Nhã nhạc/ca múa nhạc trong cung đình Nguyễn

Cách đây đúng 11 năm (1993-2004), di tích lịch sử thời Nguyễn ở Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân lọai. Trong lần công bố thứ hai về Di sản văn hóa phi vật thể của nhân lọai (DSVHPVTTG) diễn ra vào ngày 7.11.2003 vừa qua, Huế lại được UNESCO quan tâm với sự công nhận Nhã nhạc cung đình Nguyễn là một trong 28 kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân lọai (Chefs-d’oeuvre du patrimoine oral et immatériel de l’huma -nité). Chuyện Nhã nhạc cung đình Nguyễn dậy lên trong dư luận Việt Nam và thế giới.

1. Nhã nhạc cung đình triều Nguyễn kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại

Quyết định công nhận Di sản văn hóa phi vật thể của nhân lọai năm 2003 có ý nghĩa đặc biệt, vì nó diễn ra đúng vào kỳ họp thứ 32 của UNESCO về "Quy ước bảo vệ các DSVHPVTTG" (Convention pour la sauvegarde du patri -moine culturel immatériel). Hội đồng thẩm định bao gồm 18 thành viên, từ 3 đến ngày 6 tháng 11/2003, họ đã tiến hành đánh giá hồ sơ ứng cử của 56 quốc gia và đã đi đến quyết định công nhận 28 Di sản Văn hóa thế giới.

Để được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới, tất cả những di sản đề nghị được công nhận đều phải thông qua những hội đồng kiểm định khắt khe từ: Hội đồng quốc tế về Nhạc truyền thống, Hội đồng Khoa học Xã hội quốc tế, Hội đồng Triết học và Khoa học Nhân văn quốc tế, Hiệp hội Rối quốc tế, Học viện Kịch quốc tế và Hội đồng Bảo tàng quốc tế.

Cùng với Nhã nhạc Việt Nam, 27 kiệt tác văn hoá phi vật thể và truyền khẩu được UNESCO ghi danh lần này gồm 2 kiệt tác ở châu Phi, 3 kiệt tác của các nước khối A-rập, 10 kiệt tác của khối châu Á - Thái Bình Dương, 4 kiệt tác của châu Âu, 6 kiệt tác của châu Mỹ Latinh - Ca-ri-bê và 2 kiệt tác thuộc khối Liên Quốc gia.

Đây là lần thứ 2 tổ chức UNESCO công bố Di sản Văn hóa phi vật thể của thế giới. Lần đầu tiên được công bố vào năm 2001 nhưng chỉ dừng lại ở 19 Di sản Văn hóa Phi vật thể. Dự kiến đợt 3 sẽ được tổ chức vào năm 2005. Ban giám khảo cũng đã quyết định trao giải cho 5 trong số 28 Di sản Văn hóa thế giới được công nhận trong lần này vào năm tới. Trong 5 giải nầy có Nhã nhạc cung đình Huế.

2. Sơ lược về Nhã nhạc/ ca múa nhạc
trong cung đình Nguyễn

2.1. Nguồn gốc và lịch sử:

Nhã nhạc là âm nhạc chính đáng (musique distingué, musique élégante) phân biệt với tục nhạc (musique vulgaire). Nhã nhạc được dịch sang tiếng Anh là Ritual Music. Nhã nhạc dành riêng cho triều đình các nước chịu ảnh hưởng Nho giáo như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Tục nhạc là âm nhạc của trăm họ trong dân chúng, hay cũng có thể hiểu là dân nhạc. Tuy xuất phát từ một thuật ngữ gốc Nhã nhạc của Trung Quốc, nhưng mỗi nước có một cách đọc riêng và phiên âm theo mẫu tự La-tinh riêng nên Trung Quốc viết là Yayueh hoặc Yayue, Hàn Quốc viết AhAk hoặc Aak, Nhật Bản viết là Gagaku và Việt Nam viết là Nhã nhạc. Về nội dung, Nhã nhạc của mỗi nước có những bước phát triển riêng và hình thành bản sắc riêng. Những nét riêng độc đáo của Nhã nhạc mỗi nước tạo nên một di sản Nhã nhạc chung rất quý báu của nhân loại.

Nhã nhạc Việt Nam ra đời từ khi nhà nước quân chủ được thiết lập và định hình từ đời Lý (1010 - 1225) và phát triển trải qua các đời Trần (1225 - 1400), thời Hồ (1400 - 1407), thời Lê (1427 - 1788), Nhã nhạc ở xứ Đàng trong (1558-1774), thời Tây Sơn (1789 - 1801).

[Theo Hoa Bằng, trong sứ bộ 150 người vua Quang Trung cử sang “tạ ơn vua Thanh về việc tặng triều châu và hà bao do chuyến Nguyễn Quang Hiển sang sứ lần trước (Đại Thanh Thực Lục, q.1347, tờ 10) . Và đồng thời lại cử sang Thanh một ban văn thự nhạc công đem theo 10 bài từ khúc chúc thọ (khánh chúc thọ từ khúc, thập chương) để biểu diễn, hát mừng vua Thanh về dịp bát tuần vạn thọ” … “Khi sứ bộ sang đến nơi, dự yến ở ngự điện, bộ Lễ nhà Thanh dẫn nhạc công nước ta vào hát mừng. Vua Thanh đẹp lòng, khen ngợi, hậu thưởng cho tiền tệ; lại sai quan thái thường kén lấy 10 người tuồng hát (lê viên) ăn mặc theo lối nhạc công Nam: đội mão tú tài, vận áo cổ tràng (giao lĩnh y), đồng thời hòa tấu giữa những tiếng đàn, trống sênh, tiếng trống”. Vua Thanh lại vời nhạc công của ta vào trong cung cấm dạy những người “lê viên” ấy hát tiếng Nam, diễn khúc điệu; vài ngày tập quen” [1]. Theo tài liệu 10 bài từ khúc do Phan Huy Ích sọan. Cũng theo tài liệu 10 nhạc công Việt Nam được vua Quang Trung cử sang Trung Quốc rất điêu luyện. Muốn đào tạo 10 nhạc công ấy có trình độ điêu luyện đến như thế không thể thực hiện trong thời gian mấy năm vua Quang Trung trị vì ở Phú Xuân được.  Do đó ta có thể nghĩ 10 nhạc công ấy là nhạc công cũ trưởng thành dưới thời các chúa Nguyễn cuối cùng. Những nhạc công nầy và những nhạc công không có mặt trong đoàn sang trung Quốc sẽ là những người nòng cốt của Nhã nhạc/ca múa nhạc cung đình đầu triều Nguyễn.

Các vua Nguyễn đã kế thừa Nhã nhạc/ca múa nhạc cung đình của các triều trước, tổ chức lại và phát triển để dùng trong các lễ lạt và để giáo hóa phong tục. Vua Minh Mạng đã cho khắc đôi câu đối ở Duyệt Thị Đường như sau:

Âm nhạc tịnh trần hòa kỳ tâm nhi dưỡng kỳ chí

   Nghiêm xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi

( Dịch nghĩa:

   Âm nhạc bày ra hòa được lòng và dưỡng được chí/  Tất cả bầy biện, ta hãy tiếp thu những điều phải, điều hay và nhìn những cái sai lầm trong đó để răn mình)

Nhã nhạc/Âm nhạc cung đình Huế (Musique de Cour) là một điển hình cho âm nhạc bác học, phản ảnh nhận thức thẩm mỹ, tư duy triết học, vũ trụ quan và nhân sinh quan của con người Việt Nam xưa. Nhã nhạc cũng là biểu tượng của Vương triều, của sự bình yên cho quốc gia.

Các hoạt động của Cung đình Nguyễn sử dụng đến Nhã nhạc là:

- Các hoạt động bình thường: Trong các cuộc Tế giao, Tế ở các Miếu (Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, Tả Miếu, Hữu Miếu, Văn Miếu…), tế Tịch điền, tế Tiên nông, lễ Ban sóc (phát lịch), tết Nguyên đán, lễ Ðại triều (2 lần/tháng), Thường triều (4 lần/tháng), các lễ Vạn thọ (Sinh nhật vua), lễ Thánh thọ (sinh nhật Hoàng Thái hậu),  lễ Tiên thọ (sinh nhật Hóang Thái phi), Thiên xuân (sinh nhật Thái tử), lễ Thiên thu (sinh nhật Hoàng hậu)...

Các họat động bất thường: Lễ Ðăng quang, Lễ tang của các vua và các hoàng hậu, đón tiếp sứ thần, yến tiệc… .

Tùy tính chất từng lễ mà chọn loại nhạc thích ứng như:

- Giao nhạc;

- Miếu nhạc sử dụng tại các nơi thờ vua, chúa...

- Ngũ tế nhạc dùng trong tế Xã tắc, Tiên nông...

- Đại triều nhạc dùng trong lễ Nguyên đán, Ban sóc...

- Thường triều nhạc;

- Yến nhạc; dùng nhạc mừng thọ, chúc thọ, tiếp đãi sứ thần...

- Cung trung nhạc biểu diễn trong các cung Hoàng thái hậu và Thái Hoàng thái hậu...

2.2. Nghệ thuật Nhã nhạc/ ca múa nhạc
                     cung đình nhà Nguyễn.

Nhà Nguyễn đã tuyển chọn tất cả các nhạc khí có giá trị của dân tộc để đưa vào dàn nhạc cung đình. Tùy trường hợp phục vụ, mà chọn lựa Đại nhạc hay Tiểu nhạc.

Nếu sử dụng Đại nhạc thì có ít nhất 42 nhạc cụ, còn Tiểu nhạc gồm 8 nhạc cụ. Trong dàn nhạc cung đình có đủ các nhạc cụ thuộc bộ hơi (sáo, kèn), bộ dây (nhị, nguyệt, tỳ ...), bộ gõ (trống, chuông, sanh tiền...).

Âm nhạc trong Nhã nhạc chắc lọc từ các làn điệu mạnh mẽ, tươi vui từ  phương Bắc và những làn điệu nhẹ nhàng, sâu lắng của phương Nam. Tiết tấu rất phong phú.

Khi tấu nhạc, các nhạc khí trong một dàn nhạc với những thang âm khác nhau, song thang âm nào cũng được thể hiện và không lấn át nhau. Do vậy, khi dàn nhạc hòa tấu đều nghe rõ các màu âm của các thanh âm từ trang nhã, tiếng trong, tiếng đục, tiếng khoan, tiếng nhặt, khi dồn dập, khi khoan thai, khi rộn rã, khi ưu tư... Nói cách khác, “Nhã nhạc hòa tấu theo phương thức chiều ngang, hòa hợp các màu âm của các nhạc khí trên cùng một lòng bản không một tiếng nhạc khí nào che lấp màu âm của các nhạc khí khác”  nên người nghe thưởng thức được âm thanh của tất cả các nhạc khí trong Dàn nhạc cung đình.

     Cùng với âm nhạc trong âm nhạc cung đình Nguyễn, có các vũ điệu, đặc biệt trong Hát bội, các vũ điệu được cách điệu mang tính tượng trưng, khái quát cao. Lời ca chứa đựng trong các nhạc chương được sọan thảo chuẩn mực, sâu sắc, có tính bác học.

Trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Nội Các Triều Nguyễn đã dành cho Bộ Lễ trọn quyển 99[2] để viết về Nhạc chương và Nhạc khí của âm nhạc cung đình Huế. Với 50 trang sách (bản dịch từ tr. 68 đến tr. 118) đã ghi được lời ca của 80 bài nhạc cung đình Huế với tên từng bài như sau:

Nhạc chương 7 bài: Lý Bình, Túc Bình, Khánh Bình, Di Bình, Hoà Bình, Bảo Thành;

Lễ Thượng Thọ 6 bài: Bình Thành, Doãn Thành, Mỹ Thành, Khánh Thành, Doãn Bình, Siển Bình;

Tế Giao 10 bài: An Thành, Triệu Thành, Đăng Thành, Mỹ Thành, Thụy Thành, Vĩnh Thành, Doãn Thành, Hi Thành, Hựu Thành, Khánh Thành;

Tế các miếu, 10 bài: Hàm Hoà, Gia Hoà, Tường Hoà, Dự Hoà, Ninh Hoà, Mỹ Hoà, Túc Hoà, An Hoà, Ung Hoà;

Tế Thái Miếu, 9 bài: Hàm Hoà, Gia Bình, Tường Hoà, Dự Hoà, Ninh Hoà, Mỹ Hoà, Túc Hoà, An Hoà, Ung Hoà;

Tế Hưng Miếu, giống như Tế Các Miếu có 9 bài : Hàm Hoà, Gia Hoà, Tường Hoa, Dự Hoà, Ninh Hoà, Mỹ Hoà, Túc Hoà, An Hoà, Ung Hoà;

Tế Thế Miếu, 10 bài: Hàm Hoà, Gia Hoà, Tường Hoà, Dự Hoà, Ninh Hoà, Mỹ Hoà, Túc Hoà, An Hoà, Cung Hoà, Khánh Hoà;

Đàn Xã Tắc, 7 bài:  Diên Phong, Tuy Phong, Tư Phong, Mậu Phong, Hoà Phong, Dụ Phong, Khánh Phong,

Tế miếu đế vương các đời, 6 bài: Cảnh Huy, Diên Huy,  Sùng Huy, An Huy, Minh Huy, Thọ Huy;

Tế Văn miếu, 6 bài: Cảnh Văn, Chiêu Văn, Ý Văn, Hiển Văn, Bình Văn, Huy Văn.

Về nhạc Doãn Thành trong lễ Thượng thọ giống với Doãn Thành trong lễ tế Giao nhưng lời khác. Một số
bài khác cũng trùng và khác như thế. Nhưng ít nhất chúng ta cũng có thể biết được trên 60 bài  nhạc cung đình khác nhau.

Sách Hội Điển là điển lệ mẫu mực của triều Nguyễn mà cũng chỉ ghi tên bài và nội dung lời ca. Qua đó ta có thể nói âm nhạc cung đình vốn nó chỉ có thế và nó vẫn còn giữ được như thế. Còn ký âm ra nhạc bằng ký âm pháp truyền thống hò xừ xang xế cống... là việc của các thầy nhạc, họ ghi ra để cho riêng họ và dùng làm giáo trình dạy học trò mà thôi. Và, mỗi thầy có cách ghi riêng và thường giấu kỹ. Cụ Hoàng Xuân Hãn từng sưu tầm được một bản ký âm nhạc cung đình Huế (khoản năm 1863) và Giáo sư Trần Văn Khế đã sử dụng trong một bài viết, ta thấy bản ký âm đó rất đơn giản và cũng chỉ là bản chép tay.

2.3. Những người có công với Nhã nhạc và ca múa nhạc cung đình nhà Nguyễn.-

Ngày xưa, những người có công và tác giả các ngành nghệ thuật nói chung và Nhã nhạc/ca múa nhạc cung đình Nguyễn nói riêng ít được nêu tên. Tìm kiếm trong tư liệu lịch sử và tài liệu điền dã chỉ tìm được những tên người sau:

 2.3.1. Những người có công được xem như các tổ:

Đào Duy Từ (1572-1634) người Thanh Hóa, có công mang nghệ thuật ca vũ nhạc của Đàng Ngoài vào phổ biến ở xứ Đàng Trong; Can Cung Hầu một vị sư người Trung Quốc được vua Minh Mạng mời sang Phú Xuân dạy nhạc, múa, hát. Ông là thầy dạy các làn điệu hát Khách hay điệu Bắc; Đào Tấn (1845-1907), người Bình Định, thầy tuồng và tác giả nhiều vở tuồng lịch sử có giá trị thời Tự Đức, Lê Quý Đồng (1851- ?), người Thừa Thiên Huế…;

2.3.2. Các nhạc sĩ, các đội trưởng và các nhạc công:

Theo Đào Duy Anh “Đội nhạc chánh của vua là nơi tẩu trạch họp những tay giỏi âm nhạc trong nước, mà những ca công và tài tử ở Giáo phường cũng phần nhiều nhờ các thầy ở đội Nhạc chánh dạy cho (Tống Văn Đạt và con là Đội Chín ở triều Tự Đức)”[3] . Cũng theo Đào Duy Anh “ Nhiều nhà quí phái như ông Hoàng Nam Sách (tức Nguyễn Phúc Miên Ổn -1833-1895, hoàng tử thứ 61/78 của vua Minh Mạng), ông Phò Trần Quang Phổ ở đời Tự Đức là tay danh cầm xưa nay không ai hơn nổi”[4].

Tên các đội trưởng đội Nhạc chánh trước triều Thành Thái chưa tìm được. Từ triều Thành Thái trở về sau mới tìm được tên các ông: Đội Hồ (tức Nguyễn Văn Hồ - ?-?); Đội Tiêu (tức Nguyễn Đắc Tiêu 1879-1962, làng Dã Lê Chánh, xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, TTH), Đội Thức tức Lê Văn Thức ( ?-?), Đội Hòa tức Lê Văn Hòa, con trai Đội Thức, ?-?); Đội Thị tức Nguyễn Đình Thị 1905-1990, cháu ông Đội Tiêu.

Tên các ông nhạc công: Lê Nhữ Tiếp+ (các lọai kèn), Đinh Đó + (đàn Tỳ), Trần Lư + (đàn Tam) Nguyễn Thiện + (đàn Nguyệt), Đinh Hữu Khai + (đàn Nhị), Lê Đối + (phách Ngô), Nguyễn Đoan + (Tang âm), Trần Cấn + (Địch). Ba người còn tại thế là Lữ Hữu Thi (sinh năm 1910, nhà ở đường Đặng Tất, Huế), Lữ Hữu Cử (sinh năm 1919 , em ruột ông Lữ Hữu Thi), nhà ở đường Tăng Bạt Hổ, Huế), Nguyễn Viết Bàn (hiện sống tại làng Dã Lê thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, TTH)[5];  

     2.3.3.- Những người có công trong việc nghiên cứu, gìn giữ, giới thiệu ca múa nhạc cung đình Nguyễn:   

Sau ngày chế độ quân chủ ở Việt Nam cáo chung (8.1945), ca múa nhạc cung đình nói chung và Nhã nhạc nói riêng cũng tan theo. Đến năm 1949 Cựu hoàng Bảo Đại “hồi loan”, bà Từ Cung - thân mẫu của Cựu hoàng, tìm cách phục hồi ca múa nhạc cung đình để phục vụ trong các tế lễ của Nguyễn Phước tộc. Đội Nhạc chánh và đoàn Ba Vũ (đội ca múa cung đình) được phục hồi. Nhưng đội Nhạc chánh chỉ họat động được một thời gian ngắn ba bốn năm mà thôi. Riêng đội Ba Vũ thì giữ được cho đến nay.

Có thể nói Bà Từ Cung (tức bà Hoàng Thị Cúc, là người có công lớn nhất trong việc gìn giữ Nhã nhạc và ca múa cung đình triều Nguyễn. Sau đó là bà chúa Nhất (tức Nguyễn Phúc Tốn Tùy 1872-1955, con gái trưởng của vua Dục Đức, chị cả của vua Thành Thái)[6] , nhạc sư Nguyễn Hữu Ba (1913-1997), Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê (sinh năm 1921, hiện sống ở Pháp), Giáo sư Tiến sĩ Tô Ngọc Thanh (hiện sống tại Hà Nội), Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế .v.v.     

2.4. Tên gọi các tổ chức Nhã nhạc và ca múa nhạc cung đình Nguyễn qua các thời kỳ: 

Tuy cùng một nhiệm vụ phục vụ tế lễ, các cuộc thiết triều, các cuộc chiêu đãi yến tiệc và vui chơi trong Nội cung, Nhã nhạc (nhạc lễ) và ca múa nhạc cung đình Nguyễn được đặt trong các tổ chức mang những tên khác nhau trải qua các thời kỳ. Có thể dẫn ra như sau :

- Hòa Thanh Thự.- Do Đào Duy Từ lập, là cơ quan quản lý 3 đội (thời các chúa Nguyễn), “mỗi đội có một xuất đội và 120 người lính đều thuộc quyền viên Phó quản điều khiển. Vũ sinh tuyển cả con trai và con gái. Đội nhất và đội ba trông coi về nhạc, đội nhì trông coi về ca và vũ”[7]

- Trường Trường Xuân. “Triều Minh Mạng (1823) có lập trường Trường Xuân, sau đổi tên Thanh Bình Thự (1826), đến triều Thành Thái lại đổi ra Võ Can Đội, hiện bây giờ (triều Khải Định) đổi làm trường Thanh Bình”[8] . Dù tên được đổi qua các thời kỳ nhưng các tổ chức nầy có nhiệm vụ đào tạo và quản lý các nhạc sĩ, nhạc công, diễn viên của cung đình Nguyễn.

- Đội Hòa Thanh: Cuối đời Khải Định (1924), ban nhạc lễ của Nam triều có tên là Đội Hòa Thanh - mà hai nhạc công cuối cùng của đội còn lại là các cụ Lữ Hữu Thi và Lữ Hữu Cử.  

- Đội Nhạc chánh: cuối triều Nguyễn, để phân biệt với âm nhạc của bá tánh (dân nhac), âm nhạc của cung đình Nguyễn có cái tên thường gọi là Nhạc chánh [9] .

3. Nhã nhạc cung đình Nguyễn
trước thế giới và cơ quan UNESCO

Trước khi được Unesco công nhận, Ca múa nhạc cung đình Huế nói chung và Nhã nhạc Huế triều Nguyễn nói riêng đã được thế giới biết đến khá  nhiều. Trong bài viết nầy xin ghi lại một số sự kiện sau đây:

Hồi nửa đầu thế kỷ XX, trong các Bảo tàng Con người (Musée de l’Homme), Bảo tàng Guimet, Bảo tảng Nước Pháp Hải ngoại (Musée de France d’Outre-mer), Đài phát thanh Pháp (Radio- France), đã có nhiều đĩa Nhã nhạc và ca Huế 78 vòng của các hảng đĩa Pathé Phono, Béka, Culumbia phát hành. 

Năm 1954, nhân viên Đài Phát thanh Pháp sang Việt Nam thu thanh các bài nhạc cung đình: Đăng đàn kép, Đăng đàn đơn, Bông, Mã Vũ, Man, Phụng Vũ, Thập thủ liên hoàn, có cả tiếng ca của cô Minh Mẫn (với bài Tương Tư), tiếng tán tụng của các nhà sư Phổ Quang, Mật Nguyện (một thời Cúng Ngọ)… ghi lại trong 9 đĩa lớn 30 phân đường kính và tốc độ 33 vòng;

Năm 1963, Viện Nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp đối chiếu ở Tây Bá Linh tài trợ cho nhạc sư Nguyễn Hữu Ba và Tiến sĩ Trần Văn Khê chụp ảnh, ghi âm, phân tích ca, nhạc vũ kịch Huế, viết lời giới thiệu bằng tiếng Pháp, dịch ra tiếng Anh, tiếng Đức;

Năm 1969, công trình trên được ghi vào một đĩa hát 33 vòng do Hãng dĩa Barenreiter- Musicaphon phát hành tại Đức năm 1969 và nhận được Giải thưởng lớn Deutscher Schallplatten Preis ngay trong năm 1969;

Năm sau 1970, Hàn Lâm Viện đĩa hát Pháp  (Académie du disque francais) lại tặng một giải thưởng lớn khác trong loại giải thưởng lớn về Dân tộc Nhạc học (l'Ethnomusi-cologie) cho đĩa trên. Từ trước đến giờ, chưa có đĩa hát nào được liên tiếp hai giải thưởng lớn như vậy.

Năm 1981, tại Huế, ông Amadou Mata M'bow, Tổng Giám đốc UNESCO, xem  chương trình Ca vũ nhạc cung đình, đến tiết mục "Lân mẫu xuất lân nhi "- ông có nhận xét "Từ trước đến nay, tôi chưa có lần nào xem múa lân mà lòng xúc cảm như hôm nay."

Năm 1994, trong dịp Unesco triệu tập Hội nghị quốc tế về Di sản văn hoá vùng Huế, hai dàn Đại nhạc và Nhã nhạc cung đình Huế, đội Ca múa cung đình do La Cẩm Vân điều khiển đã giới thiệu một chương trình ca vũ nhạc cung đình rất đặc sắc, do GSTS Trần Văn Khê giới thiệu chương trình bằng tiếng Anh, tiếng Pháp cho quan khách quốc tế thưởng thức. Tất cả các đại biểu đều hoan nghinh nhiệt liệt.

Cũng trong năm 1994, Giáo sư Yamaguti thay mặt Ban tổ chức Nhạc hội Nhựt bổn mời Đoàn ca vũ nhạc cung
đình sang Nhật dự Liên hoan Ca Vũ Nhạc mùa hè tại Tokyo năm 1994.

(Trong dịp đó, Đài truyền hình quốc gia Nhật Bản NHK giới thiệu nhạc cung đình Việt Nam trên màn ảnh nhỏ. Chương trình được trường Đại học Osaka dùng để minh hoạ những bài giảng về Nhạc cung đình Việt Nam).

Và sau nhờ đó hai Giáo sư Yamaguti và Tokumaru xin được Toyota Foundation tài trợ cho một phái đoàn nghiên cứu gồm 9 thành viên và GSTS Trần Văn Khê được mời làm Cố vấn sang Việt Nam nghiên cứu Nhạc cung đình Huế, ghi âm ghi hình làm tư liệu cho Trường Đại học Osaka. (Có dành một bản sao cho Việt Nam)

Cùng trong năm 1994, nhà sọan nhạc  Tôn Thất Tiết và GSTS Trần Văn Khê tổ chức một chuyến giới thiệu tại Nhà Văn hoá Thế Giới Ca nhạc Huế, Nhạc cung đình Huế và 4 buổi Nhạc Phật Giáo Huế có sự tham gia của Thượng tọa Từ Phương và 4 vị sư khác từ Huế sang.

Năm 1995, Nhà Văn hoá Thế giới phát hành 2 dĩa CD về ca nhạc Huế, nhạc cung đình Huế và nhạc Phật Giáo theo truyền thống Huế. Dĩa nầy được tạp chí “Thế giới âm nhạc” (Le Monde de la Musique) đánh giá cao nhứt “Choc”  (Chấn động). Có nghĩa là người nghe đĩa hát nầy, thấy thích thú như bị “chấn động ."

Sau đó tiếp tục Trường Âm nhạc Huế, Dàn nhạc cung đình còn có nhiều lần sang Pháp giới thiệu ca vũ nhạc Huế tham gia các Nhạc hội, và được khán thính giả bên Pháp hoan nghinh;

Năm 1996, Japan Foundation Asia Centre tài trợ mở một lớp đào tạo nhạc công và chuyên viên nghiên cứu Nhã nhạc Cung đình Nguyễn. (Lớp  học kết thúc tháng 6.2000)

Ngày 9.4.2002, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định cho lập hồ sơ Nhã nhạc Cung đình Nguyễn để đề nghị Unesco công nhận là Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân lọai;

Ngày 24.7.2002, Chính phủ chấp thuận để tỉnh Thừa Thiên Huế lập hồ sơ Nhã nhạc Cung đình Nguyễn để đề nghị UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân lọai;

Tháng 8-2002, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã phối hợp với Viện Âm nhạc Việt Nam, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc tế về Âm nhạc Cung đình Huế với sự tham gia của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài, đặc biệt có Tiến sĩ Noriko Aikawa - Trưởng ban Di sản Văn hóa phi vật thể của UNESCO tham dự, Hội thảo nhằm đánh giá và tìm các giải pháp thúc đẩy công cuộc bảo tồn di sản âm nhạc. Cùng với Hội thảo, bộ hồ sơ Âm nhạc cung đình Việt Nam: Nhã nhạc (triều Nguyễn) với sự tham gia của các nhà nghiên cứu thuộc TTBTDTCÐ Huế, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Cục Di sản Văn hóa... đã được Hội đồng thẩm định quốc gia thông qua lần 1 vào tháng 9-2002 và lần 2 vào đầu tháng 12-2002 và gửi đến UNESCO để đề nghị công nhận là Kiệt tác Văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

Ngày 7.11.2003, UNESCO công nhận Nhã nhạc cung đình Nguyễn là một trong 28 Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại

Nhạc cung đình Nguyễn đã thể hiện trình độ điêu luyện chinh phục được giới thưởng nhạc và các nhà nghiên cứu âm nhạc thế giới khó tính nhất, đã được mời lưu diễn ở Âu Mỹ nhiều lần. Do đó, nhã nhạc cung đình Huế có một giá trị đặc biệt, có bản sắc riêng, có qui mô hàng quốc gia khác với các loại hình âm nhạc khác ở các địa phương trên nước Việt Nam[10].

Bởi vậy, trong phần nhận định về nhã nhạc cung đình Nguyễn, Hội đồng UNESCO đánh giá: "Nhã nhạc VN mang ý nghĩa "âm nhạc tao nhã", được trình diễn tại những ngày lễ trọng đại. Trong các thể loại âm nhạc đã được phát triển tại Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc mang tầm quốc gia".

Ông Matsuura, tổng Giám đốc UNESCO nói:
"Mục đích của việc công bố này không đơn thuần chỉ là thừa nhận giá trị của một vài yếu tố của di sản phi vật thể, mà đòi hỏi các quốc gia phải cam kết thực hiện các kế hoạch nhằm phát huy và bảo vệ các kiệt tác được ghi vào danh mục".

Trước tin vui nầy, ông Hồ Minh Tuấn, Ủy Ban quốc gia UNESCO tại Việt Nam cho biết:

- "Đây là một niềm vinh dự lớn đối với Việt Nam. Lần đầu tiên Di sản Văn hóa phi vật thể của ta được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới. Hơn nữa, Nhã nhạc Huế lại nằm trong quần thể Di sản Văn hóa Huế. Như vậy, chúng ta có thể quần thể Di sản Văn hóa cả Vật thể và Phi vật thể thuộc Cố đô Huế".

GSTS Tô Ngọc Thanh, Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, tác giả tập Tư liệu Âm Nhạc Cung Đình Việt Nam (Nxb Âm nhạc, 1999), người đã góp nhiều công sức với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trong việc lập hồ sơ Nhã nhạc trình UNESCO, nhận xét: "Nhạc cung đình Huế, lần này được công nhận, đã làm nên một "mối duyên đẹp" vì Cố đô Huế đã được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới.”                                  

4. Cần phân biệt và hiểu đúng Nhã nhạc
và Ca múa nhạc cung đình Nguyễn

Qua trình bày trên, Nhã nhạc cung đình Nguyễn có nguồn gốc từ Nhã nhạc Trung Quốc. Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu Nhã nhạc của Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên hiện nay thì Nhã nhạc triều Nguyễn chỉ hạn hẹp trong phạm vi âm nhạc tế lễ mà thôi. Thực tế cho thấy trong cung Nguyễn, ngoài Nhã nhạc (nhạc dùng để tế lễ) còn có nhiều loại hình âm nhạc khác để vui chơi, giải trí cho vua, cho các bà Hoàng Thái hậu, Hoàng hậu, các vị đại thần và quốc khách như Hát bội, múa lân, múa bông.v.v. Đến cuối triều Khải Định trong cung Nguyễn còn có cả “nhạc Tây” với đàn violon, kèn clarinette…Vì thế không thể hiểu Nhã nhạc có thể gồm tất cả các lọai hình ca-múa-nhạc trong cung Nguyễn được. Trong Nhã nhạc không có phụ nữ, nhưng trong ca múa nhạc cung đình Nguyễn thì có đủ nam, nữ nhạc công / diễn viên và cả nam nữ thiếu niên (ban Đồng ấu). Nên chăng cần phải thống nhất cách hiểu Nhã nhạc là bộ phận âm nhạc tế lễ trong di sản ca múa nhạc cung đình Nguyễn. Hiểu như thế mới thấy rõ được sự tao nhã sang trọng của Nhã nhạc và sự phong phú đa dạng của ca múa nhạc cung đình Nguyễn.

Nhà hát Duyệt Thị Đường không chỉ là nơi diễn xướng Nhã nhạc mà sự thực đó là nơi diễn xướng của tất cả các bộ môn của ca múa nhạc cung đình Nguyễn, đặc biệt là Hát bội. Và chúng ta cũng biết rằng, vua quan triều Nguyễn không những thưởng thức ca múa nhạc dành riêng cho cung đình mà còn say mê cả các lọai hình ca nhạc của bá tánh như Ca Huế, tụng tán trong âm nhạc Phật giáo. Vua Đồng Khánh rất thích nghe Chầu văn ở điện Hòn Chén.

Qua lịch sử và thực tế ta có thể phân ra ba lọai hình âm nhạc sau đây:

1. Nhã nhạc: Âm nhạc dùng để tế và phục vụ các lễ lạt trong cung Nguyễn;

2. Ca múa nhạc trong cung Nguyễn gồm cả Nhã nhạc và các lọai hình ca múa nhạc vui chơi đã có trong cung đình như Hát bội, múa lân, múa bông;

3. Ca nhạc truyền thống Huế được vua chúa Nguyễn ưa thích: Ca Huế, Tụng tán trong nhạc Phật giáo, một số làn điệu trong dân ca (như Chầu văn).

Những gì mà thế giới biết về âm nhạc cung đình Nguyễn được trình bày trên gồm cả 3 lọai nầy. Phải chăng nên phân biệt và gọi đúng tên của từng lọai hình âm nhạc để tránh ngộ nhận trong nghiên cứu cũng như trong việc giới thiệu với người yêu nhạc trong và ngoài nước?

 

Bốn mươi  năm đi tìm diện mạo Duyệt Thị Đường-
nhà hát cổ nhất nước Việt Nam

 

Năm 1965, làm luận văn ra trường Đại học Sư phạm với đề tài Hát bội, tôi đã may mắn được nhiều người am hiểu Hát bội triều Nguyễn giúp đỡ[1], nhưng mỗi lần tôi hỏi đến Nhà hát Duyệt Thị thì lúc nào cũng được bảo “Duyệt Thị Đường làm dưới thời vua Minh Mạng”. Thế thôi. Riêng Phạm Duy thì bảo: “Duyệt Thị Đường được xây cất trong Hoàng thành (Huế) từ năm 1804”[2] tức đầu triều Gia Long. Không có tài liệu gì khác nữa. Bởi vì Duyệt Thị Đường thuộc hệ thống điện đình trong Tử Cấm Thành, ngay cả các sử thần Quốc Sử Quán triều Nguyễn khi biên soạn Đại Nam Nhất Thống Chí đời Duy Tân cũng chỉ kể sơ lược một chút lịch sử Duyệt Thị Đường chứ không dám mô tả chi tiết vì lẽ “qui chế trong điện - đình, lệ không dám biên.”[3].

[1] Như Cụ Di Sơn Ưng Dự (Huế), Giáo sư nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (Sài Gòn), nhà thơ Quách Tấn (Nha Trang), nghệ nhân Hát bội La Cháu (nghệ nhân trong Đòan ba Vũ của bà Từ Cung) v.v.

[2] Về sau Phạm Duy viết lại chi tiết đó trong sách Đặc khảo dân nhạc ở Việt Nam, Nxb Hiện Đại, Sg.1972, tr.154

:yes; �� -tX� hc+ t:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman","serif";}

 

 

ăm 1965, làm luận văn ra trường Đại học Sư phạm với đề tài Hát bội, tôi đã may mắn được nhiều người am hiểu Hát bội triều Nguyễn giúp đỡ[1], nhưng mỗi lần tôi hỏi đến Nhà hát Duyệt Thị thì lúc nào cũng được bảo “Duyệt Thị Đường làm dưới thời vua Minh Mạng”. Thế thôi. Riêng Phạm Duy thì bảo: “Duyệt Thị Đường được xây cất trong Hoàng thành (Huế) từ năm 1804”[2] tức đầu triều Gia Long. Không có tài liệu gì khác nữa. Bởi vì Duyệt Thị Đường thuộc hệ thống điện đình trong Tử Cấm Thành, ngay cả các sử thần Quốc Sử Quán triều Nguyễn khi biên soạn Đại Nam Nhất Thống Chí đời Duy Tân cũng chỉ kể sơ lược một chút lịch sử Duyệt Thị Đường chứ không dám mô tả chi tiết vì lẽ “qui chế trong điện - đình, lệ không dám biên.”[3].


[1] Như Cụ Di Sơn Ưng Dự (Huế), Giáo sư nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (Sài Gòn), nhà thơ Quách Tấn (Nha Trang), nghệ nhân Hát bội La Cháu (nghệ nhân trong Đòan ba Vũ của bà Từ Cung) v.v.

[2] Về sau Phạm Duy viết lại chi tiết đó trong sách Đặc khảo dân nhạc ở Việt Nam, Nxb Hiện Đại, Sg.1972, tr.154

[3] Quốc Sử Quán TN, Đại Nam Nhất Thống Chí, tập Kinh Sư, Nha Văn hóa Bộ QGGD, SG. 1960, tr.19

1. Diện mạo nhà hát Duyệt Thị Đường ám ảnh của một thời trai trẻ

Cho đến nay, Kiến trúc Duyệt Thị Đường qua tài liệu của triều Nguyễn chỉ có mấy dòng: “Duyệt-thị-đường ở ngoài tường phía đông điện Quang-Minh, ngó về hướng đông, qui chế vuông vức rất cao rộng, dựng năm Minh-Mạng thứ 7 (1826) phía tiền-tả làm sở Thượng Thiện, phía hữu làm viện Ngự y, đều ngăn bức tường, đều làm năm Tự-Đức thứ 6 (1853), niên hiệu Thành-Thái làm thêm nhà cầu và nhà bếp. Phía nam viện Ngự-Y cách bức tường có Thị-vệ trực phòng và ty Cẩn-tín. Phía đông ty Cẩn-tín có Tiên trượng khố, dựng trong niên hiệu Thành-Thái[4].

Vì thế trong luận văn Hát bội của tôi nạp cho Trường Đại học Sư phạm Huế lúc ấy (đầu năm 1966), tôi chỉ mô tả được Nhà hát Minh Khiêm Đường chứ không biết gì nhiều hơn về Duyệt Thị Đường. Sau đó tôi đi kháng chiến, dong ruổi đường rừng dưới đạn bom giữa cái sống và cái chết cận kề nhau tôi không còn nhớ đến chuyện học hành nghiên cứu Hát bội nữa. Tuy nhiên, mỗi lần nhớ đến gia đình, nhớ đến ông nội tôi - cụ Nguyễn Đắc Tiêu (1879-1962) - Chánh đội Nhạc chánh Nam triều, nhớ đến bác tôi - ông Nguyễn Đắc Vọng (1907- 1980) - Ngũ đẳng Thị Vệ, tôi không thế không nhớ đến Nhà hát Duyệt Thị Đường nơi - ông nội tôi đã phục vụ trải qua 4 đời vua cuối cùng triều Nguyễn, không thế không nhớ đến Thị-vệ trực phòng - cạnh phía đông nam Duyệt Thị Đường - nơi bác tôi thường trực suốt triều Khải Định và đầu triều Bảo Đại. Vì thế sau năm 1975, với tư cách một người nghiên cứu nghiệp dư, tôi lao vào việc tìm hiểu lịch sử văn hóa Huế, trong đó có ca múa nhạc Cung đình Nguyễn, Hát bội Huế và Duyệt Thị Đường.

2. Nhà hát Duyệt Thị Đường qua ngòi bút của một du khách Pháp

Đầu những năm 80 của Thế kỷ trước, trên đường đi tìm tư liệu vô tình tôi mua được cuốn Le tour d’Asie (Du lịch châu Á) của Marcel Monnier do Nxb Plon (Paris) in năm 1899, dày trên 330 trang. Cuốn sách ghi lại chuyến Du lịch châu Á  nầy có 3 phấn: Phần 1 - Tham quan Nam Kỳ, Căm-pu-chia và Thái Lan (99 trang); Phần thứ hai - Dành cho An Nam (70 trang) và Phần 3 - Tham quan Bắc Kỳ (90 trang). Thời gian Marcel Monnier lưu lại Huế, ông được vua Thành Thái mời vào xem ba đêm Hát bội tại Duyệt Thị Đường nhân lễ vạn thọ (sinh nhật) lần thứ 17 của nhà vua. Marcel Monnier không biết triều Nguyễn có luật cấm ghi chép mô tả những việc trong Tử Cấm Thành nên ông vừa ngồi xem hát vừa quan sát tỉ mỉ kiến trúc nội thất của Nhà hát và những điều mắt thấy tai nghe tại những buổi hát để đưa vào ký sự Le tour d’Asie. Đoạn  ông mô tả nội thất Nhà hát Duyệt Thị Đường làm cho tôi mừng như người trúng số độc đắc. Xin trích dịch một đoạn sau:

Nhà hát hình chữ nhật, mái cong như mái đình chùa được chống đỡ bởi mấy hàng cột gỗ to lớn, sơn son. Nhà hát được xây dựa lưng vào Hoàng cung - ở đó có cung điện dành cho nhà vua và các bà phi. Các bà này xem hát ngồi trên một khán đài cao chiếm gần hết phần cuối của nhà hát. Phía trước khán đài của các bà có treo một tấm màn trúc. Xuyên qua cái “bình phong” mềm mại di động đó các bà thu hình trong một thứ ánh sáng nhờ nhờ, từ đó các bà nhìn ra và không sợ ai nhìn thấy dung nhan các bà. Họ nói chuyện huyên thuyên nhè nhẹ. Xen vào tiếng thỏ thẻ như trong lồng chim ấy là tiếng quạt phành phạch giống như tiếng chim vỗ cánh. Tiếng xào xạc của quần áo lụa, tiếng kim khí của đồ nữ trang chạm nhau, tiếng lanh canh của những sợi dây chuyền vàng, thỉnh thoảng một tiếng cười lại phá lên, tiếng cười của trẻ thơ, tiếng cười sớm được hãm lại và theo sau là một sự im lặng kéo dài.

Cách trang trí nhà hát thật hài hòa: con rồng Việt Nam được thể hiện khắp nơi trên những khung gỗ hoặc bám quanh những thân cột. Trần nhà sơn màu xanh lơ (couleur azur), tinh tú với những dấu hiệu của hoàng cung gắn nổi lên trên.

Đồ gỗ sắp đặt rất tương xứng. Ở chân đài dành cho các  bà hoàng thái hậu và các bà ở hậu cung, ngai vàng đặt trên một cái bệ đứng riêng một mình. Ở bên phải và bên trái đặt hai hàng ghế dành cho các vị quốc khách, cho các vị chức sắc ở tòa Khâm, cho các tướng lãnh quân đội và bộ tham mưu của họ. Xa hơn một chút nữa, ở hai bên sân khấu đặt hai dãy ghế dài trãi vải điều sẫm dành cho các quan trong triều, các vị trong Hội đồng Nhiếp chính và Hội đồng Cơ mật. Tọa vị tại đó là người cuối cùng và đáng kính đại diện cho triều Gia Long, ông hoàng Tuy Lý-con  thứ 11 của vua Minh Mạng. Ngồi bên cạnh ông là cụ Nguyễn Trọng Hợp-đệ tam phụ chánh, người thực sự nắm quyền hành pháp. Tất cả những ngưới có chức tước đều đeo thẻ bài trước ngực. Đó là một loại Kim khánh đeo với một sợi dây bằng lụa màu đỏ. Y phục bằng gấm được thêu hoa với đủ màu sắc sặc sỡ. Cảnh quang được tô điểm thêm bằng bửa cơm chiều dọn trên một cái bàn dài. Có nhiều thứ bánh rất ngon do chính tay các bà phi làm để dành cho vua và các vị khách quý.

Người phục dịch mặc áo ngắn màu đỏ, đi qua đi lại rất nhẹ nhàng, dáng đi uyển chuyển với đôi bàn chân không. Họ rót  rượu mời khách thận trọng như các em giúp rót  rượu lễ trong nhà thờ.

Sân khấu thật sự không có, không có gì ngăn cách giữa thế giới hiện thực với các diễn viên. Diễn viên di động đồng bộ với khán giả trong khung hình vuông rộng được tổ chức ngay phía trước ngai vàng và chỗ dành cho các quan lại. Trang trí theo lối cổ: một bức tường có trổ hai cửa, đi ra bên trái, đi vào bên phải.

Sân khấu như thế, người xem được dự vào cái thế giới của nghệ thuật.” (tr.186-189)

Marcel Monnier đã cung cấp cho tôi một tư liệu quý giá. Tôi tưởng cho đến lúc đó có thể xem là tư liệu độc nhất. Không ngờ trước thời Thành Thái, vua Đồng Khánh đã từng mời Khâm sứ F. Baille vào Duyệt Thị Đường xem Hát bội và F. Baille đã mô tả Duyệt Thị Đường qua đoạn  trích sau:

Gian phòng không được sáng sủa lắm. Hàng cột và những cây đà ngang làm bằng gỗ nguyên thân màu đen càng tăng thêm vẻ u tối. Trên trần nhà có vẽ hình mây bay, nhiều ngôi sao, mảnh trăng khuyết trên nền xanh đã ám bụi thời gian. Chúng tôi thấy có hai hay ba cánh cửa sập để dùng trong lúc diễn tuồng. Vài cây đèn dầu lửa loại thường của người Âu chế tạo đong đưa dưới cây sắt dài, vài cây đuốc để trên bàn và dưới đất không đủ sức soi sáng cả gian nhà quá rộng. Nhiều chiếc chiếu trải trên mặt đất giữa phòng làm sân khấu[5].

Qua hai đoạn ký trên ta có thể hình dung được nghệ thuật Hát bội Cung đình xưa như thế nào. Tuy nhiên, diện mạo của Nhà hát Duyệt Thị Đường cụ thể ra sao thì vẫn chưa biết được. Vì thế tôi vẫn chưa thỏa mãn. 

Nhiều năm sau đó, tôi sưu tầm thêm được đôi câu đối vua Minh Mạng đã cho khắc ở Duyệt Thị Đường như sau:

     “ Âm nhạc tịnh trần hòa kỳ tâm nhi dưỡng kỳ chí
               Nghiêm xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi”

( Dịch nghĩa:

Âm nhạc bày ra hòa được lòng và dưỡng được chí

Tất cả bày biện, ta hãy tiếp thu những điều phải, điều hay và nhìn những cái sai lầm trong đó để răn mình)

Qua cặp đối nầy ta biết được quan niệm về nghệ thuật của ông vua trọng đạo Nho Minh Mạng. Nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng là để “tải đạo”, xây dựng nhân cách cho con người. Được xem Hát bội ở Duyệt Thị Đường là một vinh dự lớn của quan binh thời quân chủ. Sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên cho biết: “Mùa Thu tháng 8, Ất mùi (Minh Mạng thứ 16, 1835), nhân tưởng thưởng cho những người có công vua Minh Mạng đã dụ: “Cho các bầy tôi xem hát bội ở nhà Duyệt Thị 3 ngày. Chuẩn cho văn từ chủ sự, võ từ phó vệ úy[6]  đếu được dự[7]

3. Nhà hát Thanh Phong Đường tiền thân
của Nhà hát Duyệt Thị Đường

Tiếp tục tìm thêm tài liệu Duyệt Thị Đường, tôi phát hiện thấy trong sách Đại Nam Thực Lục Chính biên đời Gia Long có một thông tin cho biết vào năm Ất sửu - Gia Long thứ tư (1805), “Tháng 3, (vua Gia Long cho) dựng nhà Thanh Phong cùng trường lang tả hữu, các sở nhà vuông, [phương gia], hành lang bên [dực lang], kho nội [nội tàng]. Thưởng cho các quân ứng dịch 2.000 quan tiền[8] . Nhà Thanh Phong là nhà hát của Hoàng cung đầu triều Nguyễn.

Lúc bấy giờ trong triều đình Huế có một quan lại người Pháp tên là J.-B. Chaigneau. Ông nầy đã từng có công lớn trong việc giúp cho vua Gia Long “phục quốc”  nên rất được tin dùng và được cưới một người vợ Việt Nam tên là Hồ Thị Huế.  Ngày 25.6.1803, đôi vợ chồng Chaigneau - Huế sinh được cậu con trai đầu lòng đặt tên là Michel Đức Chaigneau. Cậu bé lai Pháp Việt đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nầy nói tiếng Việt, học chữ Hán với các ông thầy đồ ở Huế và học tiếng Pháp với chính thân sinh cậu là J.-B. Chaigneau. Thời thơ ấu Michel Đức Chaigneau được theo cha vào thăm trong Hoàng cung, được gặp các bà trong Nội cung, được xem Hát bội ở Thanh Phong Đường. Thời vua Minh Mạng, việc giao hảo với người phương Tây bị hạn chế, Michel phải theo gia đình về Pháp (1825). Vì quá gắn bó với Huế nên khi trưởng thành Michel Đức Chaigneau đã viết một cuốn hồi ký về Huế rất đặc sắc mang tựa đề Souvenirs de Hué (Kỷ niệm Huế) dày trên 240 trang. Đây là một pho tư liệu rất quý về Huế-Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Michel Đức Chaigneau nhớ lại buổi xem hát trong Thanh Phong Đường như sau:

Nhà hát nầy là một tòa kiến trúc lớn, hình chữ nhật, cùng một kiểu và cùng loại với các công trình cung điện khác, không kể đến cách bố trí bên trong, ở trung tâm là một hình vuông lớn dùng làm sân khấu (destiné à la scène), ở hai bên phải và bên trái là hai hàng bục dành cho các quan; một đầu ngôi nhà dành cho các diễn viên (loge aux acteurs) và đầu kia dành riêng cho nhà vua và cung tần mỹ nữ (dames de la cour). Phòng dành cho các diễn viên được ngăn cách bởi một bức đố có trỗ nhiều cửa và treo nhiều bức trướng để trang trí. Gần trung tâm bức đố ấy có một cái bục đặt sẵn một cái ghế bành đặt trước một cái bàn  trên có tán che (dais) dành riêng cho những diễn viên đóng vai chính trong vở tuồng.

Trước các bệ hoàng gia (estrades rayales) được viền quanh với một giải gỗ đã được trau chuốt, sơn đỏ và treo các bức sáo mành. Các thị vệ, người hầu kẻ hạ đứng trực phía sau các quan và các nhạc công ngồi trên những cái bệ kê sát đất, gần bức đố của phòng diễn viên, theo sau những cái bục dành cho các quan.

[…] Có chừng 50 diễn viên từ hai bên phòng diễn viên đi ra và sắp thành hàng trước những bức sáo mành, mặt mày họ đã được hóa trang với đủ thứ màu sắc, nổi bậc nhất là màu đỏ, xiêm y đúng với những vai tuồng mà họ sắp diễn. Họ phủ phục 5 lần rồi đồng loạt đứng dậy hát một bài ca kéo dài trong mấy phút rồi trở vô phòng. Bấy giờ các nhạc công mới tấu lên một bài nhạc dạo... Trống lớn (grosse caisse), kèn (haut-bois), sáo, (flutes), tù và (cornes de buffles) ....

Lớp tuồng vô cùng sống động, diễn tả một ông vua đang cơn giận dữ với hai viên quan... Một trận mưa tiền đồng vải vô sân khấu để ban thưởng... Khán giả hứng thú quên mất chuyện họ đang ở trước mặt đức vua. Họ vui thích dậm chân rầm rập, vỗ tay đôm đốp và gật đầu tỏ vẻ tán thưởng vai tuồng chính ...”[9]

So sánh với những thông tin mà Marcel Monnier đã mô tả về Duyệt Thị Đường thời Minh Mạng, ta thấy sân khấu Duyệt Thị Đường được tổ chức gần giống với Thanh Phong Đường thời Gia Long; nghĩa là một sân khấu ở giữa nhà, hai bên dành cho các quan, một đầu nhà hát dành cho vua và các bà trong cung có sáo che, đầu kia dành cho diễn viễn. Những thông tin nầy rất bổ ích cho việc nghiên cứu sân khấu cổ truyền Việt Nam và việc phục hồi Nhà hát Duyệt Thị Đường nằm trong hồ sơ Nhã  Nhạc đã được công nhận là Di sản phi vật chất và truyền khẩu của nhân lọai. 

4. Sử dụng nhà hát Duyệt Thị Đường thời Khải Định làm trường Quốc gia âm nhạc Huế

Sau năm 1975, tôi có nhiều dịp vào ra Duyệt Thị Đường - nơi từ 1962 đã được Chính quyền Sài Gòn sử dụng làm cơ sở của Trường Quốc Gia Âm Nhạc (QGAN) Huế. Lúc đó ông Nguyễn Đắc Vọng-Ngũ đẳng Thị vệ của vua Khải Định và Bảo Đại) còn khỏe mạnh. Ông cho biết tòa nhà chính của Nhà hát Duyệt Thị Đường đã có từ trước, được vua Khải Định tu sửa và sử dụng vào dịp lễ Tứ tuần Đại Khánh của vua Khải Định. Và cũng nhân đó, nhà vua cho làm mới Thị Vệ Trực Phòng theo kiểu Á kiêm Âu luôn”.  Điều đó chứng tỏ trường QGAN Huế sử dụng lại cơ sở cũ và chuyển đổi chức năng của Duyệt Thị Đường chứ không phải xây dựng một tòa lầu mới trên vị trí của Duyệt Thị Đường  cũ. Tôi hỏi:

-“Vậy làm sao ngôi nhà Duyệt Thị Đường có thể tồn tại được trước cơn binh lửa đầu năm 1947 ?”

Ông Ngũ Vọng đáp:

-“ Các sở Đông Các, Văn Minh, Quang Minh  ở phía bắc Duyệt Thị Đường đều bị đốt cháy hết, nhưng Duyệt Thị và hai sở Thượng Thiện và viện Ngự Y thì may mắn không can chi”.   

Sau nầy có dịp tiếp xúc với tư liệu tôi thấy những điều ông Ngũ Vọng còn nhớ rất đáng tin.

Trong một bộ ảnh cũ mà tôi đã sưu tập được về lễ Tứ tuần Đại khánh của vua Khải Định, dù chưa đầy đủ nhưng tôi cũng đã biết được lúc đó ngoài các đội Ca múa nhạc Cung đình Nguyễn, trên sàn diễn Nhà hát Duyệt Thị Đường có các đoàn nghệ thuật của các địa phương sau đây: Đoàn múa hát miền Nam; Đoàn kịch hát Nam Định; Đoàn múa hát miền Bắc; đặc biệt có cả Đoàn trống chiên của  các dân tộc ít người. Có lẽ đây là một “hội diễn” văn nghệ đầu tiên ở Huế xưa.

Theo bài Những tài liệu liên quan đến lễ lược Tứ tuần Đại Khánh của Délétie đăng trong BAVH (số tháng Tư-Sáu/1925), trong dịp đại lễ nầy có ít nhất hai họat động quan trọng đã diễn ra tại Duyệt Thị Đường:

Hoạt động thứ nhất được tổ chức ngay sau Lễ chính thức (ngày 29 và 30 tháng 9 năm 1924) một ngày: Nhà vua đãi yến và tặng quà cho các vị tôn tước từ tứ phẩm trở lên, các Công tôn, Công tử, Tôn thất và Thích lý (bà con về bên ngọai của nhà vua), các quan lại văn võ đang làm việc ở Huế, văn từ Tư vụ trở lên, võ từ Suất đội trở lên cũng như các quan lại đã hưu trí từ Tùng ngũ phẩm trở lên (tr.56);

Hoạt động thứ hai: 5 ngày sau Lễ chính thức, tổ chức biểu diễn hát bội ca kịch liên tiếp trong 3 ngày ở Duyệt Thị Đường để chiêu đãi các hoàng thân, các quan đại thần văn võ trong triều đình, các người trong ban tổ chức lễ Tứ tuần Đại khánh và các vị tôn tước từ tứ phẩm trở lên. Không những được xem văn nghệ mà tất cả các khách mời nầy đều được dự buổi ăn tối (tr.57).

Tư liệu và hình ảnh cho thấy chưa bao giờ Kinh đô Huế có được một “hội diễn” đông đảo như thế. Quả thật, đối với lễ Tứ tuần Đại khánh, Duyệt Thị Đường được sử dụng như một Hội trường lớn.

Thêm nữa, trong bài Tường Trình về Tình trạng Hoàng Cung ở Huế (đến ngày 14 tháng 9 năm 1947) của Nguyễn Bá Chí đăng trong Dân Việt Nam (số 1 tháng 5/1948) do Viện Viễn Đông Bác Cổ xuất bản (tr.77-79) cho biết trong cơn binh lửa đầu năm 1947, hấu hết các cung điện từ Đại Cung Môn ra tận Điện Kiến Trung và tất cả các cung điện nằm kế cận hai bên đều bị đốt phá hư hại phần lớn hay phá hủy hoàn toàn. Còn Duyệt Thị Đường và hai cơ sở Thượng Thiện và Viện Ngự Y ở trước sân không hề hấn gì.

Sự kiện Duyệt Thị Đường được chuyển đổi chức năng làm trường QGAM Huế được khẳng định thêm bởi một nhân chứng sống từng giữ chức Phó Chủ tịch UBMTTQ tỉnh TTH vừa hưu trí một vài năm trở lại đây. Nhân chứng đó là ông Nguyễn Hữu Vấn - cháu ruột Nhạc sư Nguyễn Hữu Ba. Ông Vấn từng phụ trách bộ môn Quốc nhạc của trường QGAN Huế từ năm 1962 đến năm 1968[10]. Ông Vấn cho biết: Trước khi khai giảng niên khóa đầu tiên (1962-1963), Linh mục
Ngô Duy Linh - Hiệu trưởng trường QGAN Huế, giao cho ông cùng thầy trò trường nhạc phải dọn dẹp làm vệ sinh tòa Duyệt Thị Đường để làm nơi học tập. Công việc dọn dẹp kéo dài đến gần 6 tháng mới xong. Ông Vấn khẳng định:

-“Năm 1962, trường QGAN Huế sử dụng tòa nhà Duyệt Thị cũ để dạy học và sử dụng ngôi nhà Thị Vệ Trực Phòng độc nhất còn lại phía bên tay mặt sân trước làm chỗ ở cho Hiệu trưởng Ngô Duy Linh. Bên trong nhà Duyệt Thị có 4 việc khác trước: 1. Sửa chữa các bộ cửa ra vào  và cửa sổ trên hai dãy gác đã quá cũ ; 2. Ngăn tạm hai dãy gác hai bên để làm các phòng học; 3. Dùng vải che cái gác dành cho các bà trong Nội cung ngồi xem hát trước kia và cái bục từng đặt ngai vàng dành cho vua  ở cuối đầu phía tây nhà Duyệt Thị (Linh mục Ngô Duy Linh căn dặn không được vi phạm những nơi lịch sử ấy); 4. Dựng một sân khấu trước tấm màn che để cho sinh viên âm nhạc tập sự biểu diễn.

(Mùa Xuân năm 1968, sau thời gian chiến đấu ở Cửa Đông Ba, đơn vị Thanh niên Thành phố của tôi đã vào đóng tại trường QGAN Huế và đã ăn ngủ ngay trên cái sân khấu mới dựng nầy). 

Qua tài liệu và nhân chứng nêu trên đặt ra vấn đề: Cơ sở của trường QGAN Huế do chính quyền cách mạng tiếp quản sau tháng 3.1975 chính là Nhà hát Duyệt Thị Đường có từ trước chứ không phải do chính quyền Sài Gòn (1947-1975) dựng lên từ sau năm 1962 (năm ra đời của trường QGAM Huế) như ức đóan của một số nhà nghiên cứu. 

[Tuy nhiên, cho đến nay tôi vẫn chưa xác định được thời điểm triệt hạ hai kiến trúc sở Thượng Thiện và viện Ngự Y ở trước sân Duyệt Thị Đường. Theo Nguyễn Bá Chí như đã dẫn trên, sau năm 1947 hai kiến trúc Thượng Thiện và Ngự y vẫn còn ghi trên sơ đồ và thuộc dạng không bị hư hại gì. Mãi đến những năm sáu mươi, trong  Bản đồ Hoàng Thành (Đại Nội Huế) do Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thực hiện, ghi rõ 136 di tích trong Đại Nội, hai kiến trúc Thượng Thiện và Ngự y cũng vẫn còn và được đánh số 34 và 35. Nhưng ông Nguyễn Hữu Vấn nhớ lại là khi thầy trò ông đến tiếp nhận Duyệt Thị Đường (1962) để làm trường QGAN thì không thấy có bất cứ một kiến trúc nào khác ngoài kiến trúc Thị Vệ Trực Phòng ở sâu bên phải sân Duyệt Thị dành làm nơi ở của Hiệu trưởng Ngô Duy Linh như đã nói trên. Nghĩa là hai kiến trúc Thượng Thiện và Ngự Y đã bị triệt hạ trước khi những người có trách nhiệm đến tiếp thu Duyệt Thị Đường để làm trường nhạc.

Qua nhân chứng và tư liệu tôi ức đóan có lẽ hai kiến trúc nầy đã bị triệt hạ ngay khi có chủ trương giao Nhà Duyệt Thị cho trường QGAN Huế vào đầu những năm sáu mươi và Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng không quan tâm nên khi in tấm bản đồ nầy trên tạp chí Xây Dựng Mới (số 3/2.1967) vẫn giữ hai kiến trúc nầy trên bản đồ. Tôi ức đóan như thế, còn chính xác vào thời điểm nào còn phải tiếp tục nghiên cứu].  

5. Nhà hát Duyệt Thị Đường với những thông tin mới 

Nhà hát Duyệt Thị Đường tọa lạc ở góc đông nam trong Tử Cấm Thành Huế. Theo một không ảnh chụp khoảng năm 1932, trên mảnh đất nằm giữa Tử Cấm Thành và Duyệt Thị Đường có hai kiến trúc được nối với Duyệt Thị Đường bằng hai nhà cầu nhỏ theo hướng đông-tây. Hai kiến trúc đó là sở Thượng Thiện và viện Ngự Y của các vua Nguyễn.

5.1. Các cửa dẫn vào Duyệt Thị Đường

     5.1.1. Người ngoài từ Hoàng thành vào Duyệt Thị Đường phải qua hai lối chính:

Lối thứ nhất: Dành cho quan khách đi từ cửa Hưng Khánh (phía đông Tử Cấm Thành) qua một hành lang dài (rộng 5,5m) chạy giữa hai dãy thành cao ngăn cách khu Duyệt Thị Đường (phía nam) và khu vườn Thiệu Phương (phía bắc) rồi rẽ về phía nam vào cửa Duyệt Thị Tả Môn (cửa bên trái nhà Duyệt Thị, cao gần 5m, rộng 4,2m, trong lòng xây cuốn vòm, thực hiện năm Minh Mạng thứ 9 - tức 1828) để vào Duyệt Thị Đường. Đối diện với Duyệt Thị Tả Môn qua hành lang có cổng thông với vườn Thiệu Phương. Chứng tỏ ngày xưa người ở Vườn Thiệu Phương có thể vào Duyệt Thị Đường bằng Duyệt Thị Tả Môn. Trong khi đó lính Thượng Thiện đi chợ mua vật phẩm về cũng đi qua cửa Hưng Khánh, nhưng cách Duyệt Thị Tả Môn chừng 1,8m liền rẽ phía nam, vào cửa phụ xây cuốn vòm cao 2m, rộng 1,4m rồi vào nhà bếp sở Thượng Thiện [11] Sở Thượng Thiện được ngăn cách với đường từ Duyệt Thị Tả Môn vào Duyệt Thị Đường bởi một bức tường cao. Và, qua nghiên cứu được biết ở cuối hành lang còn có một cửa nữa nối với trường lang chạy từ góc tây nam điện Hoàng Phúc với Duyệt Thị Đường. Có lẽ cửa nầy dành riêng cho Thị vệ và Thái giám hằng ngày đệ thức ăn từ sở Thượng Thiện lên điện Càn Thành cho nhà vua.

 Lối thứ hai: Từ cửa nách xây cuốn vòm phía đông Tử Cấm Thành đi thẳng vào và rẽ phải qua cửa Duyệt Thị Hữu Môn - xây dựng ở đầu phía nam hành lang chạy ở giữa Duyệt Thị Đường và Sở Thượng Thiện- Viện Ngự Y. Có lẽ cửa nách nầy dành cho nội bộ như dành riêng các diễn viên vào Duyệt Thị Đường biểu diễn, các Thị vệ bên ngoài vào ra Thị Vệ trực Phòng tọa lạc phía nam Viện Ngự Y [12]

[Hiện nay ở mặt phía đông (mặt trước) Duyệt Thị Đường có một Cửa tam quan (cửa chính vào Duyệt Thị Đường ngày nay): Cửa giữa cao 3m, rộng 4 m; cửa hai bên cao: 2,25m, rộng 1,9m. Trong và ngoài đắp nổi ba chữ Duyệt Thị Đường, trên có mái che. (Các nhà khảo cổ cho rằng Cửa tam quan nầy mới được xây dựng từ khi chính quyền cũ ở miền Nam cải tạo Duyệt Thị Đường để làm trường QGAM Huế (tức 1962). Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hữu Vấn cửa Tam quan nầy đã có từ trước khi thầy trò ông đến tiếp thu Duyệt Thị Đường  để làm trường QGAM Huế.]

     5.1.2. Con đường đưa nhà vua và các bà trong Nội cung đến Duyệt Thị Đường.

Lúc đầu nhà hát Duyệt Thị Đường chỉ dành riêng cho nhà vua và chốn Nội cung, rất riêng biệt. Tất cả các bà trong Nội cung muốn đến Duyệt Thị Đường đều phải đi qua trường lang ở hiên sau điện Càn Thành rồi đi tiếp trường lang nối từ phía đông điện Càn Thành dẫn qua trước cửa Nhật Thành Lâu đến góc tây nam điện Hoàng Phúc liền rẽ góc vuông dẫn thẳng vào phía tây (phía sau) Duyệt Thị Đường. Đoạn  trường lang nầy nằm giữa hai dãy thành cao hai bên. Dãy phía đông ngăn khu vực mặt tây của Duyệt Thị Đường, dãy phía tây ngăn cách với hồ nước và điện Quang Minh. Phía sau Duyệt Thị Đường có một cầu thang dẫn lên gác có che sáo ở cuối đầu phía tây Duyệt Thị Đường - nơi dành cho các bà. Bên cạnh cầu thang có cửa dẫn vào cái bục đặt ngai vàng dành cho nhà vua ngồi xem hát. Nhờ hệ thống tường và sáo che chắn kỹ như thế nên không một ai đi xem hát được nhìn thấy dung nhan của các bà.

Trên bức tường ngăn cách điện Quang Minh và Duyệt Thị Đường  có trổ một cửa nhỏ dành cho Hoàng tử ở Điện Quang Minh đi xem hát. 

5.2. Nhà hát Duyệt Thị Đường

Theo kết quả khảo cổ học[13]  diện tích móng ban đầu của Duyệt Thị Đường theo chiều dài đông-tây là 45,9m và chiều rộng nam-bắc là 34,5m. Hệ thống móng nầy cách đều móng Nhà hát Duyệt Thị Đường hiện tại ở hai mép đông và tây là 2,8m, hai phía nam bắc là 6,8. Nền nhà gốc ở độ sâu 18 cm đến 25 cm (so với nền nhà Duyệt Thị Đường hiện tai), lát gạch Bát Tràng màu đỏ tươi kích thước 38cm x 38cm x 3,5cm.     

Giữa nhà có sàn diễn hình chữ nhật dài theo chiều nam bắc 10,5m x 9,1 m, lát gạch xi-măng tráng men màu đen, kích thước 20cm x 20cm x 2 cm. Hàng gạch chung quanh sàn diễn khác màu, trang trí hồi văn hình chữ T, có kích thước như gạch lát sàn diễn. Nền nhà phía sau nối với trường lang và được lát bằng gạch Bát Tràng màu nâu sẫm kích thước 38cm x 38cm x 6,5cm cùng lọai với gạch Bát Tràng lát trường lang.  

5.3. Các công trình phụ thuộc

Nhà hát Duyệt Thị Đường trải qua các đời Minh Mạng, Thiệu Trị là một Nhà hát độc lập với Thị vệ trực Phòng ở sâu phía đông nam. Đến đời Tự Đức có lẽ do yêu cầu đặc biệt của vua nên phải làm thêm những những công trình phụ thuộc. Yêu cầu đặc biệt của vua Tự Đức: Nhà vua rất thích Hát bội, mỗi suất diễn kéo dài trong nhiều ngày đêm (vở Vạn Bửu Trình Tường diễn liên tiếp 100 buổi) do đó phải làm nhà bếp bên cạnh để nhà vua vừa ăn vừa xem hát. Xem hát như thế rất mệt mỏi, sức khỏe nhà vua lại rất kém nên lại cần phải có ngự y túc trực bên cạnh để săn sóc sức khỏe cho nhà vua. Do đó vào năm Tự Đức thứ 6 (1853), nhà vua cho xây dựng trước sân Duyệt Thị Đường hai công trình phụ thuộc: phía trái là sở Thượng Thiện, phía phải là viện Ngự Y. Dĩ nhiên hai công trình nầy ở gần nhưng biệt lập với Duyệt Thị Đường bằng những bức tường cao. Đến đời Thành Thái cho làm tiếp hai nhà cầu nối hai công trình phụ thuộc vào Duyệt Thị Đường  như Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi và tấm không ảnh còn chụp được vào năm 1932. 

6. Trùng tu Nhà hát Duyệt Thị như nó đã có - một yêu cầu cần thiết

Vua Gia Long lập Nhà hát Thanh Phong. Vua Minh Mạng xây dựng lại thành Nhà hát Duyệt Thị (1826) trên vị trí cũ của Nhà hát Thanh Phong. Đến thời Tự Đức lập thêm nhà hát Minh Khiêm Đường ngay trong Khiêm Cung (lăng Tự Đức). Đời Khải Định dựng thêm Nhà hát Cửu Tư  trong cung An Định. Nhà hát Minh Khiêm và Nhà hát Cửu Tư cũng như Nhà hát Duyệt Thị đã có từ trước chỉ dành cho Nhà vua, gia đình và một số đại thần. Để có thể mở rộng đối tượng xem hát và thêm chức năng phòng hội, nhân lễ Tứ tuần Đại khánh (1925), vua Khải Định đã cho sửa sang Nhà hát Duyệt Thị để có sức chứa lớn hơn. Không rõ đời Bảo Đại (1926-1945) có sửa chữa thêm gì không, nhưng theo nhân chứng thì khi chuyển qua làm trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế (1962), cơ sở chính của nhà hát Duyệt Thị là di sản đã có từ thời Nguyễn.

Học giả Lelièvre trong bài Le Théâtre annamite (France Asie 1931, tr..228) cho rằng Duyệt Thị Đường là nhà hát đầu tiên ở nước ta. Đúng như thế, trong lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung và lịch sử sân khấu Việt Nam nói riêng, Duyệt Thị Đường là nhà hát quốc gia cổ nhất, lớn nhất và đã có mặt trong lịch sử trải qua các thời kỳ. Ngày nay Nhã nhạc-Âm nhạc cung đình Nguyễn - (các lọai hình nghệ thuật biểu diễn gắn liền với sân khấu Duyệt Thị Đường)  đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân lọai, việc nghiên cứu để trùng tu lại Nhà hát Duyệt Thị đúng như nó đã có vào thời điểm kiến trúc Kinh đô Huế chuyển thành Di tích lịch sử của triều Nguyễn (chiều 30.8.1945- thời điểm vua Bảo Đại thóai vị, chấm dứt thời đại quân chủ ở nước ta) là một đòi hỏi hết sức cần thiết của dân tộc và nhân lọai hiện nay.  

Bài viết nầy là một đóng góp nhỏ cho đòi hỏi cần
thiết ấy.

 

 


[1] Hoa Bằng, Quang Trung Nguyễn Huệ anh hùng dân tộc, Nxb Bốn Phương, SG.1951, tr. 234-5

[2] Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Bộ Lễ trọn quyển 99  , bản dịch, tập 7, Nxb Thuận Hoá , Huế 1993)

[3] Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hóa Sử cương, Nxb Bốn Phương, SG 1951, tr.293

[4] Như chú thích (3)

[5] Danh sách nầy rất thiếu sót, kính mong các bậc thức giả và gia đình người thân của các nhạc sĩ, nhạc công Nhã nhạc va âm nhạc cung đình Nguyễn bổ cứu.        

[6] Nguyễn Đắc Xuân, Phủ bà chúa Nhất với văn hóa Huế đầu thế kỷ XX, Kiến Thức triều Nguyễn và Huế xưa, t.2, Nxb Thuận Hóa, Huế 2002, tr.18-25

[7] Đỗ Bằng Đòan và Đỗ Trọng Huề -Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam-Nxb Hoa Lư, SG 1963, tr.442-3;

[8] Đạm Phương nữ sử, Lược khảo về tuồng hát An Nam, Nam Phong số 76, tháng 10/1923

[9] Tên các tổ chức Nhã nhạc và ca múa nhạc cung đình Nguyễn vừa dẫn mới chỉ là một sưu tập chưa đầy đủ. Chúng tôi nêu lên để các nhà nghiên cứu bổ sung. Rất mong được quan tâm giúp đỡ.

[10] Phần 3 trên đây tổng hợp theo tài liệu của GSTS Trần Văn Khê

[1] Như Cụ Di Sơn Ưng Dự (Huế), Giáo sư nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (Sài Gòn), nhà thơ Quách Tấn (Nha Trang), nghệ nhân Hát bội La Cháu (nghệ nhân trong Đòan ba Vũ của bà Từ Cung) v.v.

[2] Về sau Phạm Duy viết lại chi tiết đó trong sách Đặc khảo dân nhạc ở Việt Nam, Nxb Hiện Đại, Sg.1972, tr.154

[3] Quốc Sử Quán TN, Đại Nam Nhất Thống Chí, tập Kinh Sư, Nha Văn hóa Bộ QGGD, SG. 1960, tr.19

[4] QSQTN, như (3),  tr.25

[5] F.Baille, Les Annamites, t/c Bibliothèque illustrée des voyages autour du monde par terre et par mer” số 38, Paris tháng 12/1891, trích lại Văn Hóa tập san số 4, SG.1973, tr.75)

[6] Phó vệ úy chỉ huy các vệ Cẩm Y, vệ Kim Ngô, vệ Loan Giá, trật Tòng Tam Phẩm (3-2)

[7] QSQTN, Đại Nam Thực Lục Chính Biên tập XVII, Nxb KHXH, HN. 1966, tr.70

[8] QSQTN, Đại Nam Thực Lục Chính Biên, tập Một, Nxb Giáo Dục, HN.2002, tr.628,

[9] Michel Đức Chaigneau, Souvenirs  de Hué, 2è Édition, Changhai 1941, p.112-113

[10] Sau đó ông Vấn đi kháng chiến và có nhiều năm cùng công tác với người viết bài nầy trong một cơ quan

[11] Cửa nách nầy đã bị bịt kín

[12] Cửa nách nầy đã bị bịt kín, nhưng vẫn còn để lại dấu vết trên tường phía đông nam Tử Cấm Thành, cách cửa chính hiện nay 17, 5m về phía nam

[13] Bảo tàng Lịch sử Việt Nam-TTBT Di tích Cố đô Huế, Khảo Cổ học Di tích Cố đô Huế 1999-2002, Khu Di Tích Duyệt Thị Đường, Huế 2003; 

 

Bà Từ Dũ với vở tuồng
Đường Chinh Tây

Từ Dũ rất thích Hát bội. Nhân lễ khánh tiết bà cho vời đoàn Thanh Bình vào hát trước cung Gia Thọ (đời Khải Định đổi thành cung Diên Thọ). Hôm ấy đoàn hát tuồng truyện, vở Đường Chinh Tây, lớp “Phàn Lê Huê tru huynh, sát phụ“. Hát cho bà  Hoàng Thái hậu xem, các diễn viên tuồng hôm ấy đã cố gắng, hát rất đạt. Đặc biệt vai Phàn Lê Huê do một kép giả đào đóng tài tình vô cùng.

Xem xong, bà Từ Dũ âu sầu với vẻ mặt khó chịu. Bà liền gọi đội trưởng vào bảo:

- Người Tàu đặt truyện ấy thật nghịch lý nhẫn tâm. Đã đặt cho Phàn Lê Huê tài phép đến thế ấy, tùng sử có chuyện chi gấp rút đến mấy đi nữa, thời với tài ấy cũng có thể tránh trút như chơi. Chớ chi đến nỗi phải giết cha, giết anh chẳng còn tình nghĩa chi hết. Người Tàu khác, người mình khác. Người đặt truyện đã đặt bậy, cớ sao người soạn tuồng cũng soạn bậy luôn? Phải sửa lại đừng cho như vậy, mới là hợp lý và thuận với người nước ta!

Đội trưởng đội Thanh Bình cúi đầu nhận lỗi và hứa sẽ sửa lại.

Vua Tự Đức nghe mẹ phê phán đội Thanh Bình ông cũng cảm thấy mình có phần trách nhiệm. Sau đó, để cho những chuyện nghịch lý kiểu ấy khỏi xảy ra nữa, ông ra lịnh thu tất cả các bản tuồng đang lưu hành trong dân gian đưa về Kinh nhuận sắc. Vở nào không đúng với đạo lý Việt Nam - theo quan điểm của Tự Đức - đều phải sửa. Kể từ đó, tuồng Việt Nam có bản Kinh và bản Phương. 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123