đến năm 15 tuổi tôi mới cắp sách đi học. Vì thế tôi chỉ được học tư  trong các lớp hè. Một trong những vị thục sư tôi nhớ nhất là ông Nguyễn Sĩ Duyến. Lúc ấy cha mẹ tôi không hy vọng gì ở tương lai học vấn của tôi. Ông Duyến bảo:

- “Chưa được học nên nó dốt. Chớ thằng này là dân Huế hiếu học, cho nó đi học nó sẽ nên người cho mà xem!”.

Bây giờ mỗi lần nhắc đến ông Duyến mẹ tôi cứ nói ông ấy nói tướng số giỏi.

Phần tôi, tôi không nhớ chuyện ấy. Nhờ mấy lần học hè với ông mà tôi quen thân với hai người con ông: cô Nhàn và cậu Phồn. Một người lao động thất học mà được quen thân với con cái một ông giáo không phải là một chuyện thường. Cô Nhàn và cậu Phồn chơi với tôi vì thấy ông Duyến thương tôi và vì tôi là người đồng hương Huế.

Năm 1956,  tôi về Huế xin vào học trường Quốc Học. Không hiểu sao, hai bạn tôi cũng về quê hương. Nhàn và Phồn sống với ông nội là một cụ Nghè Khuyến ở làng Dương Nỗ. Chúng tôi tìm gặp nhau ở quê hương càng quý nhau hơn.

Muốn về nhà bạn, tôi đi xe chợ Nọ. Xe về đậu trước một ngôi đình có những chiếc cột to. Thảo nào mà người ta nói: “Thình thình như cột đình Dương Nỗ”! Con đường đất đỏ trước mặt đình chạy xuôi chiều với dòng Phổ Lợi trong xanh, đưa tôi về nhà bạn. Theo lời bạn dặn: đến một cái ngỏ xóm yên ả tôi hỏi các em đang đánh bi phía trên cái bến nước gập ghềnh kê bằng mấy hòn đá màu đồng đen:

- “Nhà ông Nghè đâu, các em? ”

- “Eng vô ngỏ mươi bước, nhà ôông Nghè bên phải!” - Miệng bảo tôi, nhưng đôi mắt em thì không rời con đường hòn bi lăn.

Qua giọng nói của em bé tôi đoán chừng em bé rất quen thân với nhà ông Nghè.

Tôi đi vào ngõ một đoạn, nhìn theo hướng các em chỉ, bên trong cái hàng rào hóp mọc lẫn với chè Tàu hiện ra một ngôi nhà tranh một gian hai chái, tường phên tre trát đất. Ngay ở phía cửa hông kê một chiếc phản gỗ với nhiều lỗ hổng xơ xác vì mối ăn. Một ông già tóc bối trắng như miếng tàu, lưng còng ngồi trên phản tước lá thuốc xanh. Khuôn mặt ông nghiêm nghị sống mũi cao giống như ông Duyến, tôi đoán nhà bạn đây rồi!

Vừa lúc ấy hai bạn Nhàn và Phồn vội vã chạy ra đón tôi rồi cầm tay tôi dắt vào đứng trước mặt ông già:

- “Đây là anh Xuân học trò của ba và cũng là bạn của các cháu ở Đà Lạt đó ông!”

Ông Nghè ngước mắt nhìn tôi:

- “Ờ, cháu về thăm chơi đó hả? Nhà ông nghèo, cháu ngồi tạm đây!” - Ông Nghè vừa nói vừa giơ tay phủi bụi sàng sạt trên tấm phản gỗ.

Đó là lần đầu tiên tôi về Dương Nỗ. Sau đó cứ vài tuần tôi lại về thăm bạn một lần. Nhiều hôm ở lại, buổi tối cùng bạn ra ngồi chơi trên bến nước trước sân đình. Nhìn trăng nhả những ánh tơ vàng xuống mặt nước xanh trong, tôi đã ước mơ. “Nếu trời cho tôi biết viết văn, tôi sẽ viết một cuốn truyện nói lên nét đẹp của ngôi làng thân thương này”.

Một hôm tôi lại về vào buổi xế trưa, đúng vào ngày làng tế. Đi qua đình, mùi nếp thơm và mùi thịt heo béo sực nức xông vào mũi tôi. Làng vừa tế và ăn uống xong, trong đình còn xủng xoảng tiếng chén dĩa chạm nhau.

Tôi vào nhà thấy ông Nghè đang còn mặc áo dài đen ngồi trên bộ phản mối ăn, nét mặt buồn dười dượi. Nhàn và Phồn ngồi hai bên ông như đang an ủi ông một điều gì. Thấy tôi về chơi, hai bạn ngoái lại chào rồi lại tiếp tục câu chuyện với ông:

- “Dù sao cái làng này cũng đã có một thời đem võng lọng đi đón ông kia mà! Bây giờ họ để ông ngồi với bọn lính tráng tệ thật! Thôi, ông đừng chấp trách chi cái bọn xu thời ấy!”

Ông Nghè ngoái cánh tay xương xẩu ra sau đấm cái lưng còng thùi thụi:

- “Mô, ông có chấp trách họ chi mô! Ông chỉ tiếc tại cái lưng còng này. Nếu cái lưng ông không còng thì ông đã theo chú Hai làm cách mạng rồi, và bây giờ làm gì còn cái cảnh xôi thịt ni nữa!”

- “Nhưng bây giờ thì lưng ông đã còng rồi!”

- “Nên ông thủ phận chớ có dám chi mô! Đêm đêm thức giấc ông chỉ mong sống đến cái ngày được gặp lại chú Hai một chút!”

- “Thôi ông, lỡ người ta nghe được rầy rà lắm!”

Nghe lóm câu chuyện tôi đoán mò “Chú Hai” nào đó là một người thân của ông Nghè đã đi làm Cách mạng. Điều đó nói trong cái thời “tận diệt Việt cộng nằm vùng này” quả là dễ sợ thật, nên tôi giả vờ không nghe và không hỏi lại bạn.

Nhưng vì nó khó hiểu, bí mật nên nó có một sức hấp dẫn đọng mãi

trong ký ức tôi.

*

*     *

Hơn hai mươi năm sau..

Năm 1976, có một buổi họp của cán bộ kỷ niệm lần thứ 86 ngày sinh của Bác có ông Võ N. kể mẩu chuyện sau đây:

- “Vào khoảng năm 1964, 1965, đoàn cán bộ miền Nam chúng tôi được hân hạnh đến thăm Bác. Bác hỏi: - “Thế có chú nào quê ở Thừa Thiên-Huế không? “Trong đoàn chỉ có một mình tôi (tức Võ N.) là người Thừa Thiên-Huế nên tôi đáp: “Dạ thưa Bác, cháu là người Thừa Thiên, ạ!”. Bác ôn tồn hỏi: “Thế chú ở huyện nào?”. Tôi thưa: “Thưa Bác, cháu ở huyện Phú Vang ạ”. Bác cười, rồi đưa hai cánh tay làm thành một cái vòng cung trước mặt, nói giọng vui hẳn lên:

- “Ở quê chú có cái đình Dương Nỗ cột to một người ôm không xuể vậy này!”

Được Bác nhắc đến quê tôi (Võ N.) một cách cụ thể như thế làm cho tôi sung sướng đến nghẹn ngào. Tôi không thể ngờ được quê tôi có một thời Bác đã sống qua và còn ghi dấu trong tâm trí Bác sâu sắc đến thế. Cố gắng lắm tôi mới nói được:

- “Dạ... thưa Bác, quê cháu có cái đình ấy đấy!”

Vầng trán của Bác bỗng dưng nhíu lại, Bác đưa tay vuốt mấy sợi râu phơ phất trước cằm, Bác nói tiếp với giọng bùi ngùi xúc động:

- “Ngày xưa ông cụ tôi có dạy học ở làng đó!”

Thuật lại mẩu chuyện trên xong, đồng chí Võ N. nói thêm với chúng tôi:

- “Sau đó vào Nam, công tác tại Phú Vang tôi để ý tìm cơ sở ở Dương Nỗ nhờ nghiên cứu đầy đủ hơn, nhưng chiến tranh ác liệt quá tôi không tìm được ai. Thời thơ ấu, Bác đã sống ở Tỉnh ta. Đây là một niềm tự hào của nhân dân ta. Bây giờ hoà bình rồi nhờ các đồng chí - nhất là các nhà nghiên cứu, các nhà văn phải xác minh một cách cụ thể di tích ở Dương Nỗ để viết, để tôn tạo phục vụ nhân dân và khách du lịch đến tham quan Tỉnh ta!”.

Nghe kể lại mẩu chuyện trên, những kỷ niệm về làng Dương Nỗ xa xôi trong tôi bỗng sống dậy. Tôi dự đoán, một người như ông Nghè-ông nội của hai bạn Nhàn và Phồn thời thơ ấu của tôi, có lẽ biết được thời cụ Sắc đến Dương Nỗ dạy học. Tôi đạp xe trở về làng Dương Nỗ với một sự náo nức trong lòng. Tôi lại đi trên con đường ven sông đến cái ngõ xóm năm xưa. Một cảm giác buồn buồn vương vấn tâm hồn tôi. Ngôi nhà cũ vẫn còn nguyên vẹn, bốn bề cửa đóng im ắng như một ngôi chùa hoang. Phía tay mặt xây thêm một cái nhà bếp, vách bằng bờ-lô. Tôi bước dẫm lên cái sân phủ đầy rêu xanh với một nỗi bâng khuâng khó tả. Tôi gõ cửa mãi mới thấy một người phụ nữ cao dong dõng, vẻ mặt khinh khỉnh, ngoe nguẩy như một người mắc bệnh thần kinh. Nỗi buồn đọng lại nặng trĩu trong tôi. Người phụ nữ ấy là cô Nguyễn Thị Khôi, lưng còng, con gái út của ông Nghè. Để tự giới thiệu mình: tôi trình bày lai lịch quen thân với gia đình cô. Rất may, nghe tôi kể xong cô đổi thái độ và xem tôi như con cháu đi xa mới về. Cô mời tôi lên nhà, mở các cửa, một mùi ẩm mốc xông lên, gây cho tôi một nỗi nhớ nhung da diết. Ngồi trên bộ phản gỗ mối mọt ăn thủng nhiều chỗ, tôi hỏi chuyện gia đình bạn tôi. Cô Khôi đáp với nỗi xót xa:

- “Ba tôi mất năm 1965, chị em thằng Phồn dắt nhau lên Đà Lạt sống với anh Duyến, giao cái nhà thờ ni lại cho tui!”

- “Thầy Duyến độ này làm ăn ra sao, cô?”

- “Anh nớ khi mô cũng rứa - Cô Khôi đáp - Hết đi phát cái rẫy ni đến đi phở (vỡ) cái vườn tê, trồng tỉa vắt đất mà sống. Nghe nói sau ngày Giải phóng anh về Di Linh làm rẫy. Anh biểu tui nhờ làng giữ giùm cái nhà ni mà lên làm ăn với ảnh. Nhưng khổ một nỗi xa cái nhà thờ ni đi mô tui cũng không yên!”

- “Còn chị em Nhàn ra sao, cô?”

- “Nhàn lấy chồng làm vườn. Còn Phồn thì bị Thiệu bắt đi lính, hắn phải tự bắn gảy đi một cái chân mới được ở nhà. Chừ hắn làm thợ sơn ở Đà Lạt”.

...

Đáng lý tôi còn hỏi nhiều chuyện có liên quan đến gia đình của bạn tôi nữa, nhưng cái mục đích tôi về làng Dương Nỗ lần này cứ hiện ra trong tâm trí tôi, tôi không thể nén nó lại được. Tôi hỏi cô Khôi:

- “Ngày xưa Bác Hồ ở làng Dương Nỗ ta đây, không rõ lúc sinh thời có lần nào ông nói chuyện đó với cô không?”

Cô Khôi nhìn tôi với cặp mắt long lanh. Khuôn mặt cô tươi hẳn lên. Tay cô chỉ cái bát hương thứ hai đặt trên bàn thờ giữa nhà, bảo tôi:

- “Có chớ. Lúc nhỏ ba tôi kèm cho Bác Hồ học. Cả ông cả Khơm cũng ở đây. Lúc hay tin ông Cả mất, ba tôi thiết bát nhang thờ ông Cả đó!”

Lời cô Khôi nói như những hạt vàng rơi trước mắt tôi. Tôi mừng quá. Tôi cố nén niềm vui nhưng nó cứ muốn bừng ra trong lòng.

Tôi hỏi tiếp:

- “Ông có nói chuyện Bác Hồ ở đây không, cô?”

- “Ba tui nói nhiều lắm, nhưng anh Duyến với thằng Phồn nhớ, chừ tui hay quên lắm!”

Tôi cố nài nỉ hỏi:

- “Cô không còn nhớ chi nữa hết à?”

- “Tui chỉ nhớ ba tui dặn, nếu không làm chi tốt để vừa lòng chú Hai thì cũng cố tay làm hàm nhai chớ đừng tham gia làm tay sai cho giặc. Anh em con cháu bầy tui thực hiện cho được lời dặn ấy đã khó quá chừng!”

Tôi náo nức muốn gặp thầy Duyến. Ước chi có cánh, tôi sẽ bay lên gặp thầy Duyến ngay. Vì không có cánh nên tôi cố “đào” thêm trong trí nhớ của cô Khôi.

- “Cô cố gắng còn nhớ thêm được gì nữa không?”

- “Vì tui nhỏ không được gặp chú Hai nên rất khó nhớ. Tui chỉ nhớ nhiều về cô Thanh và ông cả Khơm thôi!”

- “Nhớ sao, cô?”

- “Cô Thanh xem gia đình tôi như gia đình cô. Ông Cả cũng rứa. Họ xem ba tui như anh em ruột. Vì rứa đi mô xa Huế khi về họ cũng đều ghé về thăm ba tui. Cô Thanh con gái mà giỏi chữ Nho lắm. Ông Cả thích uống rượu, nhắm với một trái ớt hoặc một miếng khế thôi. Ông cũng rất thích ăn thịt chó!”

- “Cô Thanh, ông Cả và ông ở nhà gặp nhau nói chuyện có nhắc đến Bác Hồ không?”

- “Có chớ! Ba tui hay nói với Cô và ông Cả, ba tôi ao ước sống cho đến ngày được gặp lại chú Hai-nhưng không ngờ ba tui lại mất sớm”.

Cô Khôi nói và rưng rưng nước mắt.

“Chú Hai” - cái tên giản dị và thân tình làm sao! Phải mất hai mươi mấy năm sau tôi mới hiểu được “Chú Hai” trong gia đình của thầy Duyến tôi là ai!

*

*     *

Năm đó tôi xin nghỉ phép lên Đà Lạt thăm mẹ tôi để tôi có thể gặp lại người thầy học cũ! May mắn làm sao! Ngay hôm tôi đến thăm, vợ chồng thầy Duyến cũng vừa ở Di Linh (thôn Lệ Ninh, xã Ninh Giang) mới lên Đà Lạt. Ngôi nhà gác của Phồn nham nhở sơn dầu đứng chênh vênh bên đường Nguyễn Văn Trỗi. Hơn hai mươi năm mới có dịp gặp lại tôi, thấy thầy Duyến già đi nhiều, đầu tóc bạc trắng, gương mặt khô gầy vì sương nắng làm rẫy. Chỉ còn đôi mắt và nụ cười đôn hậu vẫn tươi vui như xưa.

Sau khi thăm hỏi, tôi bắt đầu câu chuyện:

- “Thưa thầy, hôm nay đất nước hoà bình, thống nhất rồi con mới có dịp xin hỏi thầy và bạn Phồn về câu chuyện “Ông Hai”.

- “Ông Hai nào?” - Thầy Duyến vừa rót nước mời tôi vừa hỏi tôi với giọng rất thờ ơ.

- “Ông Hai mà lúc sinh thời ông ngoài nhà hay nhắc đến một cách trìu mến ấy!”-Tôi nói thêm.

Thấy Duyến trở nên nghiêm nghị, nói tiếp với giọng miễn cưỡng:

- “Thôi chuyện cũ rồi, bây giờ lo làm ăn xây dựng đất nước, hỏi chuyện đó làm chi nữa, anh!”

- “Viết chuyện ông Hai là một trong những việc góp phần xây dựng đất nước trong khả năng của con, thưa thầy!”

Tôi nói với giọng van lơn mong được thông cảm.

Thầy Duyến nhìn thẳng vào mắt tôi:

- “Sao anh không viết Bác Hồ thời Người đã trưởng thành làm lãnh tụ Cách mạng mà lại viết cái thời Nguời còn thơ ấu ấy cho khó!”

- “Vì khó nên con mới lao vào viết!”

- “Nhưng mà anh bắt tôi kể lại chuyện cũ làm gì? Không khéo người ta lại bảo: “Thấy sang bắt quàng làm họ” cũng nên?”

- “Thầy đâu có “bắt quàng”. Con từ Huế băng đồng chỉ sá lên đây yêu cầu thầy cho biết một sự thật lịch sử kia mà!”

Thầy Duyến ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo tôi:

- “Anh đã tha thiết muốn biết như vậy, tôi cũng không từ chối được. Anh còn ở đây thăm bà mẹ đã chớ?”

- “Bao giờ con chưa được nghe thầy kể chuyện ấy thì con chưa rời Đà Lạt được!”

- “Vậy anh hãy thong thả mấy hôm nữa để cho cha con tôi bàn lại với nhau một chút. Chuyện cũ thầy tôi kể nhiều nhưng rải rác từng mảnh một, thầy tôi lại mất lâu rồi! Tôi sợ kể có điều gì bất đáng chúng tôi có tội với người đã mất!”

...

Thầy Duyến dè dặt, thận trọng làm cho niềm hy vọng của tôi tăng lên. Tư cách của anh em thầy Duyến nếu chưa giống được với những người thân trong gia đình Bác thì nó cũng có một cái gì đó bắt người ta phải nghĩ đến ảnh hưởng của cụ Sắc và hai người con cụ đã để lại trong gia đình họ Nguyễn Sĩ ở Dương Nỗ hơn ba phần tư thế kỷ nay.

*

*     *

Lời thầy Duyến (trích trong sổ tay).

“Ba tôi không bao giờ có ý định kể chuyện Chú Hai với chúng tôi. Ông chỉ nhắc đến Chú Hai mỗi lần ông muốn nhắc nhở hoặc dạy dỗ cho con cháu một điều gì. Tôi cố gắng xếp lại để kể với anh cho có thứ lớp dễ nhớ, có điều chi chưa ổn, chưa chính xác lắm anh về Dương Nỗ hỏi thêm anh Xước và anh Tích - hai người anh con ông bác của tôi.

Như anh biết, tôi lên Đà Lạt làm ăn từ những năm trước Cách mệnh tháng Tám 1945. Bảy tám năm sau tôi mới cò dịp về thăm quê, thấy trên bàn thờ có sự thay đổi tôi hỏi ba tôi:

- “Ai mới mất mà thiết thêm bát nhang rứa, thầy?”

Ba tôi đáp giọng ngậm ngùi:

- “Nghe nói chú cả Khơm mất ngoài quê rồi. Chú chẳng còn con cháu để lo hương khói, giữ lòng thủy chung với chú, thầy rước hương hồn chú về sống với ông bà mình đó!”

Tôi (Nguyễn Sĩ Duyến) rất xúc động ngối xuống bên cạnh ba tôi; nghe ba tôi kể về mối liên hệ giữa chú Cả và gia đình tôi.

- “Chú Cả và chú Hai quê ờ Nam Đàn-Nghệ An. Ông thân sinh học rất giỏi, người khảng khái, nhưng trải qua hai khoa Ất mùi (1895) và Mậu tuất (1898) trời chưa cho đỗ. Làng mình có ông Nguyễn Viết Chuyên làm việc tại bộ Hình biết tiếng cụ mới về cậy làng lên Kinh vời ông về dạy cho con em trong làng. Lúc mới về, ông Khoá Kiện mời thầy ở lại trong nhà để dạy cho con trai ông (là bộ Hường sau này). Ông mình gửi bác Mại, bác Kính và thầy sang học. Hai chú cả Khơm và chú Hai theo cha về làng mình, đầu còn để tóc trái đào, bốn mùa phong phanh một cặp áo quạ màu nâu. Ở trong nhà, Khóa Kiện ỷ thế mình có của mướn thầy về dạy nên đôi lúc vô lễ với thầy. Thầy rất giận và thường phê phán thái độ của Khoá Kiện rất nghiêm. Thấy thế hai bác và thầy về kể chuyện lại với ông. Ông trách Khoá Kiện có ăn học mà thiếu lễ nghĩa. Để có thể giữ được chân thầy, ông mời thầy và hai chú về nhà mình ở. Ông dành ngôi nhà này cho thầy và hai chú. Nhà này nguyên của bà Diêu vợ cố Nguyễn Phước Đạo làm thị lang bộ Công. Bà cố là vợ thứ mà lại không có con trai nên cố giao cho con rể là ông Độ ở để sau này ông mình phụng thờ bà cố. Lúc thầy Sắc và hai chú về ở, nhà có ba gian hai chái. Mãi đến năm Thìn (1904) bão thổi sập nhà, thầy dựng lại chỉ còn một gian hai chái. Khi các con ra đời nhà đã được sửa lại hàng mươi năm rồi. Ông rất trọng thầy, không những ông giao nhà cho thầy ở, lo cho thầy và hai chú ăn uống đầy đủ mà ông còn cử một bà o lo giặt giũ săn sóc cho gia đình thầy nữa.

Từ ngày về nhà mình, thầy và hai chú rất thoải mái. Học trò trong làng mình và các làng chung quanh cơm đùm gạo bới đến xin thầy học rất đông. Học trò của thầy lúc đó có hai loại: Loại chuẩn bị đi thi Hương như các bác Lệ, bác Kính, bác Mại, bác Kiến (con ông Nguyễn Viết Chuyên), Phong, Đoàn, Đại, Xứng, Nguyễn Thế Toản...Loại thứ hai đã giỏi chữ nhưng chưa thi cử gì hoặc mới học vỡ lòng như thầy, Đoàn Văn Huyến, Nguyễn Hoàn và hai chú Cả, chú Hai... Tình cảm họ hàng nhà  mình với thầy và hai chú khởi thuỷ từ đó.”

Một lần khác, nhân lúc anh em tôi (Nguyễn Sĩ Duyến) cải nhau vì câu chữ: “Phú quý sinh lễ nghĩa” thầy tôi gọi lại bảo rằng:

- “Phú quý mới có lễ nghĩa, thì cái lễ nghĩa ấy tầm thường lắm. Dân ta nói: “Miếng khi đói bằng đọi khi no”. Ngày xưa thầy của thầy và hai chú rất nghèo nhưng không thiếu lễ nghĩa, không thiếu tình thương đối với người nghèo. Bây giờ mình nghèo nhưng còn tìm được miếng ăn, ngày xưa thầy và chú Cả, chú Hai, nghèo như thế nào các con có biết không?

Lúc thầy đem hai chú về Dương Nỗ làm thục sư, hiền thê của thầy vẫn sống trong Thành nội bằng nghề dệt vải. Có người đem con tới học thấy hai chú Cả, chú Hai bên cạnh thầy họ mới hỏi:

- “Bẩm thầy, vì sao hai cậu không ở với mẹ tại Thành Nội mà lại theo thầy về đây?”

Thầy cười. Bàn tay xương xẩu của thầy vỗ vỗ  hai cái đầu để tóc trái đào của hai chú:

- “Thằng này là Khơm, thằng này là Côông. Khơm Côông là Khôông cơm. Vì thế tôi phải dắt hai cháu về đây để nhờ thiên hạ nuôi!”

Đó là một sự thật vừa châm biếm, khôi hài mà cũng vừa xót xa chua chát. Thế mà thầy và hai chú lúc nào cũng vui, cũng sống lễ nghĩa, trọn đạo làm người.”

Năm ấy Nhàn và Phồn học thi Tú tài, trong lúc vui Phồn hỏi thầy tôi:

- “Lãnh đạo Cách mạng, ông Phan Bội Châu đã từng đỗ đầu Cử nhân ở Nghệ, ông Phan Châu Trinh đỗ Phó bảng, ông Huỳnh Thúc Kháng đỗ Tiến sĩ, chỉ có ông Hai là không có bằng chi cả. Tại sao rứa, ông?”

- “Ông Hai rất thông minh. Nếu ông chịu gò mình ngồi ở nhà ôm cột nhà tụng thuộc lòng các bộ Kinh, Truyện, sử ta, sử Tàu thì ông Hai có thể đỗ Hoàng giáp. Và nếu ông Hai đỗ Hoàng giáp thì chưa chắc ông đã có thể trở thành Hồ Chí Minh. Thiên cổ nhứt nhơn, nhứt nhơn thiên cổ đó cháu nợ! Xưa nay Việt Nam có biết bao Tiến sĩ, Hoàng giáp mà trước sau chỉ có một  Hồ Chí Minh mà thôi!”

Để cho Phồn tin lời ông nói đúng, thầy tôi-Lời thầy Duyến-kể thêm vài kỷ niệm xưa:

- “Ông Hai thông minh một cách kỳ lạ. Lúc đó thầy lo dạy cho lớp học trò sắp đi thi Hương khoa Canh tý (1900), đối với lớp mới học thì thầy chỉ bài trong sách rồi những người đã giỏi chữ phải kèm cho những người mới học. Thầy giao cho thầy kèm chú Hai.Thầy bảo: “Hắn không thuộc bài thì trò phải ăn đòn thay.” Vì thế thầy sợ lắm. Chú Hai hiếu động, thích đi chơi đây đó chớ ít khi chịu ngồi yên mà học (1). Mỗi lần chú bỏ lớp thì quả nhiên thầy bị thầy học quở trách nặng lắm. Một hôm thầy chỉ cho chú một bài trong Luận Ngữ, chú lẩm nhẩm qua một chút rồi xếp sách rục rịch bỏ đi. Thấy thế thầy nắm áo kéo lại:

- “Chú Hai, chú định đi mô đó?’

- “Thưa, đi chơi!”

- “Bài thầy ra chú thục chưa mà đi chơi?”

- “Thục hét rồi!”

Tuổi nhỏ nhưng chú Hai rất tự trọng, nói điều chi thì đứng đắn như đinh đóng cột điều đó. Do đấy mà khi nghe chú nói thục bài rồi thầy rầt ngạc nhiên. Thầy tự hỏi: “Rứa thì chú học khi mô?” Có lẽ chú đoán được sự ngạc nhiên của thầy, chú đưa sách cho thầy dò. Chú đọc chậm rãi từ đầu đến cuối bài. Sách Luận Ngữ một tập tám tờ, một tờ mười sáu hàng đọc qua năm bảy dạo chú thục hết. Thầy còn nghe chú Cả nói, lúc chưa thuộc hết mặt chữ mà khi nghe thầy ngâm Đường thi chú Hai đọc theo và thục rất nhiều. Một người sáng dạ như vậy học chi mà không thục, bằng chi mà không đậu được. Chú Hai học để làm người chứ không phải học để lấy cho được mảnh bằng này nọ để làm quan cháu ạ!” - Thầy Duyến kể tiếp - “Quan niệm học để làm người chớ không phải học để làm quan của chú Hai đã có một ảnh hưởng lớn đối với gia đình tôi. Mỗi lần muốn nhắc con cháu phải nhớ thực hiện quan niệm ấy thầy tôi lại kể chuyện chú Hai. - “Thiên tư của chú Hai phát triển rất sớm-Lời ông Nghè Khuyến do ông Duyến kể lại - Điều chú muốn biết rất xa lạ đối với sách vở của Thánh hiền. Từ ngày mới về Dương Nỗ đến lúc chú từ giả ra đi (gần hai năm trời), không ngày nào chú không học cuộc sống ở đây. Đi chơi chú hay hỏi: “Sông Phổ Lợi từ đâu chảy đến và sông chảy về đâu nữa?”, “Đình làng Dương làm từ năm nào?”, “Bà là ai? Bà có công gì mà mình lập bàn thờ Bà?” - ”Dân Dương Nỗ xưa kia từ đâu đến?”. Những gì chú hỏi, có điều dân làng trả lời được, nhưng cũng có nhiều điều ông thủ chỉ trong làng cũng chịu. Lúc đó thầy chưa hiểu được và cũng chưa thấy được ích lợi của việc học cuộc sống của chú Hai. Nên mỗi khi thấy chú Hai đi chơi là thầy chạy theo năn nỉ chú về học. Mỗi lần thầy gọi về thì chú đáp:

- “Mấy anh về lo học để sau này thi đỗ ra làm quan. Còn tôi về học để rồi làm ông Khổng tử tôi cũng không học. Cái gì thích thì tôi tìm học thôi!”. May mà chú Hai học mà không chịu theo Thánh hiền, không chịu ghép mình vào cái học từ chương hủ lậu để đất nước có một vị cứu tinh dân tộc là cụ Hồ Chí Minh!”

 “Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời ra đời. Người đứng đầu Nhà nước là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người mình lúc ấy vẫn còn mang nặng cái quan niệm cho rằng người đứng đầu Nhà nước là Thiên tử, tức là vua. Vì thế khi biết ông Hồ Chí Minh chính là người học trò làng Dương với cái tên là Cung con ông Phó bảng Sắc, họ bèn kêu lên rằng: - “Dân Dương Nỗ giỏi quá. Bà con nói cậu bé Nguyễn Sinh Cung ở nhà ông Nghè năm xưa có cái mạng to hơn cả Thánh thần thế nào cũng làm vua. Nay chuyện ấy đã trở thành sự thực. Bây giờ ông Hồ làm Chủ tịch Nước từ Nam chí Bắc còn có quyền hành to hơn vua nữa!” O Chân em gái tôi (Nguyễn Sĩ Duyến) vào đoàn thể Phụ nữ Cứu quốc nghe vậy bèn về nhà hỏi thầy tôi:

- “Bác Hồ mạng to lắm phải không thầy?”

Thầy tôi cười, người vui vẻ nói với em gái tôi:

- “Dân mình còn nặng đầu óc mê tín họ bày vẽ ra nói rứa thôi. Nguyên do là như ri: “Lúc đó người ta tin buổi trưa đứng bóng là lúc ma quỷ thánh thần đi tắm rửa, người mà đi tắm lúc đó là xuông phải ma đau chết thôi! Thế mà trưa nào chú Hai cũng nhảy ùm xuống sông Phổ Lợi tắm cả. Tắm xong chú còn vô đình nằm hoặc xuống cái Am Bà làng Phò Nam ngủ trưa cho mát. Am Bà là nơi linh thiêng hạng nhất, ban ngày mỗi lần đi qua người ta còn phải cúi đầu đi thật nhanh huống chi vào trong nớ ngủ. Vì rứa dân làng lo sợ: “Cậu bé Cung nếu không bị Hà bá nhận nước thì cũng bị Bà vật chết”. Nhưng lạ thay, chú Hai không những không bị Hà bá nhận nước, không bị Bà vật mà cứ vẫn lớn cao khoẻ mạnh như thường. Điều đó làm cho bà con ngạc nhiên. Rồi cũng chính những người hay lo sợ mới loan truyền với nhau rằng: “Cậu bé Cung mạng to hơn cả Thánh thần. Sau này thế nào cậu cũng làm vua!” Bây giờ Chú Hai làm chủ tịch nước, đồng bào mình vui, những người thích nói tướng “Chú Hai làm vua”. Người ta không hiểu thời đại bây giờ chuyện vua quan đã mãn rồi! Nhưng cũng có thể nói cụ Hồ mạng rất to. Nếu không to làm sao cậu bé Cung có thể vượt qua được bao nhiêu đại dương, bao nhiêu nhà tù, bao nhiêu cạm bẫy của cuộc sống để trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh linh hồn của chế độ Dân chủ Cộng hoà được!”


(1) Điều này phù hợp với lời Bác kể với một nhà báo năm 1946: “Hồi tám tuổi đi học tôi cũng không chăm lắm, thỉnh thoảng bỏ học đi bắt tổ chim, đôi khi còn đánh nhau nữa” Báo Nhân Dân, số ngày 25.6.1983, tr.3.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123