Lễ Tế Nam Giao năm 1942

A.De Rotalier   

Festival Huế 2004 sẽ diễn ra vào trung tuần tháng 6/2004. Trong chương trình Festival có lễ hội Nam Giao- một phần của lễ tế Nam Giao ngày xưa. Do đó nhiều độc giả muốn biết về lễ tế Nam Giao như thế nào.

Tế Nam Giao là một “lễ hội” lớn thời quân chủ ở Huế. Nó nổi tiếng và được nhắc nhở trải qua các thời kỳ lịch sử không những vì nó lớn, mà còn vì tính nhân văn của cuộc lễ ba năm mới có một lần ấy. Tài liệu về tễ Tế Nam Giao rất phong phú, có thể tìm thấy trong Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (Bộ Lễ), tạp chí Nam Phong (10/4/1918) hoặc trong một số sách của các nhà nghiên cứu Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề (Những Đại lễ và Vũ khúc của vua chúa Việt Nam, Hoa Lư, SG 1969), Bửu Kế (Đại học số 37/2.1964), Lê Văn Hoàng (Lễ tế Nam Giao, Huế 1971), Lê Văn Phước (Sự tích đàn Nam Giao…Luận văn Cao học. 1972) .v.v.

 Nhiều học giả, tác giả nước ngoài cũng đã nghiên cứu và viết về Lễ tế Nam Giao đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH), trong Indochine Hebdomadaire Illustré. Bài bút ký La Ville en Fête, Le Nam Giao 1942 (Thành phố ngày hội, Lễ tế Nam Giao năm 1942) của ông A.De Rotalier đăng trên Indochine Hebdomadaire Illustré (số ra ngày 16.4.1942) là một trong những bài của người nước ngoài viết được độc giả rất quan tâm.

 Ông A.De Rotalier có kiến thức về tễ Tế Nam Giao, lại biết trân trọng văn hóa phương Đông, và muốn tìm một sự hòa hợp Đông Tây cho cuộc sống hiện đại nên ông đã thấy được cái tính nhân bản trong lễ Tế Nam Giao. Cái nhìn của A.De Rotalier gần với cái nhìn của  người Việt Nam đang hướng đến sự hội nhập hôm nay. Vì thế tôi cố nhập vào hồn cây bút A.De Rotalier để chuyển ngữ bài viết của ông.

Trong bài viết, A.De Rotalier có sử dụng một số tư liệu Hán-Việt, khi chuyển ngữ tôi không chuyển những tư liệu ấy từ Pháp sang Việt mà thay vào đó là những tư liệu gốc chuyển trực tiếp từ Hán Việt sang Việt. Và, cũng xin lưu ý thêm: A.De Rotalier là một người Pháp viết báo, ông đã giản lược nhiều chi tiết trong lễ Tế Nam Giao. Độc giả nào muốn có đầy đủ tư liệu về lễ Tế Nam Giao nên tìm đọc những tư liệu tôi giới thiệu ở trên. NĐX.

Trong không khí còn ngậm hơi sương mờ ảo ban mai, thành phố Huế đã rộn ràng náo nhiệt. Bởi vì dân chúng đang chờ đợi ngày lễ Nam Giao quan trọng ba năm mới diễn ra một lần. Ghe thuyền từ các nơi chèo về làm cho con sông Hương êm đềm trở nên sôi động. Mái chèo đưa đẩy nhịp nhàng hướng lên phía trước, con thuyền lướt nhẹ ngược với cái bóng của chính nó in trên mặt nước lặng lờ. Ở cái bùng-binh đầu cầu Trường Tiền mấy cái long đình (table-autel) che màn lụa với bộ khung kết bằng lá cây, trên nóc có hai con rồng bằng rơm và lá hoa đá nhe nanh múa vút. Màn lụa nhiều màu nhưng nổi bật nhất là màu vàng. Các long đình tôn trí các bài vị lấp lánh ánh bạc, vàng và đồng.

Cờ Pháp Nam nhiều màu phấp phới khắp nơi.

Những rặng dừa im lìm dang rộng những cành lá hiu hiu trước làn gió nhẹ. Dân chúng chen nhau trong ánh mai đang dần lên. Bổng nổi lên những hồi trống vang vọng át hẳn những tiếng ồn ào của dân chúng hiếu kỳ. Ở bờ sông bên kia lô nhô những lọng tàn (parasols), kiệu cán (palanquins).       

Rồi chỉ vài phút sau, Đạo ngự (cortège impérial) cổ kính của nhà vua qua khỏi cây cầu mới làm bằng xi-măng và sắt thép. Năm chú voi ngự quấn vải thêu rồng hình uốn lượn, chỉ kim tuyến lấp lánh trên nền vải đỏ. Một viên quản tượng (cornac) ngồi trên lớp da cổ voi dày cộm. Một người khác cầm lọng đứng trên lưng voi. Các ngự lâm quân với binh phục trắng thắt đai điều đi hai bên. Màu trắng binh phục thật hài hòa với màu đỏ quấn trên mình voi.

Tiếp sau, các ông đô thống diễu hành giữa hai đội quân lính cầm cờ thêu biểu tượng của vũ trụ học (cosmographie) Trung Hoa. Đi giữa là lá cờ  rất lớn màu xanh viền vàng mang hình chòm sao Bắc Đẩu (Grande Ourse). 

Người nầy cầm phiến, kẻ kia cầm cờ, cờ đuôi nheo (oriflamme), trên ấy thêu chữ những kim, mộc, thủy, hỏa, thổ,  phong, vân, lôi, vũ, hay những con vật tượng trưng. 

Ngự đạo với lễ phục lộng lẫy vẽ nên một dải đỏ, xanh, vàng rực rỡ dưới ánh nắng mai.

Các nhạc công, lính cầm đèn lồng (lantermes), gươm, cờ Mao tiết, người thổi sáo, lọng vàng, cán đỏ…. 

Tiếp đến sáu con ngựa kéo chiếc Long đình xa của vua Bảo Đại[1] phủ rợp những phiến thêu rồng mây, chữ Phúc, Thọ. Nhiều người khiêng trên tay một chiếc long đình đặt lễ phục của vua cùng với hương án, ghế ngai… Tất cả các thứ ấy lắc lư dưới bóng những chiếc lọng lớn màu da cam.

Hai cỗ mã ngự khóac gấm vàng. Chiếc xe kéo (rickshaw) thếp vàng của Nhà vua. Cuối cùng, nhấp nhô trên làn sóng đỏ của lính loan giá,  chiếc Long liễn (litière impériale) của nhà vua được che bọc bởi những chiếc đại phiến (quạt lớn) và  tàn lọng. Ngồi sau lớp kính trong, nhà vua mặc hoàng bào, thanh thản tiếp nhận sự tôn kính của thần dân đang chen chúc dài theo ngự đạo trong suốt cái ngày đại lễ ba năm mới có một lần ở cái xứ châu Á cổ xưa nầy.  

Ngự đạo được khép lại sau đoàn các Hoàng thân Tôn tước và các Đại thần ngồi trên xe kéo. Phẩm phục các vị mặc màu đỏ, tía, tím, xanh, hoa cà (mauve) giống như một dấu dẫn nhịp (point d’orgue) trong luồng nhạc quang sinh động.

Mỗi khi ngự đạo đi qua, đám đông lại kéo theo trong yên lặng, đông đảo, tự hào về nhà vua trẻ, hiện đại hơn cả các vị Hoàng đế ở Á châu khác.

Con đường lớn dẫn đến Giao đàn - nơi  ngự đạo sẽ hướng vào Trai Cung  (Palais du Jeune) - là một  con đường dài lộng lẫy: hương án nối tiếp hương án, cờ xí giăng hàng, với những khung kết bằng rơm và lá hoa đá. Trong cùng, một cái án chân quỳ bằng kim lọai sơn son thếp vàng hay bằng gỗ khảm xa-cừ, trên đặt một tấm kính mang bức chân dung nhà vua, trông thật tôn nghiêm.

Phía trước, những bát nhang, những chân đèn đồng, những con hạt mang tính tượng trưng. Các chi tiết trưng bày đều khác nhau nhưng lại rất thống nhất trong cùng một tổng thể. Ban đêm, lính canh phòng ngồi xổm trên chiếu. Quyền môn đối diện với lối vào ở Vòng thành thứ tư, hai con rồng bằng giấy các-tông vẽ đôi mắt dữ dằn như đe dọa mọi người trong lúc chòm râu cằm của chúng làm bằng giấy thì lại phơ phất trước làn gió nhẹ.

Trên tầng đàn thứ hai - tầng của Đất, đặt tám cái bàn thờ các vị thần thuộc về vũ trụ, những mãnh lực tự nhiên: Mưa, Gió, Sấm, Núi, Sông, Biển.v.v. Ở mặt nam xếp hai hàng lọng: lọng màu xanh để tôn vinh Trời, lọng màu vàng để tôn vinh Đất, giới hạn bởi hương án bên ngoài hay Nhà vàng (Hoàng ốc). Chiếu trải thảm con đường vua đi từ Trai Cung đến Giao đàn. Ở mỗi bên vệ đường thiêng liêng ấy, trên tầng ba, sắp đặt các nhạc cụ cổ xưa lạ lẫm.

Những chiếc lồng đèn giấy ngũ sắc vàng, xanh, tím, đỏ, trắng mắc trên vòng tường thành, chỉ lối đi dưới rặng thông, vạch thành một con đường thẳng rồi bẻ vuông góc dẫn lên tầng ba.

Một tấm vải bạt (tente) rộng lớn căng trên tầng tròn - tầng dành để thờ Trời. Trong cùng bàn thờ Trời - màu xanh, và bàn thờ Đất - màu vàng. Mỗi bên đông tây có sáu án thờ đặt đối nhau thờ thần vị tổ tiên Hoàng tộc: Chúa Nguyễn Hoàng đối với vua Gia Long, vua Minh Mạng đối với vua Thiệu Trị, vua Tự Đức đối với vua Đồng Khánh ...Kế đến có hai cái bàn dài bày la liệt tế phẩm: những tráp đựng vải lụa, bình đựng rượu, cốc uống rượu (coupes). Cũng ở tầng nầy, có một cái tợ (bàn thấp) đặt các con sinh (con vật để hiến tế).  Ở đấy, trong cái huyền diệu của đêm, cuộc lễ linh thiêng sẽ được cử hành. Thánh thần được triệu thỉnh  bằng những lời khấng vái, những khúc ca, những điệu múa nhảy, những  khói hương, mùi thơm của thịt hui. Họ sẽ theo con đường dành riêng để về nhận lễ phẩm và thăm viếng thần dân thông qua bản thân vị Thiên tử.

Rất tiếc, tôi chỉ có thể dự cuộc tổng duyệt diễn ra vào buổi chiều. Ánh sáng ban ngày rực rỡ. Các tầng đàn nắng chói chang. Phẩm phục của các quan bằng gấm lụa sang trọng, thêu hoa, thẳng thớm, óng ánh. Những chiếc mão nạm cườm ngọc lóng lánh. Những hình thú vật tượng trưng và những chòm sao kết trên áo quần các đại thần tạo thành một nét tương phản thú vị với đám đông dân chúng dung dị đang chen lấn chung quanh. Ở bậc cấp dẫn lên Đàn tròn, một vị quan cao cấp với vẽ mặt nghiêm nghị thong thả bước xuống. Chiếc áo rộng của ông lộng lẫy (splendide); thân trong áo màu da cam thêu xanh lục, xanh lơ và màu cổ đồng. Đai mang ngang lưng màu đỏ, bố tử (ailette) xanh lá mạ và mũ cánh chuồn. Cái bóng người chói nắng ấy, trông có vẻ thản nhiên, như đó là một cách đáp lại sự chờ đợi dài lâu của thần dân trong bầu không khí nóng bức.

Tôi nhắm mắt lại, cố quên đi trong chốc lát những gì đang diễn ra chung quanh, để giữ lại trong tâm trí mình cái hình ảnh bảy sắc cầu vồng ấy. Nó thể hiện một nền văn minh lớn với hàng thế kỷ lịch sử -  nền văn minh đã bị cái gọi là sự tân tiến (progrès moderne) đẩy vào chỗ lãng quên. Phục hồi lại nền văn minh ấy, ta thử khám ra một thể chế hợp nhất sự an lạc quân bình giữa nền Khổng học hiền triết cổ điển với nền văn hóa Thiên Chúa giáo.

Thế rồi trống nổi lên. Các quan xếp hàng phía trước án thờ Nhà vàng. Và, ở mỗi bên các nhạc công đứng vào vị trí. Quan thông tán (héraut) cáo bằng một thứ giọng mũi các lễ lạt khác nhau trong chương trình đại lễ. Nhạc trỗi. Lục lạc rung, chuông đồng ngân, thùng gỗ hình tháp, đàn đá cẩm thạch, sênh tiền, trống lớn đặt trên cái giá một chân, và chụp lên trên một con chim huyền thọai để ngăn chặn điềm xấu, đàn tỳ-bà…Âm nhạc thật lạ lùng, chẳng có một chút gì có thể thích hợp với lỗ tai của người Tây phương, nhưng nó lại ăn nhịp với toàn cuộc lễ, tạo lại được cái không khí nguyên ủy của các thời đại xưa.

Đứng phía sau dàn nhạc cổ ấy là những người thổi sáo với phẩm phục xanh nhạt thêu hoa.

Quan Thông tán lại cáo. Các vũ công xếp thành hàng. Họ mặc áo tay chẽn và đội mũ như hình lưỡi cuốc (lame de houe), tay phải cầm cái kích (petite hache) bằng gỗ cán dài sơn son, tay trái cầm cái khiên (bouclier) sơn đỏ hay vàng. Cuộc múa lễ bắt đầu với khúc ca Mỹ thành chi chương (Chant de l’ Exquis) :

Tam sinh lễ đủ/ Chuông trống vang lừng/ Rượu thơm mới ủ/ Chén ngọc kính dâng/ Rót chén rượu ngọt/ Thơm tho ngát mùi/ Củi đốt ngùn ngụt/ Ngọc dâng khoan thai/ Khí thiêng cao thẳm/ Lồng lộng huy hoàng/ Cao cung tả hữu/ Ẩn hiện linh quang/ Thần về yên vị/ Hưởng lễ chứng thành/ Nơi nơi hòa khí/ Ban xuống khang ninh/Rộng cho hưởng phúc/Ân huệ đời đời/ Giúp nên mọi việc/ Thịnh vượng lâu dài.”

Các vũ công đứng trên một chân, đưa một chân lên
và lặp lại nhiều lần bước đi đơn giản ấy, hình như có tính tượng trưng.

Rồi tiết mục múa thứ hai với khúc ca Thụy Thành Chi Chương (Chant de l’Heureux Augure):

 “ Giáng lâm lẫm liệt/Nhận thấy tỏ tường/ Phụng thờ tôn kính/ Gìn giữ nghiêm trang/ Đức sáng rực rỡ/ Rượu dâng tuần hai/ Ngọc lụa tốt đẹp/ Mâm chén nơi nơi/ Ngạt ngào hương tỏa/ Dâng lên khẩn cầu/ Kính xin bầy tỏ/ Quỳ trên nệm tâu/ Gươm thiêng sáng lóang/ Gió lành quanh ta/ Lặng lẽ hâm hưởng/ Soi xét không xa/ Tấc thành mong thấu/ Ban xuống ân sâu/ Nối noi mãi mãi/ Cháu chắt lâu dài”.

Trong lúc đó lễ tái hiến hoàn tất. Các vũ công cung đình cầm cái sáo gỗ sơn son và chiếc gậy phép (sceptre).

Tiết mục thứ ba với khúc ca Vĩnh thành chi chương (Chant de la Perpétuité):

Hương hương nghi ngút/ Cao thẳm khôn lường/Tỏ lòng thành kính/ Tôn nghiêm mọi đường/ Tuần ba dâng rượu/ Hâm hưởng nơi đây/ Lễ văn thứ tự/ Nghi thức đặt bầy/ sáu lần vừa trọn/ Theo khúc Cửu thành/ Thọat vào sửa lễ/ Đã thấy anh linh/ Tôn kính bao xiết/ Xin giúp
cho ta/ Lên xuống quanh quất/Uy sáng tỏ ra/ Giúp lên phúc lớn/ Ngôi vua vững bền/ Đầy đủ yên ổn/ Năm năm tiến lên

Lễ tái hiến kết thúc. Các quan lui ra, trở lại với con người bình thường, đi lẫn vào đám đông dân chúng đang giải tán. Thóang chốc một làn gió thổi qua trên cao. Một vị đại thần trong số quan ấy băng qua tầng đàn thứ ba với hai phù lễ đi theo hai bên. Vận chiếc áo lụa màu xám-xanh thật sang trọng, ông ta dấn bước (onduler) trên đôi hia dạ đen, đế trắng, mũi cao cong ngược lên. Một anh thợ ảnh tay hờm sẵn máy và hướng ống kính về phía ông. Vị đại thần liền dừng bước, chỉnh lại cho thẳng nếp chiếc áo rộng và chiếc quần chùng, sửa lại cho ngay ngắn chuỗi ngọc trên mão, lấy lại phong thái đạo mạo, đường bệ để chỉ trong phút chốc có cảm tưởng như ông lặng vào một thế giới khác - thế giới của tượng đồng, tượng đá thức tỉnh mơ màng trong các ngôi chùa Phật.

Tôi lê gót trên các tầng đàn lẻ loi giữa rặng thông xanh. Rặng  thông bảo vệ cho các tầng đàn chống lại sự xô bồ của đời sống vật chất tầm thường, giữ  lại cái hồn thiêng để rồi cứ ba năm lại được làm sống lại một lần qua ngày lễ  tế Trời và Đất (tế Nam Giao).

Tôi có hiểu biết chút ít về nghi lễ nhưng tôi cũng muốn có một ấn tượng khái quát về buổi lễ. Nhưng tiếc thay, cuộc lễ chính thức lại diễn ra trong đêm và bị cấm nghiêm, ngăn cách mọi con mắt của người ngoài.

Đêm, trăng lên soi giữa bầu trời hâm hấp (tiède) và quang đãng. Ánh trăng dịu dàng mờ mờ ảo ảo phủ lên con người và vạn vật.

Ánh sáng ngũ sắc tỏa ra từ những chiếc đèn lồng. Những tầng đàn phản chiếu loang lóang lên không trung. Những ngọn đuốc lớn ở bốn góc đàn, mùi trầm hương, bất chợt một ngọn lửa lò bùng lên, nổ lốp bốp - nơi  đang hui con trâu tế: Một hình ảnh trông thật bi hùng (dantesque).

Làn khói hồng bay lên ngọn thông một cách thỏai mái. Trong khi đó những người phụ việc ném củi vào cái lò lớn xây bằng vôi vữa ở góc tây nam tầng thứ ba.

Sự sống và cái chết, hiện thực và huyền bí, mê tín và đức tin (foi), vĩ đại và nhỏ nhen (petitesse)…tất cả đều tụ lại trong cái đêm thần thánh nầy.

Những nghi lễ thiêng liêng cứ tuần tự diễn ra, không chỉ mang lại cho những thế kỷ cách tân mà còn làm sáng lên chính những khát vọng nhân bản (aspirations humaines) của con người: Nhu cầu thần linh.

Những lăng mộ trên cánh đồng khơi gợi đến sự chết cũng đang ở giữa đám đông người sống kia. Sự khơi gợi thường xuyên - nhiều không kể xiết - trong cái tịch mặc (recueillememt) của tự nhiên. Con người luôn tha thiết được hòa nhập vào nhịp điệu sâu thẳm của cuộc sống vĩnh hằng, nên tha thiết trong đêm tế lễ nầy - cái đêm tất cả đã trở thành biểu tượng mà thần linh đang hiển hiện ở đằng kia.

Chung quanh bên ngoài vòng thành, nhiều nhóm người Việt dựng lều gần bếp lửa với ấm chè xanh. Có hàng trăm người ở đó, thức suốt đêm để chờ xem
một cảnh tượng gì đó của buổi lễ nhưng ắt hẳn họ không thấy.

Trong ánh đuốc, Nhà vua về Trai Cung, các quan Thông tán đi trước rồi các quan, và đám lính cầm cờ đuôi nheo theo sau. Tôi không trông rõ được dung nhan Nhà vua ngồi trong chiếc Long liễn tối om.

Đạo ngự đi dọc theo con đường treo đèn lồng, băng qua tiền đàn, đến tầng đàn thứ ba ở mặt nam. Từ một nơi xa xa, tôi thấy hàng đuốc chập chờn: Một đám rước cảm động (émouvante procession).

Bỗng chốc lời ca tiếng nhạc cất lên, vang xa, trong lúc lửa ở lò đốt (buché) lễ vật cứ cháy một cách mãnh liệt, củi nổ lốp đốp, than hồng tung tóe.

Cuộc lể Tế Nam Giao hoàn tất. Nhà vua ở lại Trai Cung trong một vài giờ rồi đến sáu giờ ba mươi, Đạo ngự hoa lệ (fastueux cortège) lên đường về.

Tôi đứng trước Kỳ đài chờ Nhà vua hồi cung. Cảnh quang ở đây cũng thật nên thơ. Những lá cờ đuôi nheo bay phấp phới trên cột cờ. Con  sông hài hòa với những sườn đồi trùng điệp trước mặt. Ở phía sau, cửa Ngọ Môn, Đức vua sẽ qua đó để vào Hoàng cung. Những mái ngói đỏ giữa màu xanh của cây và hoa; những bãi cỏ lặng lẽ thiếu vắng bóng người. Các vọng lâu (Miradors) chia phòng thành Huế ra nhiều đoạn , ở dưới chân phòng thành là thành hào (douve). Trên mặt nước ngủ yên, những chiếc lá sen nằm nghỉ, vẫn còn đọng hạt sương đêm. 

Ngự đạo tiến về gần với thứ tự như lúc đi. Các
chú voi sánh đôi ở hai bên tiền đình rồi đến ngự mã. Chiếc Long liễn đi qua giữa những cái đầu cúi thấp. Rồi cánh cửa của chiếc cổng lợp ngói ống đóng lại trên Tử Cấm Thành./.        


[1] Trong nguyên văn viết nhầm là vua Khải Định. Vua Khải Định đã băng năm 1925, tế Nam Giao năm 1942 không thể có mặt vua Khải Định được. 

 

Lễ tế Nam Giao cuối cùng
và voi “Buôn Con”

Thời quân chủ, hằng năm nhà nước tổ chức lễ tế Nam Giao để các bậc thiên tử (con vua) cầu trời phù hộ cho quốc thái dân an. Qua thế kỷ XX, đất nước nằm trong tay thực dân Pháp, ba năm mới tổ chức được một lần tế. Đã có nhiều tài liệu sách vở nói về lễ tế Nam Giao, nhưng chưa có tài liệu nào nói về đại lễ nầy chấm dứt vào năm nào và vai trò của voi trong các lễ tế Nam Giao ra sao. Sau đây là những tư liệu lần đầu công bố ở Việt Nam về chủ đề nầy.

Năm 1953, đến thời điểm tổ chức lễ tế Nam Giao, bà Thái hậu Từ Cung được các nhà chiêm tinh (anciens devins) của triều đình cũ tính toán hộ ngày giờ thuận tiện để làm lễ tế. Bà báo lại cho Bảo Đại, lúc ấy đang ở Ban Mê Thuột (BMT) biết. Nhận được thông tin nầy, Bảo Đại quyết định sẽ cử hành lễ tế ngay tại BMT, và theo đúng phong tục Việt Nam con đâu mẹ phải đến đấy. Bà Từ Cung phải lên BMT với con.

Bảo Đại chọn Buôn Trắp cách xa BMT chừng vài chục cây số, ở cửa rừng trên đường ra Hồ Lak, làm nơi lập đàn tổ chức lễ tế. Ông cho người dẫn đàn voi mấy chục con của ông đến. Những con voi to lớn, dềnh dàng, đồ sộ tập trung thành một vòng tròn để như là lễ tế sống vậy. Năm ấy, chiến tranh đang diễn ra ác liệt, Bảo Đại cho đoàn voi tham dự lễ tế Nam Giao để tỏ lòng tôn kính Trời giống như hơn một trăm năm mươi năm trước (1802), Hoàng đế Gia Long sau khi thống nhất sơn hà, đã xem vai trò của voi như những công thần khai quốc.

Mỗi con voi của Bảo Đại đều có một “tiểu sử” ly kỳ. Đặc biệt nhất là con Buôn Con - con voi được Bảo Đại thương nhất và ông đã cởi nó hằng ngày. Buôn Con là một con voi đực to tướng, cao đến 3m. Lần đầu đến Bản Đôn, Bảo Đại được viên chủ làng Kim Jo Nop cho ông mượn Buôn Con để đi săn. Buôn Con là con voi quí giá nhất của Kim Jo Nop. Thấy Buôn Con tinh khôn cực kỳ, Bảo Đại mê nó hết sức. Bảo Đại nói với Kim Jo Nop: ông muốn mua Buôn Con với bất cứ giá nào. Nhưng không ngờ người chủ làng từ chối quầy quậy và kêu lên:

- ”Người ta có thể lấy vợ tôi, có thể lấy con gái tôi, nhưng không thể lấy Buôn Con của tôi được!”.

Bảo Đại hết sức thất vọng. Nhưng cuối cùng, với sự điều đình của viên Công sứ sở tại(1), sau khi tổ chức nhiều buổi hội hè, viên chủ làng mềm lòng bán Buôn Con cho Bảo Đại. Bảo Đại mừng rỡ liền cử một đoàn quản tượng người Rhadé đưa ngay Buôn Con ra nhập với “bộ” sưu tập thú rừng của ông ở miền tây Quảng Trị. Khi đến gần Cam Lộ, đoàn quản tượng Rhadé trao Buôn Con cho quản tượng người Kinh. Buôn Con biết mình là con cưng của vua nên kiêu hãnh tùng phục ngay người quản tượng mới. Từ đó, mỗi lần ra Quảng Trị, Bảo Đại đều cỡi Buôn Con hàng tuần.

Cũng giống như những tay thợ săn người Bản Đôn, thà chết đói chứ không chịu hạ mình đi trồng một gốc lúa, Buôn Con ở Quảng Trị từ chối làm việc, kể cả việc đi lấy thức ăn cho mình. Biết ý, Bảo Đại điều một con voi cái từ Huế ra để lo đi lấy thức ăn và “phục vụ tươi mát” cho Buôn Con. Được “phái đẹp” phục vụ, Buôn Con chấp nhận và chịu ăn. Còn chuyện “tươi mát” thì nó không cần. Tiếc thay con voi cái nầy rất lười biếng. Nó chỉ phục vụ tốt được một vài tuần, sau đó nó tìm cách lẩn tránh trách nhiệm. Lợi dụng lúc đi tìm thức ăn cho Buôn Con, con voi cái tảng vào rừng và tìm đường trốn. Ả trốn đến năm sáu lần như vậy. Cứ mỗi lần con voi cái đào ngũ, Buôn Con lại phải cùng với viên quản tượng đi tìm dẫn nó về. Nó đào ngũ đến lần thứ bảy, Buôn Con
và viên quản tượng lại đi tìm và bắt được con voi cái vô kỷ luật nầy. Rồi thật kỳ lạ, Buôn Con giận dữ đã “kỷ luật” kẻ phục vụ cho mình bằng cách quật con voi cái chết tươi.

 Buôn Con nghe được nhiều thứ tiếng, tiếng Thượng, tiếng Kinh và cả tiếng Pháp. Nó rất quen thuộc các động tác của Bảo Đại. Mỗi khi đi săn, bao giờ Buôn Con cũng dừng lại cách con mồi khoảng 40m. Đó là khoảng cách mà Bảo Đại có thể bắn hữu hiệu nhất. Không may, có một lần gặp phải một con hổ tinh quái, nó rình bên đường và bất ngờ nhảy tót lên lưng Buôn Con từ phía sau và cào vào lưng Buôn Con rách một miếng sâu. Vết thương bị nhiễm trùng, Buôn Con đau đớn chảy nước mắt mà không kêu khóc. Vết thương cần phải giải phẫu ở bả vai mới cứu được. Bác sĩ thú y lại không có thuốc tê. Người quản tượng truyền lời Bảo Đại bảo nó cần phải chịu đựng đau đớn để giải phẫu. Như thế mới được “hoàng đế” thương và có lợi cho nó. Buôn Con vâng lời nằm. Vì đau đớn nên cả cái thân hình khổng lồ của nó rung lên mà nó không cưỡng được. Nước mắt chảy đầm đìa nhưng nó không hề hé răng lên tiếng. Nhờ được giải phẫu kịp thời, nên đã chữa lành được vết thương cho Buôn Con.

Sau Cách mạng Tháng tám 1945, Bảo Đại thoái vị và ra Hà Nội làm Cố vấn cho Chính phủ VNDCCH, Buôn Con được trở lại rừng xanh. Cả bộ sưu tập thú rừng ở Cam Lộ cũng được giải phóng để trở về sống tiếp cuộc đời hoang dã. Sau năm 1949, Bảo Đại trở lại cộng tác với Pháp, ông ta cho người đi tìm Buôn Con. Năm 1950, Bảo Đại lập “tân sở” ở BMT, ông đưa Buôn Con lên quần tụ với đàn voi của ông chung quanh biệt điện ở Hồ Lak.

Buôn Con rất dữ. Các loài thú khác trông thấy Buôn Con đều sợ hãi và thần phục.

Vào khoảng 3 giờ sáng một ngày tháng 4-1953, bên cửa rừng, ánh đuốc sáng choang, Bảo Đại làm lễ tế Nam Giao đúng theo nghi lễ cổ truyền. Trong sự yên tĩnh của núi rừng, giữa thiên nhiên tươi tốt, trời đất như xích lại gần nhau và thật cảm động. Khi kể lại chuyện nầy Bảo Đại cho là buổi lễ hết sức “thiêng liêng, vĩ đại và cảm động hơn hẳn những lần tế ở Huế”. Trong buổi lễ Bảo Đại báo cáo với Trời sứ mạng của ông, ông cầu cho đất nước sớm được hoà bình. Buổi lễ kéo đến gần sáng. Có lẽ vì buổi lễ quá dài, một con voi quỳ mọp suốt nhiều giờ mệt mỏi không chịu đựng được nữa, nó chồm dậy rống lên một tiếng và tấn công ngay con voi bên cạnh. Thế là cả vòng tròn voi như một lâu đài giấy bồi ngửa nghiêng trở nên náo loạn và tan nát. Các “quan” mũ áo tả tơi, mạnh ai nấy chạy, cố tránh xa những con vật hung hăng đang trong cơn giận dữ. Bảo Đại với phẩm phục đại triều trên mình, không biết chạy đi đâu nên đứng lại tại chỗ. Nhiều lúc con voi điên muốn đến xốc ông lên. Không một người nào ngó nghĩ đến việc cứu ông. Bảo Đại hết sức thất vọng và ông liền nghĩ đến Buôn Con. Ông gọi lớn bằng tiếng Tây:

- “Buôn Con, đến đây với ta và hãy giúp ta dẹp cuộc náo loạn nầy!”

Và thật lạ lùng, Buôn Con đến với ông và nhận lệnh đi dẹp loạn.

Buôn Con lần lược đến dỗ dành từng con voi một, những con chạy xa rồi thì nó gọi bằng một vài tiếng rống và chỉ trong vài chục phút tất cả đều trở lại hàng ngũ, trật tự được vãn hồi.

Xong buổi lễ, nhiều người giải thích sự việc nầy với Bảo Đại “đây là một triệu chứng (incident) của nhà Trời”. Triệu chứng báo hiệu chấm dứt vĩnh viễn vai trò chính trị của Bảo Đại.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123