Chương 1: Ngôi nhà cũ đường Đông Ba

Sau chín năm xa cách, một buổi trưa mùa hè năm 1975, tôi trở về nhờ một chuyến chuyên cơ từ Hà Nội vào Huế. Trong những năm kháng chiến nhiều lần tôi đã ngồi ở nguồn Tả nguồn Hữu Trạch mà gửi nỗi nhớ của mình về sông Hương. Vì thế lúc về đến Huế, tôi ra sông tắm ngay. Dòng nước đã trải qua nhiều bờ bãi Thach xương bồ thơm thơm, mát dịu thấm vào da thịt tôi. Nước sông Hương giúp tôi giũ được đất bụi đường dài kháng chiến và thức dậy trong tôi những mơ ước hòa bình. Tôi vội vàng đi thăm một vài người bạn thân rồi mượn một chiếc xe đạp, đạp vào Thành nội cũng có nghĩa là đạp vào dĩ vãng bí mật đang muốn vỡ tung ra trong tim tôi.

Trong thời gian ngắn ngủi ở Hà Nội - cuối năm 1974, tôi đã đọc được tác phẩm văn vần viết về thời niên thiếu của Bác - cuốn Đi Từ Giữa Một Mùa Sen (1) của Thanh Tịnh. Những câu văn vần giàu hình tượng, ngọt lịm đính ngay vào ký ức tôi. Suốt một thời gian trí tưởng tượng của tôi bị căng ra để hình dung mấy câu văn vần Thanh Tịnh viết về Ngôi nhà đầu tiên của gia đình Bác Hồ ở trong Thành nội Huế:

“Ăn nhờ ở đậu lân la

Mới thuê được một gian nhà hướng Nam.

Xế hiên một gốc mai vàng

Trước sân bông bụt một hàng dậu thưa

Bên này nhà chú thợ cưa

Bên kia nhà một viên Thừa bộ Binh

Dãy nhà gian ngói, bếp tranh

Chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông Ba” (2)

Những câu văn đó cứ lấp lánh trong tâm trí tôi. Tôi đến xóm nhà trườc Viện Đô Sát (đã sửa chữa lại thành trường Đoàn Thị Điểm) - nơi, theo Thanh Tịnh, gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc đã ở nhờ trước khi mướn được nhà riêng (khi cụ mới đưa gia đình vào Huế). Khởi đi từ đó tôi dắt xe đi ngược đường Đoàn Thị Điểm về phía Nam. Đi một đoạn tôi rẽ vào đầu đường Mai Thúc Loan (trước kia là đường Đông Ba) cho đúng với cái hướng “Chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông ba”. Con đường ấy đối với tôi có biết bao kỷ niệm. Để có đủ cơm ăn học thi Tú tài hai tôi đã đến làm gia sư trong một gia đình công chức trên đường phố này! Con đường quen thuộc trải dưới chân tôi tắm trong ánh nắng đỏ rực. Cờ cách mạng cắm hai bên đưòng phố như những cành phượng vĩ nghiêng xuống trang điểm cho con phố cũ. Tôi đến từng số nhà, dùng ký ức để tìm ra những người chủ xem thử còn ai biết được chuyện cũ năm xưa không? Tôi dán mắt vào những tường gạch, mái ngói trát vôi ghi dấu ấn của cái thời xi-măng chưa xuất hiện với một nỗi hy vọng náo nức tìm ra ngôi nhà thời thơ ấu của Bác.

Tôi vào thăm hỏi một vài cụ già râu tóc bạc phơ, các cụ bảo khó quá, đường Đông Ba đã đổi thành đường Mai Thúc Loan từ lâu và các dãy nhà đã đổi chủ đến ba bốn lần.

Không có một tia hy vọng nào để tìm ngôi nhà Thời niên thiếu của Bác Hồ hé ra trong cái buổi chiều đầu tiên sau khi tôi trở về Huế ấy! Nhưng tôi không hề khó chịu, vì lồng ngực tôi hôm ấy đang căng đầy nỗi mừng vui thống nhất quê hương.

Thời gian sau đó tôi lại tiếp tục dắt xe đi trong cái hướng “chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông ba” ấy và tìm mọi cách vô hỏi chuyện từng gia đình. Sổ tay tôi ghi chép được biết bao điều mới lạ, nhưng vẫn chưa tìm được ngôi nhà Thanh Tịnh mô tả nêu trên.

Tôi miệt mài làm việc như thế trong nhiều năm.

Một hôm nghe tin nhà văn Thanh Tịnh về thăm quê và ở lại trong nhà một bà chị gần chợ Vỹ Dạ tôi tìm đến thăm và hỏi chuyện anh:

- “Trong tác phẩm Đi Từ Giữa Một Mùa Sen anh có mô tả ngôi nhà gia đình Bác Hồ thuê ở hướng “Chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông Ba”, vậy ngôi nhà đó ở đâu xin anh chỉ hộ?”.

Nhà văn Thanh Tịnh nhìn tôi xuýt xoa:

- “Hồi kháng chiến chống Pháp tôi và anh Hoài Thanh về thăm quê Bác nghe cô Thanh - chị Bác và ông cả Khiêm - anh Bác, kể chuyện rồi tôi viết như thế chứ tôi chưa biết đích xác là ngôi nhà nào. Đúng là ngôi nhà đó ở trên đường Đông Ba, lần này về tôi cũng có ý định đi tìm đây!”.

Niềm hy vọng bỏng cháy trong tôi bắt đầu hạ nhiệt độ. Phải chăng Thanh Tịnh đã “hư cấu” nên ngôi nhà ấy? Không thể như thế được. Thanh Tịnh là một nhà văn rất có trách nhiệm với ngòi bút của mình. Hơn nữa viết về Bác lẽ nào Thanh Tịnh lại nói mà không có cơ sở!

Sau một thời gian “đi lại” với con đường Đông Ba cũ, tôi phát hiện thấy mình đã “phải lòng” con đường này. Những lúc bận quá không “gần gũi” nó được tôi cảm thấy buồn. Cuối cùng để tiện việc, tôi đã dọn nhà sang ở tại 108 Mai Thúc Loan để hằng ngày tôi có thể lắng nghe cái âm thanh rộn rã của nó hay lúc nó lặng lẽ trầm ngâm, để tôi được hít thở cái không khí ngày xưa Bác đã thở, để tôi ngắm mảnh trăng trên khoảng trời trong năm xưa Bác đã ngắm và tôi có thể dành hoàn toàn thời giờ rảnh rổi - dù chỉ một tiếng đồng hồ - để “la cà” bắt mối hỏi chuyện cũ.

Thấy tôi say sưa tìm tòi trong sự thiếu thốn mà chưa tìm được một manh mối nào, có người khuyên tôi nên chọn viết một đề tài khác để có thể kiếm sống được. Tôi tìm mọi cách để tự động viên mình đừng buông xuôi theo lời khuyên chân tình ấy. Để cho những người thật tình với mình khỏi ái ngại, tôi thường đáp:

- “Không sao, nếu chưa tìm được tài liệu về thời thơ ấu của Bác để viết thì tôi sẽ viết về tình cảm của tôi trong những ngày “phiêu lưu” này!”

Một hôm ra Hà Nội công tác tôi gặp anh Đào Thế Hùng ở nhà xuất bản Ngoại Văn, nghe tôi muốn tìm hiểu về Bác, anh Hùng cho tôi mượn tờ báo Le Courrier du Việt Nam (số 46 năm 1976) có đăng bài Les Années de l’Enfance de l’Oncle Ho à Hué của Sơn Tùng. Đọc cái “tít” bài báo tôi mừng rơn. Bài báo ghi lại hồi ức của bà Công Tôn nữ Huệ Minh (?) về người bạn thông minh, hóm hỉnh của bà tại đường Đông Ba Huế. Tôi đọc kỹ bài báo thì thất vọng, những “thông tin” trong ấy chung chung quá không thể kiểm chứng được. Các anh trong Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Bình Trị Thiên cũng đồng ý với tôi như thế. Cuối cùng bài báo chỉ còn đọng lại trong tôi cái tên “Công Tôn nữ Huệ Minh” - theo Sơn Tùng là tên người bạn thân tình buổi thiếu thời của Bác.

Công Tôn nữ Huệ Minh là người Hoàng phái. Theo cách đặt chữ lót của Nhà Nguyễn thì: con gái vua (hoàng nữ) lúc hạ giá (tức lấy chồng) được một ông quan tước Công làm chủ hôn nên gọi là công chủ, đọc trại ra là công chúa; con gái một ông hoàng (tức cháu nội gái của một ông vua) là Công nữ; cháu nội gái một ông hoàng (tức chắt nội một ông vua) là Công tôn nữ, tiếp theo là Công tằng tôn nữ, Công huyền tôn nữ (3). Như thế bà Công Tôn nữ Huệ Minh mà Sơn Tùng đã gặp (?) phải là cháu nội một ông hoàng nào đó. Theo tác giả đầu thế kỷ XX bà Huệ Minh đã trên 10 tuổi. Tôi làm một bảng thống kê và loại dần những ông hoàng con các ông vua sau Tự Đức, tôi thấy nếu có bà Huệ Minh thì bà phải là chắt nội vua Minh Mạng hoặc vua Thiệu Trị (vua Tự Đức không có con nên không tính). Có được cái kết luận thứ nhất này tôi tìm đến gặp các cụ Hoàng phái con cháu thuộc các hệ nhì chánh (Minh Mạng) và hệ tam chánh (Thiệu Trị) nhờ họ dò trong gia phả các hệ ấy có ai tên là Công tôn nữ Huệ Minh lưu lạc vào đồng bằng Nam bộ không? Thấy tôi tha thiết muốn biết, các vị ấy đã tích cực tìm giúp tôi. Sau một thời gian tra cứu các vị ấy trả lời là “không có một người nào mang tên ấy và lưu lạc vào Nam bộ như thế cả” (4). Mãi đến mùa hè năm 1979 tôi cùng nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba lên thăm một gia đình chắt nội Tương An quận vương (5) để tìm tư liệu về ông Hầu Biều - một nghệ sĩ đàn Huế xuất sắc hồi đầu thế kỷ XX. Nhân thể tôi hỏi người chắt nội Tương An:

- “Trong gia đình bác có người nào mang tên Huệ Minh là bạn thuở thiếu thời với Bác Hồ ở Huế không?”.

Người chắt nội Tương An đáp một cách bất ngờ rằng:

- “Các bà, các cô của tôi không ai có tên là Huệ Minh cả. Nhưng tôi có một bà cô tên là Ưng Lệ là bạn hàng xóm của Bác Hồ thuở xưa!”.

Tôi thích thú quá nhưng cứ nghĩ là tai mình nghe nhầm, tôi phải hỏi đi hỏi lại nhiều lần và tôi được nghe người chắt nội của Tương An kể thêm gốc ngọn như sau:

- “Lúc sinh thời cô tôi lấy chồng xa, nhưng không có con, nên khi lớn tuổi bà về Huế sống với ông anh là nhạc sĩ Hầu Biều. Tôi chỉ thấy cô vui mỗi lần ngồi nghe anh đàn. Đầu năm 1926, cụ Phan Bội Châu vừa bị Pháp bắt về an trí ở Huế cho biết nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động yêu nước ở bên ngoài là con trai thứ của cụ Phó bảng Sắc - người đã sinh sống nhiều năm trong Thành nội Huế. Bà Đạm Phương nữ sử đưa cái tin ấy đến tai cô tôi. Lần đầu tiên tôi được nghe cô tôi nói với cái giọng vui vui rằng: “Lúc nhỏ ông Quốc ấy là bạn của cô đó. Ông ta nghịch ngợm và hóm hỉnh lắm!”

Không để cho người cháu bà Ưng Lệ kể hết, tôi hỏi tắt ngang:

- “Xin lỗi, thế thì ngày xưa nhà của bà Ưng Lệ ở đâu trong Thành nội ấy?”

- “Ở đường Đông Ba, bây giờ là số nhà 106 Mai Thúc Loan đó!”

Thật là một sự trùng hợp hết sức kỳ lạ. Cái nhà của ông Hầu Biều (anh ruột bà Ưng Lệ) ngày xưa chính là cái nhà ở sát cạnh nhà tôi ngày nay (1978). Tôi tự thầm khen mình là người rất có duyên trong sự lựa chọn nhà ở này (108 Mai Thúc Loan). Tôi hỏi tiếp:

- “Thế chú có nghe bà kể ngày xưa nhà của Bác Hồ ở đâu không?”

- “Rất tiếc lúc đó tôi còn nhỏ nên không dám hỏi?”

*

*    *

Những điều người cháu bà Ưng Lệ kể qua kiểm chứng tôi thấy đều đúng cả. Đó là những hạt “bụi vàng” quí giá, nhưng chúng chưa thỏa mãn được điều tôi đang tìm.

Trở lại đường Mai Thúc Loan, tôi đứng tần ngần trước dãy cửa bàn khoa căn nhà cũ của người bạn gái buổi thiếu thời của Bác. Nhà bạn của Bác ở đây còn nhà Bác ở đâu? Câu hỏi ám ảnh tôi mãi. Tôi nhớ lại cái tuổi lên chín lên mười cực nhọc của mình ở Đà Lạt, tôi quan sát mấy đứa con người bạn tôi đang ở trong nhà, tôi thấy rằng cái tuổi ấy - bọn trẻ chỉ làm bạn - nhất là bạn gái, với những người ở gần nhà mà thôi. Mà nhà cửa trong Thành Nội hồi xưa thưa thớt không ở sát cạnh nhau như bây giờ nên không thể tính theo số nhà hiện có, mà phải tính bằng tiếng gọi. Khi cần mời bạn qua ăn cơm nguội có thể đứng ở nhà mình ơi một tiếng bạn có thể nghe và sang được. Tôi cho rằng nhà của Bác năm xưa ở loanh quanh đâu chỗ nhà bà Ưng Lệ đây thôi. Tôi giở sổ tay xem lại, để nghiên cứu sâu thêm về những ngôi nhà lân cận nhà bà Ưng Lệ. Những người chủ cũ phần nhiều là quan lại triều Nguyễn. Nhà nào cũng ghi dấu trong lòng dân chúng những chuyện không thể nào quên. Chuyện vui nhất là chuyện của ông Tiền quân Đô thống Phủ Đô thống Lê Bá - nhà ông ở ngay ngã tư Anh Danh, cách nhà bà Ưng Lệ chừng 50 mét. Ông này dù làm quan võ to nhất nhì trong Triều nhưng ông nổi tiếng là người sợ vợ. Người Huế nghe đến tên ông Lê Bá râu quặp không ai là không bật cười.

Nhờ những chuyện vặt vảnh ấy mà tôi bớt nãn chí. Đồng thời, nếu sa vào những chuyện vặt ấy tôi có thể lạc hướng nghiên cứu. Chút ánh sáng loé lên từ người chắt nội Tương An bỗng mờ đi trong tôi.

Một buổi sáng Chủ nhật nằm trên căn gác gian nhà 108 đường Mai Thúc Loan nhìn cái lầu nhà bà Ưng Lệ - nơi ông Hầu Biều hay ngồi đánh đàn năm xưa, tôi sực nhớ đến một chi tiết trong bài báo “Một Gia Đình Đẹp” (6). “Cụ Nguyễn Sinh Huy (tức Sắc) đã từng làm Thừa biện bộ Lễ”. Tôi nẫy ra ý nghĩ: “Ông Huy làm Thừa biện bộ Lễ dưới triều Thành Thái. Thượng thư bộ Lễ lúc ấy là ông Lê Trinh.Ông Huy là người có tài, có khí tiết, đỗ đại khoa và không thích cuộc đời làm quan nộ lệ, lẽ nào ông Lê Trinh không chú ý đến ông?  Mà khi ông Lê Trinh đã chú ý đến thì chắc chắn ông sẽ kể chuyện cụ Phó bảng với con cháu trong gia đình. Thế thì nên tìm đến nhà họ Lê.

Sáng hôm đó tôi nhờ ông Nguyễn Phú Phu (trên 90 tuổi) - bạn vong niên của ông nội tôi, nhà ở đường Ngô Sĩ Liên (bên cạnh Hộ Thành cũ) hướng dẫn, tôi tìm được nhà họ Lê núp sau một dãy phố hẹp cũ kỹ ở ngay trước đồn Hộ Thành (nay là trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ). Ngôi nhà rường ba gian hai chái lợp ngói âm dương lặng lẽ đứng ngắm cái sân rộng có bể cá, hòn non bộ và nhiều loại cây ăn trái nổi tiếng. Ngôi nhà xây lưng lại với dãy phố nên nó còn giữ được hầu như nguyên vẹn cái dáng dấp cuối thế kỷ trước. Trong ngôi nhà bày biện tràng kỹ, liễng, trướng óng ánh xa cừ và vàng thếp. Tôi chú ý nhất là chiếc ảnh lớn để trên bàn thờ chụp sáu ông đại thần đội mũ cánh chuồng, mặc đại bào (7).Tôi gặp ông Lê Du (trên 90 tuổi) - con trai thứ ông Lê Trinh. Ông Du lãng tai, tôi lấy giấy bút viết mấy dòng đưa yêu cầu cho ông, ông đáp:

- “Ngày xưa ông tôi hay nhắc đến ông Phó bảng luôn. Chúng tôi cũng có gặp Bác Hồ lúc nhỏ. Khi cô Thanh bị mật thám Pháp đưa về an trí ở gần Hộ Thành, cô cũng hay vô ra đây chơi. Anh muốn biết cụ thể anh sang gặp Lê Xuyến (đã trên 75 tuổi) cháu đích tôn của ông tôi ở nhà thờ bên cạnh”.

Tôi sang gặp ông Lê Xuyến. Ông Xuyến bị huyết áp cao phải ăn nằm một chỗ. Ông quen biết tôi trong những năm tranh đấu ở đô thị miền Nam, nên bây giờ gặp lại, ông rất mừng. Nằm trong phòng tối gặp lại người quen, ông thú vị lắm và ông kể chuyện xưa với tôi bằng cái giọng rất nóng sốt:

- “Tôi thuộc lứa tuổi hậu sinh. Sở dĩ tôi biết được chuyện gia đình cụ Phó bảng là nhờ tôi may mắn được gần gũi ông nội tôi là cụ Lê Trinh và gần gũi với bà ngoại tôi là người chị em cô cậu với bà cụ Ba - người đã từng mời gia đình cụ Huy lúc cụ còn hàn vi về ở trong nhà mình”.

Tôi mừng quá - như vậy là “trúng số độc đắc” rồi! Không giấu được niềm vui tôi hỏi:

- “Thưa bác, vậy nhà bà cụ Ba ở đâu?”

Ông Lê Xuyến muốn nói cho có đầu có đuôi, bị tôi hỏi đâm ngang làm cho ông có vẻ mất hứng, tuy vậy ông vẫn chìu tôi. Tay ông chỉ về phía hàng rào chè tàu ở phía Nam ngôi nhà, miệng bảo tôi:

-  “Ở ngay ngoài phía hàng rào đó. Hồi trước chưa có dãy nhà phố đường Đông Ba, vườn nhà tôi thông với đường Đông Ba bằng một con đường đi ngang qua nhà bà cụ Ba!”.

Ông Lê Xuyến trông tôi có vẻ ngơ ngác chưa tưởng tượng được ngôi nhà nào, ông nghiên người rướn tới kéo cuốn sổ ghi chép trên tay tôi đặt xuống chiếu rồi giành lấy bút tôi vẻ một cái sơ đồ đường Đông Ba cũ. Ông đánh dấu vào gian sau ngôi nhà 112 Mai Thúc Loan rồi bảo tôi:

- “Ngôi nhà này đây. Sau khi bà cụ Ba bán lại cho ông Hường Nghĩa (thầy thuốc Tây y của vua Khải Định), ông Hường Nghĩa làm thêm một cái nhà lớn trước sân, nên ngày nay nó trở thành nhà sau. Vì thế mà người lạ không ai ngờ phía sau cái nhà tân thời như thế lại có một cái nhà cũ kỹ đến như thế! Khoản sau năm 1920, cô Thanh mới mãn hạn tù ghé về, chính tôi đã đưa cô ra thăm!”

Tôi ngạc nhiên:

- “Cô Thanh không biết ngôi nhà đó sao?”

- “Không biết - Ông Xuyến đáp - Khoản năm 1896 hay 1897 gì đó cụ Bảng còn hàn vi, cô Thanh chưa được theo cha mẹ vào Huế. Bà ngoại tôi kể ở trong gian nhà đó chỉ có ông bà Cử và hai người con trai thôi!”.

...

Người nghiên cứu Huế có cái thú là con người và sự việc rất gần nhau. Muốn “kiểm chứng” trên thực địa có thể thực hiện được ngay. Trưa hôm đó tôi đã có mặt trong ngôi nhà ông Xuyến chỉ (nó chỉ cách nhà tôi đang ở trọ chỉ hai gian phố). Chủ nhà là đồng chí lái xe Công ty chế biến lâm sản Bình Trị Thiên. Đúng như lời ông Xuyến kể, phía trước ngôi nhà là một cái biệt thự nhỏ có giàn hoa giấy màu tím rất thơ mộng (năm 1980 còn thuộc Công ty chế biến lâm sản BTT). Kiến trúc của ngôi nhà cũ rất đơn sơ. Cột, kèo, rui, mèn đều bằng gỗ quí đen bóng, nhưng không thấy một nét chạm trổ nào. Ngôi nhà mang tính đơn giản rất khác với các kiến trúc nhà quan quyền ta thường thấy trong Thành Nội. Ngay buổi chiều hôm đó, tôi nhờ ông Ưng Tuệ (trên 90 tuổi mà còn mạnh) đến xem xét và phát biểu về ngôi nhà trên. Ông Ưng Tuệ cho biết ngôi nhà trên đã có từ cuối thế kỷ trước. Cũng buổi chiều hôm đó tôi trở lại gặp ông Xuyến và được biết thêm: Bà Ba làm nhà này từ trước ngày Kinh đô thất thủ (1885). Bà có họ hàng với Đoàn Trưng - Đoàn Trực (những người cầm đầu cuộc biến động lật đổ vua Tự Đức năm 1866). Vì thế bà  rất lưu tâm giúp đỡ những người có khí tiết trong buổi cơ hàn.

Gian nhà sau 112 Mai Thúc Loan hiện nay (1980) có bốn yếu tố có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến gia đình Bác Hồ thuở trước như sau:

- Ngôi nhà được người cùng thời - như gia đình ông Lê Du chỉ dẫn;

- Nó nằm đúng vào cái hướng “chênh chênh nhìn hướng cổng thành Đông Ba” như Thanh Tịnh đã viết theo lời kể của bà Thanh và ông cả Khiêm;

- Nó lại nằm gần nhà một người bạn buổi thiếu thời của Bác (nhà 106 Mai Thúc Loan);

- Nhà được một người đồng thời am hiểu xác nhận là nhà làm từ cuối thế kỷ trước.

Với bốn yếu tố đó cho phép tôi có thể tin gian sau ngôi nhà 112 Mai Thúc Loan là nơi buổi thiếu thời Bác đã sống qua một thời gian. Nhưng vì đây là lần đầu tiên nói về một di tích cụ thể ở Huế có liên quan đến Bác, nó quan trọng quá nên không thể dễ dãi được. Ý nghĩ đó làm cho tôi phải dè dặt chờ cơ hội kiểm chứng thêm. Tôi đọc lại từng trang ghi chép, đánh dấu những chỗ thiếu cần bổ sung cũng như khai thác thêm những điều mình chưa khai thác hết. Thời gian trôi qua, sổ tay tôi ghi thêm nhiều thông tin về thời niên thiếu của Bác ở Huế.

May mắn một cơ hội nữa đến, ngày 18.5.1979, tôi được nghe ông Vũ Kỳ - người thư ký riêng rất gần gũi với Bác Hồ lúc sinh thời, nói chuyện với cán bộ lãnh đạo tại hội trường UBND tỉnh Bình Trị Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên Huế). Trong bài nói chuyện tôi lưu ý nhất đoạn văn ghi lại trong băng ghi âm như sau:

- “Thành phố Huế đối với thời niên thiếu của Bác rất quan trọng. Huế còn để lại trong ký ức của Bác nhiều kỷ niệm sâu sắc. Có lần Bác kể với chúng tôi: Lúc bé Bác ở Thành nội, bên cạnh nhà Bác có ông tướng mặt đỏ râu ba chòm, oai phong lẫm liệt. Dân chúng nhìn thấy ông sợ lắm. Lúc ấy các quan văn võ, ai cũng có một cái tráp đen đựng tài liệu. Đi đâu các Ngài thường đeo tráp bên hông hoặc giao cho lính hầu mang theo. Nhưng ông tướng này không làm thế, đi đâu ông cứ khệ nệ bưng cái tráp trước ngực. Không ai biết vì sao! Ít lâu sau, vì ở gần nhà, Bác biết ông này có hai người vợ, bà vợ thứ trẻ đẹp, hay ghen và rất có uy quyền với ông. Mỗi lần bà phải đi vắng bà hay lấy râu ông tướng quấn vào tráp rồi khóa lại, làm như thế để cho ông tướng râu ba chòm khỏi đến nhà bà vợ cả. Những lúc ấy có việc công cần phải đi nên ông phải bưng cái tráp trước ngực đi luôn. Bác kể chuyện đó với các bạn cùng lứa tuổi, các bạn của Bác rất thích thú. Từ đó, mỗi lần thấy ông tướng râu ba chòm bưng tráp đi, đám trẻ con không những không sợ mà còn chạy theo gọi “ê ê” rất vui nữa!”

Tôi ghi chép mẩu chuyện trên qua băng từ máy ghi âm và đem mở cho các cụ Phan Văn Dật, cụ Ưng Tương nghe, các cụ cười bảo tôi:

- “Ông tướng râu ba chòm Bác kể với ông Vũ Kỳ là ông Tiền quân Đô thống Phủ Đô thống Phủ sự Lê Bá (8) thường gọi là ông Tiền Bá. Ông có bà vợ hai người Hà Tĩnh rất đẹp nhưng phải cái tội hay ghen. Nhà ông ở Ngã tư Anh Danh (năm 1979 dùng làm cơ quan của Công ty chế biến lâm sản BTT). Vì chuyện ông Tiền Bá bị vợ khóa râu nên ở Huế có danh từ râu quặp (sợ vợ) anh biết không?”

Câu chuyện của ông Vũ Kỳ kể lại một cách vô tình lại khớp với việc nghiên cứu của tôi trước đây. Bước đầu tôi có thể tin gian nhà sau 112 Mai Thúc Loan là nơi gia đình của Bác đã ở thời niên thiếu. Tôi vội vàng tóm tắt những công việc tìm tòi của mình viết một bài báo ngắn trên tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật (9).  


(1) Thanh Tịnh, Đi Từ Giữa Một Mùa Sen, Kim Đồng, HN.1973, tr.22.

(2) Như chú thích (1).

(3) Nguyễn Phước Tộc lược biên, tr.17. Tài liệu của bà Nguyễn Phước Lương Linh, con gái vua Thành Thái.

(4) Sau này có người cho tôi biết Sơn Tùng đặt cái tên Huệ Minh vì muốn hư cấu chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu thích hoa Huệ để viết tiểu thuyết 

(5) Con thư 12 của vua Minh Mạng.

(6) Tôn Quang Duyệt, Một Gia Đình Đẹp, báo Nhân Dân, số ngày 19.6.1977.

(7) Ảnh này cũng được đăng trong bài Images du Passé do M.Mahé cung cấp cho L. Sogny (BAVH số 1 Janvier-Mars 1942) Planche XVIII, gồm các ông Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, An Thành Vương Miên Lịch, Lê Trinh và Cao Xuân Dục.

(8) Ông Lê Bá nguyên họ Đoàn. Nhưng sau khi có cuộc biến động ở Kinh thành do Đoàn Trưng-Đoàn Trực lãnh đạo họ Đoàn bị tru di tam tộc. Ông Bá trốn được ra Hương Cần và từ đó lấy họ mẹ là họ Lê. Ông Lê Bá và bà cụ Ba chủ căn nhà gia đình Bác thuê là chị em chú bác.

(9) Đi Tìm Mái Nhà Thời Thơ Ấu Của Bác Hồ Ở Huế, bđd, số 2/1980.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123