Chương 2: Đường vô xứ Huế

Đôi dép cao-su là một đặc sản của Bình Trị Thiên, nó ra đời từ trong kháng chiến chống Pháp, được phát huy tác dụng mãi cho tới thời kỳ chống Mỹ, và nó vẫn tồn tại một cách “hài hoà” giữa cái thời đại dày da và sa-bô bóng láng sau năm 1975. Dép cao-su đi vào đời sống kháng chiến quen thuộc quá nên không có ai để ý đến nguồn gốc của nó nữa. Người ta nói chính Bác Hồ là người đã mang dép cao-su đầu tiên. Điều đó còn phải kiểm chứng, song có thể nói chắc chắn rằng chính Bác là người đã làm cho thế giới biết đến nó và trân trọng nó. Bởi thế đôi dép cao-su của Bác Hồ đã được giữ gìn trong Bảo tàng cách mạng Việt Nam.

Hồi theo học Đại học Văn khoa Huế tôi được nghe cụ Tiến sĩ Hán học Nguyễn Huy Nhu (1) (người Nghệ An) - thầy dạy Hán văn, kể chuyện rằng:

- “Ngày xưa các sĩ tử trẩy Kinh thi Hội, thi Đình bằng đường Thiên lý. Con đường này vốn nhỏ hẹp, khập khễnh, khi thì trèo dốc qua đèo, khi thì bị ngắt quãng vì sông sâu, và có khi thì nhễ nhại mồ hôi vượt qua những truông cát. Đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn cho sửa sang con đường ấy làm đường liên lạc thống nhất giữa ba kỳ. Cứ cách 15 cây số thì đặt một nhà Trạm, và có phu trạm mang công văn đồ đạc và khiêng cáng kiệu cho các quan. Núi cao thì trèo cũng qua, sông sâu thì có đò ngang. Điều mà ai cũng sợ chính là các truông cát Quảng Bình và Quảng Trị. Nhiều truông cát đi hàng mươi cây số, đi tối ngày mới qua khỏi. Có lẽ Nguyễn Du khi đi qua đây, cái kinh khủng của các truông cát đã để lại trong tâm hồn ông một ấn tượng sâu sắc, nên khi ngồi trên đất Huế tả nỗi bơ vơ của nàng Kiều ông đã hạ bút viết:

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Và không riêng gì Nguyễn Du, Cao Bá Quát cũng từng than trong “Bài đi trên cát”:

Bãi cát dài, bãi cát dài biết tính sao đây?

Không để cho cát khuất phục, hai đầu truông cát đều có hai cái quán nhỏ bán dép mo neo giúp cho bộ hành vượt qua truông. Đôi dép thật giản dị gồm hai miếng mo cau hay da trâu, da bò cắt theo hình bàn chân. Mỗi chiếc có một cái quai hậu và hai quai từ lưng mép bàn chân quàng lên rồi chụm lại ở kẻ phía trong ngón chân cái. Buổi sáng dép còn mới nguyên, buổi chiều vượt qua đại tràng sa rồi dép tơi tả như nỗi mệt mỏi của lòng người trẩy Kinh, bị vứt thành đống bên vệ đường.”

Cụ Nhu kết luận:

- “Người sáng tạo ra đôi dép cao-su ngày nay có lẽ là một người đã từng gắn bó đôi chân mình với đôi dép neo ấy!”

Khi nghiên cứu biết được hồi cuối năm 1895(2) Nguyễn Sinh Cung theo gia đình vào Huế, những điều tôi đã nghe cụ Nhu kể khi còn cắp sách đến trường Văn Khoa (1962) bỗng sống dậy trong tôi. Tôi tin chắc nỗi vất vả của Nguyễn Du, Cao Bá Quát năm xưa cũng là của gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc trên đường vô Huế. Rồi tôi tự nhiên không gỡ ra được khỏi lòng mình niềm tin chính Bác Hồ là người đã từng đi dép mo qua đại trường sa rồi từ kinh nghiệm đó Bác đã sáng tạo ra đôi dep cao-su giúp cho người chiến sĩ vượt qua các cuộc trường kỳ kháng chiến!

*

*     *

Hồi ấy trẩy Kinh khó khăn như một cuộc trường chinh. Thảo nào mà người xưa đã đặt tên cho con đường nối liền ba kỳ là con đường vạn dặm (thiên lý). Lòng người dám vượt qua con đường vạn dặm ấy là vì sự hấp dẫn của đất “Nhất Kinh kỳ, nhì phố Hiến”.

Kinh thành Huế là một tiêu bản của những thành thị ngày xưa, nó được thiết lập vì mục đích chính trị chứ không phải yêu cầu Kinh tế. Tuy vậy, vì nhu cầu tiêu dùng của giai cấp thống trị ở Kinh đô, một thành phố đã mọc lên bên ngoài Hoàng thành Huế.

Theo Đào Duy Anh (3) và những người đã sống ở Huế từ cuối thế kỷ trước cho biết:

“Lúc chưa bắc cầu Trường Tiền, phố xá buôn bán chỉ có hai khu Đông Ba và Gia Hội, gồm những dãy nhà tranh lụp xụp, rải rác chen vào đôi mái ngói cao ráo của Hoa kiều. Ngoài cửa Chính Đông là chợ Đông Ba. Dọc sông Hương, từ cầu Gia Hội lên đến Phu Văn Lâu là nhà vườn của các Hoàng gia và các quan. Trên bờ sông-ngay truớc cửa Thượng tứ là bến Thương Bạc - bến thuyền dành cho các quan Tây ở bờ nam sông Hương qua nhà Thương Bạc bàn việc “bảo hộ” với triều đình Huế. Đối diện qua bên kia sông Hương - về phía hạ lưu là Toà Khâm và doanh trại lợp ngói của 15 đội thủy binh. Cuối thế kỷ trước khu vực hữu ngạn thuộc Pháp với nhà cửa, dinh thự, đường sá đều làm theo kiểu Tây. Từ ngày bắc cầu Trường Tiền (1897) (4) và “chợ Đông Ba đem ra ngoài Giại” (1899) (5) sự buôn bán phồn thịnh của hai khu Đông Ba - Gia Hội chuyển lên đường Paul Bert (Trần Hưng Đạo ngày nay), các nhà vườn của họ hàng nhà vua, của các quan theo lệnh vua Thành Thái phải di chuyển hết ra vùng ngoại ô”.

Sự thay đổi của Huế trước mắt cậu bé Nguyễn Sinh Cung trong những năm cuối cùng của thế kỷ XIX như thế!

So với quê hương Nghệ An, Huế thật là một nơi hoa lệ chói ngời. Cung điện, thành quách, phố xá rất hấp dẫn đối với tâm hồn một cậu bé rất ham hiểu biết. Nhưng chắc chắn nó không làm cho cậu sớm bắt cái đầu óc non nớt của mình phải nghĩ ngợi về những sự kiện có thật trong chiều sâu của xứ Huế lúc ấy. Việc thất thủ Kinh đô (1885) đã lùi vào dĩ vãng mười năm, để trấn an dân, giặc Pháp đã đưa vào Đại Nội hai ông vua. Một ông cúc cung tận tụy làm tay sai cho Pháp (Đồng Khánh, 1885-1888), một ông “cứng đầu” với Pháp liền bị dán cho cái “nhãn” điên. (Thành Thái, 1888-1907). Vì thế lòng người trên mảnh đất đã nhóm lên ngọn lửa Cần Vương vẫn hướng về Hàm Nghi - vị vua trẻ đã sớm có tinh thần chống giặc Pháp. Tục ngữ có câu “Đá thử vàng, gian nan thử sức”, sau khi giặc Pháp chiếm Kinh thành Huế, bọn vua quan khiếp nhược, bọn quan lại cơ hội xu thời theo Pháp bị lộ mặt, đồng thời những người yêu nước thương nòi cũng ngời tỏ tấm lòng trung của mình. Đến Huế vào những năm ấy, làm sao bên tai cậu bé Nguyễn Sinh Cung không từng nghe những lời than:

“Từ ngày Tây lại, sứ sang

Vì đồng xu giác bạc thiếp với chàng xa nhau”

Hoặc lời phê phán sự bất lực của triều đình:

“Lập trường ra văn võ thi tài

Cớ làm răng cửa Thuận An Tây lấy,      

Trấn Bình đài cờ Tây treo?”

*

*     *

Gần đây ở quê Bác các nhà nghiên cứu đã viết nhiều về sự kiện gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc “trẩy Kinh” (6). Nhờ sự giúp đỡ của gia đình bên vợ và bàn tay làm ruộng, dệt lụa của bà Hoàng Thị Loan mà ông Nguyễn Sinh Sắc đã có dịp ăn học để năm Giáp Ngọ (1894) ông thi đỗ Cử nhân tại trường Vinh.

Theo lệ xưa, cứ năm trước (7) các tỉnh (8) tổ chức thi Hương (9) thì năm sau tại Kinh đô, Triều đình tổ chức thi Hội, thi Đình (10). Cũng như sĩ tử trong khắp cả nước, mùa xuân năm Ất mùi (1895) ông Sắc mang yên trại vào đến trường thi phường Tây nghị trong Kinh thành Huế (11). Nhưng khoa ấy, bảng vàng treo ở lầu Phu Văn Lâu chưa đề tên ông. Ông Cao Xuân Tiếu - người bạn đồng hương đã từng giúp ông chút ít chi phí trên đường trẩy Kinh (12), đỗ Phó bảng (13). Ông Tiếu cảm thông sự khó khăn của bạn đã nhờ thân sinh là ông Cao Xuân Dục - Toản tu Quốc sử quán, can thiệp với ông Tề tửu Quốc tử giám Khiếu Năng Tĩnh thâu nhận Nguyễn Sinh Sắc vào học Quốc Tử Giám - trường Đại học độc nhất ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho biết thêm rằng ông Cao Xuân Dục là bạn thân với ông Hoàng Đường - người thầy - người cha vợ của Nguyễn Sinh Sắc. Cụ Cao biết Sắc từ buổi thiếu thời, rất mến tài năng và ý chí của Sắc. Khi hay tin Sắc thi hỏng khoa Ất mùi (1895) cụ Cao rất tiếc.

Quốc tử giám xây dựng từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) cho mãi đến năm 1895 trường vẫn đặt tại làng An-Ninh-phía Tây Kinh thành Huế. Trường gồm có một Di luân đường đứng giữa, phía sau là giảng đường. Hai bên trái phải có hai dãy nhà ngang chia làm nhiều phòng, ốc dành cho giám sinh ăn, ở, học hành (14). Số phòng ốc ít ỏi chỉ đủ sức thu nhận những tôn sinh, ấm sinh con cái các hoàng thân, các quan trong Triều. Số giám sinh con bình dân bách tính từ các nơi về dù học giỏi đến mấy cũng phải ở nhà trọ bên ngoài. Hằng tháng các giám sinh được nhà trường phụ cấp cho một ít gạo, tiền (ligature) và dầu (để thắp đèn học ban đêm) (15). Với số học bổng ít ỏi đó, Nguyễn Sinh Sắc không thể sống ở Huế được. Muốn vượt qua khó khăn này không còn cách nào tốt hơn là việc ông trở lại quê nhà Nghệ An đưa vợ và các con vào Huế kiếm sống và giúp đỡ  cho cụ ăn học.

Vào một ngày cuối năm 1895, ông Sắc đưa gia đình vợ con vào Huế, trong đó có cậu bé Nguyễn Sinh Cung. Nhờ Huế là trung tâm chính trị, trung tâm văn hóa và nhờ hoàn cảnh khó khăn của ông Sắc lúc ấy mà thành phố sông Hương mãi mãi lấp lánh niềm tự hào-thành phố thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này.

Đến Kinh đô gia đình ông Sắc trú chân trong một ngôi nhà trước Viện Đô sát (16). Sau lưng Viện là Quốc Sử Quán - nơi làm việc của ông Cao Xuân Dục (người đã xin cho cụ Sắc vào học Giám). Các quan Ngự sử Viện Đô Sát, các quan Toản tu Quốc sử quán phần lớn là người Nghệ Tĩnh. Có lẽ gia đình ông Sắc đã trú chân trong nhà của một người cùng quê làm việc ở hai cơ quan này. Nhưng lớp bụi thời gian gần một thế kỷ nay khá dày, đến nay chưa ai biết đích xác ngôi nhà ấy là ngôi nhà nào và chủ nhà có mối liên hệ với ông Sắc ra sao? Gia đình ông Sắc ở lại đó trong bao nhiêu ngày(?). Điều chúng ta có thể nghĩ đến: một gia đình bốn người ở trọ trong nhà một người quen chắc chắn không thể ở lâu được. Nhà cửa lúc ấy chật hẹp, cho dù tấm lòng của người chủ có rộng đến mấy cũng không dung nỗi một đám khách đông đến thế! Hơn nữa, theo lời người xưa kể lại, lúc ông Sắc đến thuê gian nhà ở đường Đông Ba (đã trình bày ở chương trước) hai anh em Khiêm, Cung còn rất bỡ ngỡ với cảnh quan trong Thành Nội. Điều đó chứng tỏ thời gian ông Sắc ở trọ trong nhà người bạn đồng hương không lâu. Những kỷ niệm sâu sắc của Huế còn lưu lại trong tâm hồn cậu bé Nguyễn Sinh Cung có lẽ đã gắn liền với đường Đông Ba.

Ổn định nơi ăn chốn ở xong, hằng tháng vào những ngày quy định ông Sắc lên làng An Ninh dự các buổi bình văn hay nghe các ông đại thần giảng sách Thượng thơ hay Trung dung tại trường Giám.

Phần lớn các sĩ tử Nghệ An vào Kinh học Giám ai cũng có làm thêm nghề phụ như nghề Y (thầy thuốc), Nho (dạy học), Lý (thầy địa), Bốc (thầy bói). Ông Sắc cũng thế. Ngoài thời gian ôn tập, ông cũng nhận dạy dăm cậu học trò. Những người có tiền thuê ông Sắc dạy xuất thân trong các nhà quan hoặc Hoàng phái. Bà Mai thị Vàng - Đức phi của vua Duy Tân (dâu vua Thành Thái) (17) nhiều lần cho tôi biết:

- “Mẹ chồng tôi là bà Nguyễn Thị Định thường kể rằng: Thuở hàn vi vào Huế học để thi Hội, ông Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của ông Nguyễn Ái Quốc hay đến nhà ông Kiêm (18) để dạy học. Ông Sắc là người tốt bụng, rất cương nghị. Thấy ông Sắc sống quá đạm bạc, nhiều lần cô tôi muốn giúp đỡ, nhưng đều bị ông từ chối. Gia đình tôi rất mến đức độ của ông nên xem ông như một người thân. Khi ông đã vào Nam kỳ, con trai của ông sang Pháp, người con gái là bà Nguyễn Thị Thanh nhớ mối tình cảm của cha xưa nên bà hay ghé lại thăm ngôi nhà cũ của cô!”.

Qua lời thuật của bà vợ vua Duy Tân khiến tôi nhớ đến một đoạn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

Huế là nơi Bác đã ở trong những ngày thơ ấu và buổi thiếu thời.

Vào những năm thế kỷ trước, khi còn là một cậu bé đầu để trái đào, Bác đã tới Huế với gia đình. Cụ Phó bảng ngày đó mới thi đỗ. Cũng tại đây, năm 1900 cậu Cung đã chứng kiến những phút cuối cùng của bà mẹ. Sau khi mẹ mất, cậu Cung trở về Nam Liên.

Năm năm sau, trở lại Huế, cậu Cung đã trở nên anh thanh niên Nguyễn Tất Thành.

  (...)

Ở đây, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành bắt đầu ra đi chặng “đường muôn dặm”.

Trước ngày tôi tới Huế một tháng, anh Lê Văn Hiến cũng được Chính phủ phái vào Nam công tác, đã qua Huế. Theo lời căn dặn của Bác, anh Hiến đã tới thăm bà Thành Thái và bà Duy Tân.

Hai bà vợ của những ông vua nhà Nguyễn bị thực dân Pháp truất phế, rất bất ngờ và cảm kích trước sự quan tâm của Hồ Chủ tịch. Bà Thành Thái nói từ khi Chính phủ ta lên, hằng ngày tụng kinh, bà đã thay những lời cầu chúc cho Hoàng tộc bằng lời cầu chúc cho Chính phủ cụ Hồ. Người con dâu của bà, vợ vua Duy Tân, nói là từ ngày chồng bị Pháp đưa đi đày đến giờ, bà không được Hoàng tộc nhòm ngó tới” (19).

Phải chăng trong những ngày đến nhà ông Kiêm dạy học, tiếp xúc với người cô ruột vua Thành Thái, ông Sắc đã bắt được những tín hiệu chống Pháp của vua Thành Thái? Và phải chăng, từ buổi thiếu thời cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã được cha kể cho nghe một hành vi, một cử chỉ chống Pháp nào đó của vua Thành Thái? Và chính hành vi ấy đã lưu lại trong tâm khảm cậu bé xuất chúng mang tên Cung một chút cảm tình dành cho vua Thành Thái chăng!

*

*      *

Ông Sắc có hoa tay, viết nhanh và viết đẹp. Cho nên ngoài việc dạy học, ông Sắc còn nhận chép bài thuê. Lúc ấy việc in ấn còn khó khăn, phần lớn bài học, học sinh phải chép tay. Nhiều cậu tôn, cậu ấm vì bị cha mẹ ép, phải học, nhưng lại nhác chép bài. Các cậu thường thuê các ông đồ Nghệ chép bài vừa rẻ lại vừa đẹp. Tài viết chữ đẹp của ông Sắc có một lai lịch rất cảm động.

Nguyễn Sinh Sắc là con ông Nguyễn Sinh Nhậm và bà Hà Thị Hy (vợ thứ). Năm lên bốn tuổi Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ, cậu phải sống nhờ gia đình ông Nguyễn Sinh Thuyết - người anh cùng cha khác mẹ với Sắc. Vì gia đình anh nghèo, Sắc phải lao động rất sớm để kiếm miếng ăn. Hết việc cấy hái thì chăn trâu chăn bò, hết việc đồng án đến việc vườn tược, việc nhà. Bốn mùa tám tiết ít khi đôi tay Sắc được nghỉ ngơi. Một chữ nhất không biết thật khổ thân. Lúc nhỏ ở làng Hoàng Trù bên cạnh có ông Tú Hoàng Đường không những nổi tiếng là một thầy đồ dạy học giỏi mà ai cũng biết tiếng ông là một người có đức độ cao. Những khi thả trâu qua ăn cỏ làng Hoàng Trù, Sắc thường ngấp nghé ngoài cửa nhà học lắng tai nghe cụ Tú giảng bài bên trong. “Thông minh vốn sẵn tính trời”, những gì ông Tú dạy Sắc nghe lóm được và thuộc cả. Học trò biết được đều lấy làm lạ bèn đem kể với thầy. Ông Tú cũng ngạc nhiên. Một hôm ông Tú thấy Sắc ngấp nghé ngoài cửa, ông gọi vào hỏi chuyện. Ông hỏi gì Sắc cũng đáp lại một cách lễ độ, rành rẽ. Điều đó làm cho ông đồ không có con trai này xúc động. Sau đó ông sang làng Sen-gặp ông Nguyễn Sinh Thuyết, nói:

- “Sắc là người thông minh rất ham học. Nếu được dạy dỗ cậu ấy cũng Hương, Hội với người ta chứ không phải thua ai đâu! Sắc không được đi học tiếc quá! Vậy chú có muốn tôi nuôi dạy cho Sắc học không?”

Ông Thuyết vốn rất thương em, muốn em biết được năm ba chữ Thánh hiền để biện bát với người ta, nhưng khổ một nỗi là nhà nghèo, chị dâu không muốn cho em chồng đi học. Nay được nghe ông Tú nói thiệt hơn như thế, ông Thuyết rất mừng.

- “Nhưng ông cũng nghèo quá lấy gì nuôi cháu được?”

- “Không sao - ông Tú giải thích - Sắc ở nhà giữ trâu bò, cày bừa vườn tược cho anh, về nhà tôi cậu ấy cũng phải làm việc để kiếm ăn. Chỉ khác một điều là khuya sớm nghỉ việc tôi dạy cho Sắc học. Với trí thông minh sẵn có, cậu ấy chỉ học như thế cũng hơn người ta rồi!”

Ông Thuyết đồng ý. Thế là Sắc rời làng Sen ôm áo quần sang làng Hoàng Trù. Cuộc đời Sắc cũng thay đổi từ ấy.

Ở Hoàng Trù, trước khi Sắc đi lao động, anh thường được ông Tú gọi lại bảo xăng tay áo bên phải lên ông viết cho một đoạn Tam Tự Kinh chừng bốn năm hàng dọc cánh tay. Cánh tay phải trở thành trang giấy học trò, mọi việc Sắc phải làm bằng tay trái. Cậu tập viết trên mặt đất phẳng cũng bằng tay trái. Lúc cậu bắt đầu học sang sách Tứ Thư, cậu được học bài trong sách, cánh tay phải được “giải phóng’ khỏi chức năng trang giấy học trò. Lúc ấy Sắc bắt đầu tập viết bằng tay phải thì tay trái của cậu đã viết được khá đẹp rồi. Lúc trưởng thành Sắc có thể viết được cả hai tay (20).

Cô cháu dâu của ông Cao Xuân Dục - bà Hồ Thị Hạnh (tức Sư bà Diệu Không sau này) đã từng thấy vết tích chữ viết “rồng bay phượng múa” của Nguyễn Sinh Sắc còn để lại trên vách tường bộ Học trong những năm 20 của thế kỷ này.

Khổ công luyện tập, khi viết được giỏi thì mừng chứ có lẽ ông Sắc không bao giờ nghĩ rằng có một ngày nào đó ông lại dùng cái “tài hoa” ấy để đi viết thuê kiếm ăn! Ông Sắc đem gia đình vào Kinh được hơn một năm, đầu năm 1897, người bạn đồng song, đồng học của ông là Phan Văn San bị can án “hoài điệp văn tự nhập trường” (21) cũng vào Huế dạy học trong nhà ông Võ tại làng An Hòa. Phan Văn San được trí thức Huế rất kính nể, nhất là khi họ hay tin ông là tác giả bài phú nổi tiếng Bái thạch vi huynh (22).  

Gặp được bạn thân như thế giữa chốn Kinh thành xa lạ cảm động biết chừng nào! Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền rất tán thưởng câu văn của ông Phan Văn San: “Bất như ý thường bất cửu sự, sầu sinh liêm ngoại Tây phong; Hỗn thiết xuy ư tam bách nhân, quý tử môn tiền Nam Quách” (23). Là bạn thân của Phan làm sao Nguyễn Sinh Sắc không thổ lộ lòng ngưỡng mộ của mình với ông Phan mỗi khi ông Phan đến thăm tại ngôi nhà thuê ở đường Đông Ba? Và có lẽ không ai hiểu một cách sâu sắc tâm trạng của ông Phan qua bài thơ này bằng ông Nguyễn Sinh Sắc:

“Vào Thành ra cửa Đông:

Xe ngựa chạy tứ tung

Vào Thành ra cửa Tây:

Sa gấm rực như mây.

Vào Thành ra cửa Nam:

Aïo mũ đỏ pha chàm.

Vào Thành ra cửa Bắc:

Mưa gió đen hơn mực

Dạo khắp trong với ngoài:

Đàn địch vang tai trời.

Đau lòng có một người!

Hỏi ai? Ai biết ai?” (24)

Đối với ông Sắc, ông Phan là bạn đồng hương, đồng học và đồng song; đối với bà Loan thì ông Phan là một tài tử đã quen nhau trong bao lần đi Hát Dặm ở quê nhà. Nếu bạn đọc đã có một lần đọc tài liệu hoặc về thăm làng Sen, chắc các bạn đã từng nghe nói tới hai cô gái cụ Hoàng Đường là bà Loan và bà An. Hai cô đếu hát hay, có tài “bẻ chữ” làm cho nhiều bậc mày râu phải sững sờ. Đến nay người ta vẫn còn truyền miệng câu chuyện này:

Hôm ấy hai ông Tú San (tức Phan Bội Châu) và ông Hoe Ba làng Bố An vế tham dự Hát Dặm ở làng Hoàng Trù, nhưng hai ông cố giấu tên để cho buổi hát được tự nhiên. Nhưng không ngờ đến lúc hát người ta nghe bà An cất giọng:

Đàng xa em đã ngóng chừng

Nhìn trăng nhớ tán, trông rừng nhớ hoa

Hai ông hiểu ngay “Tán là tán su nói lái lại là Tú San. Hoa là hoa be nói lái lại là Hoe Ba”, hai ông giật mình:

- “Ấy chết, cô ấy đã xướng danh mình rồi.”

Câu hát ý nhị mà bà An vừa sáng tác có sự đóng góp của bà Loan. Hai ông không giấu nổi sự ý nhị của hai người con gái ông Hoàng Đường.

Câu chuyện ấy nếu không được nhắc lại thì nó cũng trổi dậy trong lòng ông Phan khi cụ gặp lại bà Loan giữa chốn Kinh kỳ này. Đối với bà Loan chắc cũng thế. Giữa lúc bà Loan đang nhớ mẹ, nhớ con gái còn ở quê nhà, gặp được người cùng quê thân thương, khả kính bà mừng rỡ vô cùng. Tuy vậy bà cũng không vồ vập một cách nồng nhiệt. Xưa nay bà nổi tiếng là một người đàn bà điềm đạm hay làm chứ không hay nói. Ông Phan đến nhà chơi, bà bảo con đi mua một cốc rượu để chồng mời bạn, còn bà sau mấy câu chào hỏi khách lại lui về với khung cửi dệt vải. Tiếng thì thầm nóng bỏng của hai ông Phan Nguyễn nói về quê hương đất nước vẳng đến tai bà, bà đều hiểu hết. Nhưng đó là việc của đàn ông. Có lẽ lúc ấy bà chưa thoát được quan niệm thường tình của đa số phụ nữ Việt Nam - việc nước là việc của đàn ông, đàn bà chỉ có canh cửi, làm sao cho chồng con có đủ điều kiện ăn học là bà đã mãn nguyện rồi.

Cái hơi ấm thân mật của tình bạn, tình đồng hương, đồng song giữa gia đình ông Sắc và ông Phan đã lan tỏa đến hai người con trai ông Sắc. Phải chăng sự mến phục lòng yêu nước của ông Phan trong lòng Nguyễn Ái Quốc sau này đã bắt nguồn từ đó?             


(1) Thân sinh của nhà văn Huy Phương ngày nay.

(2) Hồ Chí Minh Toàn Tập, Tập I, Sự Thật. Hà Nội, 1980, tr.543.

(3) Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá Sử cương, Bốn Phương tái bản, Sài Gòn, 1951, tr.76.

(4) Quốc Sử Quán, Đại Nam nhất Thống chí tập Thừa Thiên (thượng) Nha văn hóa Bộ QGGD Sài Gòn 1961, tr.107.

(5) Quốc Sử Quán, Sđd, tr.135-136.

(6) Những mẫu chuyện về Thời niên thiếu của Bác Hồ, Ban NCLS Đảng tỉnh ủy Nghệ An, Sự Thật. Hà Nội, 1980, tr.16 trở đi .

(7) Các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu.

(8) Các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu.

(9) Ai đỗ cao là Cử nhân, ai đỗ thấp làTú tài.

(10) Ai đỗ cao là Tiến sĩ (người đỗ đầu là Hoàng giáp), ai đỗ thấp ghi tên vào bảng phụ bên cạnh gọi là Phó bảng.

(11) Theo Đại Nam Nhất Thống chí; Thừa Thiên phủ, tập thượng, tr.37.

(12) Võ Quang Sự, Tuổi thơ của Bác Hồ ở làng Dương Nổ, tập san Văn Hóa BTT, số Xuân năm 1979, tr.16.

(13) Xem Quốc Triều Đăng Khoa Lục.

(14) Đại Nam Nhất Thống Chí, tập Kinh sư, tr.80.

(15) Vĩnh Nhân, Trường Quốc tử giám Kinh đô Huế, Văn Hóa Nguyệt san, Sg, số Xuân Nhâm dần.1967, tr.1650/14 .

(16) Hiện nay là khuôn viên trường PTCS Thuận Thành.

(17) Bà được vua Duy Tân cho về sống với cha mẹ tại Hậu thôn làng Kim Longû và bà qua đời vào năm 1979.

(18) Tức ông Diệp Văn Cương chồng bà Thiện Niệm - cô của vua Thành Thái. Ông Cương làm việc cho Nam triều, kiêm luôn việc Bảo hộ nên thường gọi là ông Kiêm.

(19) Võ Nguyên Giáp, Những Chặng Đường Lịch Sử, Văn Học, Hà Nội, 1977, tr.325-326.

(20) Thuật theo Thanh Tịnh

(*) Trong việc kiếm sống, ông Nguyễn Sinh Sắc đã đi làm thục sư cho nhiều gia đình quí tộc ở Huế. Bà Lương Linh - Công chúa con vua Thành Thái (thường gọi Mệ Sen) nhiều lần kể với tôi “ Ông Nguyễn Sinh Sắc từng làm thục sư trong các gia đình bà con của vua Thành Thái. Nhưng rất tiếc những người đã học với ông Nguyễn Sinh Sắc nay (1980) không còn ai. Năm 1920, khi lập bộ Hồ sơ chính trị của Nguyễn Ái Quốc, một mật văn của Thanh tra Mật thám Trung Kỳ, đề ngày 23-1-1920 (Tài liệu số 11) gởi cho Ngài Công sứ ở Vinh, thanh tra S.C.R và S.G Hà Nội, thanh tra S.C.R và S.G Nam Kỳ Sài Gòn và Công Sứ Quảng Ngãi cho biết: “Nguyễn Sanh Huy đã từng là thầy dạy Hán tự ở nhà Bà Kí (chị cả của Dục Đức, cô ruột của vua Thành Thái NĐX), phụ nữ ly hôn của Diệp Văn Cương ở Sài Gòn. Nguyễn Sanh Huy đã dạy học cho con trai ông này tên là Diệp Văn Kỳ, hiện (1920) là nhà báo ở Sài Gòn. Nguyễn Sanh Huy chỉ được nuôi ăn ở nhà bà Kiêm nhưng không lãnh 1 đồng lương nào”.

Vậy ông Diệp Văn Cương là ai? Nơi ông Sắc (tức Huy) đến ngồi dạy con ông Diệp Văn Kỳ ở đâu? Năm 1965, tôi được theo thầy Vương Hồng Sển đi thăm các nơi lưu niệm ở Huế và được thầy cho biết: Sau ngày Thất thủ Kinh đô, vua Hàm Nghi xuất bôn, vua Đồng Khánh được người Pháp đưa lên ngôi và đưa một tri thức Công giáo là Trương Vĩnh Ký từ Nam Bộ ra Huế làm tham biện và làm thầy dạy vua. Sau mấy năm, Trương Vĩnh Ký đã giúp cho vua Đồng Khánh làm được nhiều việc tiếp tay cho Pháp bình định nước Nam nhưng không may sau đó “người tri ngộ của Trương Vĩnh Ký là Toàn quyền Paul Bert từ trần“, họ Trương biết mình không làm được gì nữa đành xin rút lui, nhường vai tuồng sư phó cho một người cũng gốc trong Nam, là ông Yên Sa Diệp Văn Cương. Ông này sanh hạ tại An Nhơn (Gia Định) nên lấy biệt hiệu là Yên Sa. Ông vốn hàn vi xuất thân, nhờ học giỏi xuất chúng nên Tây gởi qua học bên Alger, vì cho rằng người Nam, sanh nơi xứ nóng, học bên Pháp sẽ bất phục thuỷ thổ. Học thành tài, ông đỗ bằng Tu tài đôi, gọi theo Pháp thời đó là double bachelier. Ông đã có sẵn một học lực vữîng chắc về Hán học, nên được bổ nhiệm thay ông Trương Vĩnh Ký làm thầy dạy vua Đồng Khánh và làm rể Thoại Thái Vương. Nhà ông Diệp hồi ấy, nay còn lại bức bình phong trước Phủ Nghi quốc công - nhạc trượng của vua Khải Định, nơi góc đường Nguyễn Du và đường Võ Tánh Huế (nay là đường Nguyễn Chí Thanh nối đầu phía bắc của cầu Đông Ba. NĐX). Nhắc lại sự kiện này để thêm một dữ kiện về mối quan hệ giữa gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh và gia đình vua Thành Thái, gia đình họ Diệp hồi đầu thế kỷ XX.

(21) Mang tài liệu vào trường thi.

(22) Lạy đá làm anh. Bài phú đưa đến mối tình đồng chí giữa ông Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền và nhà yêu nước Phan Bội Châu.

(23) Dịch nghĩa: Bất như ý việc đời mười đến chín, buồn đưa bởi gió phương Tây. Chen tiếng địch với ba trăm người hổ thẹn, kém gì Nam Quách. Tự Phán, tr.24.

(24) Trích lại của Thái Văn Kiểm, Cố Đô Huế, Nha VH, Bộ QGGD xb, Sài Gòn 1960, tr.223.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123