Lời nói đầu

Cuốn sách Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế này tôi đã viết xong từ năm 1983, nhưng phải chờ tư liệu để kiểm tra cho nên mãi đến năm nay sách mới có điều kiện ra mắt độc giả.

Hồi kháng chiến tôi làm báo ở chiến khu Thừa Thiên Huế. Hằng năm cứ vào cuối tháng tư tôi lại phải tham gia viết một vài tài liệu hoặc viết một bài báo về Bác Hồ để phục vụ tuyên truyền. Những lần ấy, chúng tôi lại có dịp đề cập đến Huế-thành phố Bác Hồ đã sống thời niên thiếu. Nhưng những năm tháng Bác đã sống ở Huế như thế nào? Thời gian nào? Những nơi nào Bác đã sống qua? Huế còn đọng lại những gì trong ký ức Bác? Những câu hỏi ấy núi rừng Trường Sơn không thể trả lời cho tôi. Trong cuốn sách chính thức viết tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh do nhà Sự Thật xuất bản cũng chỉ ghi được vỏn vẹn nửa câu “… nhất là trong thời gian người học ở trường Quốc Học Huế (1905-1910)” (1). Nếu đúng như thế thì Bác đã sống và học hành ở Huế từ năm 15 tuổi đến năm Bác lên hai mươi tuổi (1905 đến 1910). Tuổi 15 đến 20 là tuổi hình thành nhân cách của một người bình thường. Đối với các người xuất chúng thì tuổi đó là tuổi định hướng của cả một cuộc đời. Sự kiện quan trọng ấy chỉ được ghi có nửa câu văn trong một tác phẩm chính thức như thế thì quả thật không thể chấp nhận được. Là một người cầm bút xứ  Huế, tôi đã “hạ quyết tâm”: “Ngày hoà bình lập lại thế nào tôi cũng phải tìm cho được các câu trả lời cho tôi.”

Năm 1974 được đi dự Đại hội Sinh viên Quôc tế (IUS) lần thứ 11 ở Budapest, tôi có dịp ghé ngang qua Moscou, được xem một số sách hướng dẫn du lịch nước Nga viết bằng tiếng Pháp. Khi xem ảnh tượng Lê-nin lúc lên 17 tuổi đứng trong sân trường Đại học Kazan, tôi nghĩ đến cái tượng của Bác đứng trong sân trường Quốc Học trong tương lai; nhìn cái bến nước Lê-nin khi rời Simbirsk tôi nghĩ  đến cái bến đò Thừa Phủ - nơi Bác Hồ đã từ biệt Huế ra đi! Rồi từ đó, đi đến bất cứ nơi đâu tôi cũng cố tìm tài liệu, suy nghĩ để viết về thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế. Nhiều người biết tôi có ý định đó khuyên tôi không nên làm cái phần việc của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Tôi vốn thích suy nghĩ độc lập cho nên tôi có cách nghĩ và cách làm của tôi. Tôi không nãn lòng. Tôi biết kiến thức của tôi có nhiều hạn chế, ngôn ngữ nghèo nàn, nhưng khi đứng trước người ngoại quốc biết nói và viết tiếng Việt, tôi không bao giờ có mặc cảm mình thua kém họ về Việt Nam. Vậy tại sao có biết bao người ngoại quốc viết sách về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tôi lẽ nào lại không dám viết về cái thời niên thiếu Bác đã sống qua ngay trên đất Huế của tôi? Người ta có thể hơn tôi vì tiếp cận dược những tài liệu sách vỡ lưu trữ ở nước ngoài về cuộc đời chính trị của Bác Hồ, nhưng chuyện Bác Hồ lúc còn để chỏm thì làm gì đã có tài liệu? Chuyện ấy chắc chắn chỉ có người Huế mới biết thôi. Mà người Huế biết thì tôi có thể biết được. Đúng như thế, sau này đi vào thực tế, tôi thấy không những người Huế mà ngay cả người làng tôi (Dã Lê Chánh xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên), bà con họ hàng của tôi cũng biết về gia đình và thời niên thiếu của Bác. Làng tôi có ông Nguyễn Viết Song (Thông) đỗ Tấn sĩ khoa Tân sửu (1901) cùng khoa với ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy - thân sinh Bác Hồ (2) .Ông Song có một người cháu là Nguyễn Viết Nhuận học cùng lớp với Bác tại trường Pháp Việt Đông Ba và trường Quốc Học Huế. Một người em cô cậu với ông Nguyễn Viết Nhuận là Nguyễn Đắc Vọng từng tháp tùng vua Khải Định Tây du năm 1922. Ông Vọng đã chứng kiến việc Phan Chu Trinh và Nguyễn Ái Quốc làm nhục vua Khải Định ngay trên đất Pháp. Đặc biệt làng Dã Lê Chánh là quê hương của ông Lê Đình Mộng người lãnh đạo cuộc đấu tranh kháng thuế năm 1908 tại Thừa Thiên-Huế - cuộc đấu tranh mở đầu cuộc đời tranh đấu cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Tôi nghĩ là các nhà nghiên cứu về Bác Hồ chưa bao giờ gặp những người Huế quen thân với Bác ngày xưa trước tôi. Do đó mỗi lần cầm trên tay tập sách dày do Jean Lacouture viết về Bác (3) tôi lại vững tin mình hơn. Tôi có thể bổ sung cái phần Thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Jean Lacouture muốn viết mà chưa viết được.

*

*     *

Ông Nguyễn Đình Hoan - công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, có lần được gần Bác, khẩn thiết yêu cầu Bác kể chuyện Thời niên thiếu của Bác để đồng chí viết, Bác bảo:

- “Chú không còn việc gì làm nữa phải không?”.

Ông Hoan không nản chí, đã tìm mọi lời lẽ khẩn thiết muốn được nghe Bác kể. Cuối cùng Bác bảo:

- “Thời thơ ấu của Bác cũng giống như các cháu nhỏ bây giờ thôi. Bác cũng nghịch ngợm, cũng vọc đất, cũng nhác học và cũng bị mẹ đánh

đòn. Các chú thấy các cháu bây giờ như thế nào thì thời thơ ấu ngày xưa của Bác cũng như thế ấy!”  

Chuyện riêng của Bác mà Bác không chịu kể thì ta biết làm sao!

Lục lọi trong lớp bụi thời gian hơn ba phần tư thế kỷ để tìm những “thông tin” về Thời niên thiếu của Bác là một chuyện mò kim đáy biển. Những ai ở Huế còn nhớ được một lớp học ngày xưa ra sao? Một cậu bé tóc trái đào như thế nào? Những sinh hoạt, những ý nghĩ của người Huế đầu thế kỷ XX đã bị lãng quên qua bao thế hệ. Một viên gạch ở cửa Đông Ba mang biết bao tâm sự. Ngày nay còn mấy ai nghe được tiếng lòng của nó? Muốn bắt được đầu óc mình suy nghĩ, nhìn ngắm như một người trẻ đồng thời với Bác những năm ở Huế, tôi phải đọc nhiều sách báo, tài liệu cũ, đã phải hàng tháng, hàng năm nghe các cụ già “cổ lai hy” nói chuyện. Mỗi lần tôi được xem một cuốn An-bom cũ hoặc một cuốn hồi ký của những “gia đình lớn” ở Huế tôi cố tìm trong ấy những nắng, mưa, cái ăn, cái mặc, nói năng, tiếng đàn, giọng hát, niềm vui, nỗi buồn, và cái nhìn về những sự kiện chính trị lúc bấy giờ. Vì thế, nghiên cứu Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế tôi bổng trở thành người nghiên cứu Huế đầu thế kỷ XX.

*

*     *

Trước khi đặt bút viết dòng mở đầu cho tập sách này, tôi đã viết gần năm mươi bài báo, và thực hiện hàng trăm buổi báo cáo, thuyết trình cho nhiều cơ quan, đoàn thể ở Huế và ngoài Huế về Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế. Qua đó tôi phổ biến dần những tài liệu tôi vừa tìm được để quần chúng ủng hộ tinh thần cho tôi. Tôi muốn bạn đọc của tôi không những được nghe tôi “thông báo” một cách đơn thuần mà còn muốn họ cùng tôi tham dự vào “cuộc tìm hiểu khoa học này”. Qua cách làm ấy quần chúng trí thức đã góp cho tôi nhiều ý kiến, nhiều tư liệu hay để tôi hoàn chỉnh những tư liệu khoa học của tôi.

Đáng lẽ tôi mở đầu cuốn sách này ở Trại viết Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức giữa mùa hè năm Bác Hồ 90 tuổi (1980) có cả nhà văn Nguyễn Tuân tham dự. Nhưng rất tiếc gặp phải nhiều chuyện bất tiện nên cuốn sách được viết vào những giờ tối thiểu mà người khác dùng để nghỉ ngơi. Sách viết trong vòng ba năm. Trang cuối cùng được viết vào chiều ngày 29.9.1983 trong lúc tôi đang nằm Bệnh viện Huế để chữa bệnh gan.

Hăm hở cho hoàn thành cuốn sách tâm huyết của mình. Khi viết xong đọc lại nhiều lần tôi hết sức náo nức nhưng chưa dám nghĩ đến việc gởi bản thảo đến một nhà xuất bản nào. Có nhiều lý do, nhưng lý do quan trọng nhất là nguồn tư liệu lịch sử. Tư liệu của tôi phần lớn là tư liệu sống, tư liệu viết trước 1975 ở miền Nam. Khi những tư liệu ấy chưa được xác minh (vérifier) bởi một nguồn tư liệu thành văn đầu tay thì tôi chưa yên tâm. Vì thế mà tập bản thảo dày cộm cứ nằm chờ tôi trên bàn viết. Nhưng rồi những gì tôi chờ đợi cũng đã đến. Tôi may mắn sao chụp được bộ Hồ sơ của Mât thám Pháp theo dõi Bác và gia đình Bác thực hiện vào năm 1920 (4). Bóc hết cái ý tưởng phản động, những nhận xét sai lạc của Mật thám Pháp về Bác và gia đình Bác, tôi tìm được trong ấy những con người, những sự kiện và đặc biệt là thời gian các sự kiện xảy ra để so sánh với những gì tôi đã ghi chép được qua các hồi ức của những người thân quen, những người biết Bác thời niên thiếu ở Huế. Cho đến nay tôi tin là công việc sưu tầm nghiên cứu của tôi có thể tin được. Cuốn sách đã đến lúc phải ra mắt bạn đọc. Gởi bản thảo đến nhà xuất bản tôi mang trong đầu những ý tưởng sau đây:

1. Những nhân vật tôi hân hạnh được gặp để hỏi chuyện Thời niên thiếu của Bác Hồ đến nay hầu như đã qui tiên. Những điều các vị đã kể với tôi hết sức tâm huyết, nếu tôi để thất lạc những điều tâm huyết ấy là tôi có tội. Tôi thật sự không muốn mang cái tội ấy khi gặp lại các vị ở cõi vĩnh hằng;

2. Cơ hội hỏi chuyện các vị ấy không bao giờ có lại được nữa. Trong lúc đó sự nghiệp nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì con dài. Tôi không dám cam đoan tất cả những thông tin tôi ghi trong cuốn sách này đều quí và chính xác trăm phần trăm, nhưng chắc chắn cũng có nhiều điều bổ ích để cho các nhà Hồ Chí Minh học tham khảo. Nếu tôi để mai một những thông tin có giá trị tham khảo ấy là tôi có tội với khoa học lịch sử;  

3. Với tuổi tác của tôi hiện nay không cho phép tôi chờ đợi thêm nữa. Cuốn sách tôi viết với tâm huyết của một phần đời tôi. Để cho tập bản thảo này mai một là tôi tự hủy cái phần đời quý báu ấy của tôi;

4. Tôi cũng muốn để lại cho các con tôi và bạn bè thế hệ của chúng biết lý tưởng của tôi trong những năm tháng ấy. Tôi làm việc trong điều kiện hết sức khó khăn mà vẫn làm đến cùng. Làm vì lý tưởng, vì khoa học chứ không vì bất cứ một điều gì khác.

Đọc lại bản thảo tôi không ngờ trong những năm tháng mà bây giờ nhiều người không muốn nhắc lại tôi lại có thể nhiệt tình làm khoa học một cách năng nổ đến thế. Sự nhiệt tình đó có lẽ không bao giờ còn trở lại với tôi hôm nay. Bởi thế, cuốn sách này là một công trình nghiên cứu đồng thời cũng là một kỷ niệm lớn. Tôi giữ nguyên bản thảo cũ hoàn tất năm 1983 và những gì mới viết tôi ghi rõ là phần viết bổ sung của năm 2003. Nếu độc giả phê phán cái văn phong bất nhất ấy, tôi xin nhận hết khuyết điểm. Tôi hết sức cố gắng trong gần hai mươi năm để trả lời những câu hỏi đặt ra cho tôi giữa rừng núi Trường Sơn năm xưa. Nhưng với tư cách là một nhà văn đi nghiên cứu lịch sử chắc chắn tôi không thể tránh được những chỗ bất cập. Kính mong các bậc thức giả cao minh chỉ giáo để qua việc góp ý với tôi giúp cho các thế hệ tương lai tiếp cận được với chân lý.                                                                  

                                                          Nguyễn Đắc Xuân
Gác Thọ Lộc, Đầu năm 2003

(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và Sự nghiệp (in lần thứ ba), Nxb Sự Thật, Hà Nội 1975, tr.13 vẫn còn giữ nửa câu văn trên.

(2) Cao Xuân Dục, Quốc Triều Đăng Khoa Lục, quyển 4, Lê Mạnh Liêu dịch, Bộ QGGD. Sài gòn, 1962, tr.234.

(3) Jean Lacouture, Hồ Chí Minh, Édition du Seuil, Paris 1967, 262 trang.

(4) Xem phần sách và tài liệu tham khảo.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123