Nghinh xuân - đón tết, những lễ lượt và tập tục đặc biệt chung quanh các vua Nguyễn

Nhà Nguyễn - chế độ quân chủ cuối cùng ở Việt Nam, đã cáo chung trên nửa thế kỷ. Tuy nhiên các di tích Nguyễn vẫn tồn tại và được UNESCO công nhận là một di sản văn hoá của nhân loại. Do đó khách du lịch gần xa mỗi lần đến xem di tích Cố đô luôn muốn biết đời sống của vua chúa triều Nguyễn đã trải qua như thế nào, đặc biệt là những lễ lược nghinh xuân đón tết chung quanh các vua Nguyễn.

Hằng năm, triều Nguyễn mở đầu việc đón năm mới bằng lễ Ban sóc diễn ra vào ngày 1 tháng 12 tại lầu Ngọ Môn. Ban sóc có nghĩa là cơ quan Khâm Thiên Giám làm lịch cho năm sau xong, phân phát lịch của nhà vua cho bá quan và các Hoàng thân, Quốc thích. Những người được ban lịch mặc lễ phục quay đầu về phía ngai vàng đặt trong điện Thái Hoà lạy 5 lạy để tạ ơn vua.

Tiếp sau lễ Ban sóc là lễ Phất thức. Phất là quét dọn, thức «ø là lau chùi. Tức là lễ lau chùi các ấn ngọc ấn vàng, kim sách ngân sách. Lễ nầy cử hành tại điện Cần Chánh - nơi tàng trữ những trắp đựng của báu của quốc gia. Lau chùi xong căn cứ vào biên bản của năm trước kiểm kê lại toàn bộ báu vật trước khi bỏ vào trắp khoá chặt. Sau lễ Phất thức các cơ quan nhà nước nghỉ việc, chuẩn bị ăn tết.

Đến ngày 30 tết, Khâm Thiên Giám chọn giờ lành để cho bộ Lễ dựng nêu. Cây nêu của Kinh Thành dựng lên, các dinh thự, chùa chiền, các địa phương theo đó cùng lên. Cây nêu báo hiệu toàn dân nghỉ việc ăn tết. Vì có liên quan đến toàn dân, do đó nhiều khi chờ đến giờ lành lâu quá, ảnh hưởng đến công việc ăn tết của dân cho nên từ cuối năm Tự Đức thứ 29 (1876), nhà vua định lại: cứ đến giờ Thìn ngày 30 (tức khoảng 8 đến 10 giờ sáng) Kinh thành lên nêu, không phải chờ đến giờ lành như trước đó. (Thực Lục, t.33, tr.362).

Lễ Tết Nguyên đán chính diễn ra vào sáng sớm ngày Mồng một đầu năm. Hôm ấy quân lính mang khí giới, tàn quạt, cờ lọng, voi ngựa trang sức rực rỡ cùng các loại xe nhà vua thường dùng...sắp hàng từ trước sân điện Thái Hoà ra đến cửa Ngọ Môn. Vua mặc đại triều, từ điện Cần Chánh ra điện Thái Hoà rồi ngự lên ngai vàng để cho bá quan và hoàng thân quốc thích lạy mừng. Trong lúc vua ngự ±s(1), trên lầu Ngọ Môn chuông rung, trống đánh liên, hồi hết sức uy nghiêm.

Từ ngày ba mươi đến mồng ba tết, đều có đặt cổ bàn cúng ở các miếu Triệu, miếu Thái, miếu Hưng, miếu Thế và  điện Phụng Tiên, khói hương nghi ngút. Mỗi lần cúng có 32 món ăn riêng (cổ) như nem, chả, tré, gà hầm, thịt quay, thịt dê ướp nướng, gỏi dê, bó sỗ dê ..., bánh ngọt, trái cây, rượu. Buổi sáng cúng các vua, buổi chiều cúng các công thần. Đồ cúng do sở Lý Thiện (ở phường Huệ An) nấu nướng. Một số đồ cúng do các địa phương tiến ÂË (dâng lên) như Hà Nội thường tiến bánh phục linh, rượu sen, rượu cúc; tỉnh Hải Dương tiến danh nham hảo trà...

Ngoài những lễ lượt trong Hoàng cung, đầu xuân còn có một lễ  hết sức có ý nghĩa nữa ấy là lễ Tịch Điền ÂÇ ¥Ð. Lễ diễn ra tại sở Tịch Điền trong Kinh Thành (phía bắc ngoài Hoàng Thành, sau ngày Thất thủ Kinh đô người Pháp chiếm, sau làm sân bay Tây Lộc, nay thuộc phường Tây Lộc, được phân lô cấp cho cán bộ nhà nước làm nhà ở). Nhà vua, các hoàng thân, các vị đại thần cày mấy đường cày đầu năm để làm gương khuyến khích nhà nông theo đó mà siêng năng công việc cày cấy. Khi đi cày ruộng Tịch Điền nhà vua mặc áo chẻn, bịt khăn đường cân, mang hia, tay cầm roi tay cầm chiếc cày sơn vàng, do hai con bò cũng phủ lụa vàng kéo. Đi theo hầu vua có quan Phủ doãn Thừa Thiên, và một viên ấn quan của bộ Hộ, người mang thúng giống, kẻ vải giống. Vua cày xong lên ngồi trên đài Quan canh để xem hoàng thân và các quan cày tiếp. Đây chỉ là một hoạt động tượng trưng, vì sau đó sở ruộng Tịch Điền được giao lại cho một số chức sắc chuyên về nông nghiệp phụ trách. Lúa gạo thu hoạch được từ ruộng Tịch Điền sẽ dùng để tế Nam Giao, tế các thần và tế ở các lăng, miếu.

Những lễ lượt trong Đại Nội và lễ Tịch Điền được tổ chức trong vòng Hoàng gia, chỉ các đại thần và một số nhỏ các vị chức sắc phục vụ, dân chúng không bao giờ được tham dự, không được thấy những sinh hoạt của vua. Đến thời Đồng Khánh (1885-1888), có dư luận cho rằng vua Đồng Khánh do người Pháp đặt lên ngôi, cho nên Ngài không dám ra đường vì sợ dân chúng còn cảm tình với vua Hàm Nghi đang bôn tẩu kháng chiến ám hại. Để xua tan dư luận đó, người Pháp có sáng kiến tổ chức cho vua Đồng Khánh du xuân để cho thần dân được thấy mặt và chứng tỏ không có ai dám ám hại nhà vua cả. Đi Du Xuân, vua Đồng Khánh ngồi trên kiệu do quân lính gánh, bá quan văn võ mang gươm giáo cờ quạt đi theo hộ tống. Vua Đồng Khánh mất sớm, ông chỉ đi Du Xuân được một vài lần rồi thôi. Về sau, con trai vua (tức vua Khải Định), và cháu nội của nhà vua (vua Bảo Đại) tiếp tục truyền thống Du Xuân. Những người được xem lễ Du Xuân trải qua các đời vua cuối cùng của triều Nguyễn không thể ngờ được lễ nầy mới xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và đó là sáng kiến của người Pháp chứ không phải của các vua triều Nguyễn.

 Có người hỏi, thế ngày tết, ông vua có sinh hoạt gì với vợ con ông không ? Qua nhiều năm tìm hiểu, được biết ngoài ngày tết Nguyên đán nói trên, các hoàng tử, các công chúa đã xuất phủ (đã có nhà và gia đình riêng) không có dịp nào được gặp vua nữa cả. Còn các bà vợ vua thì vẫn ở trong Tử Cấm thành. Riêng các bà trong Tam Cung và các bà có chức sắc, ngày tết Nguyên đán, được mặc lễ phục đứng hai bên đường làm hàng rào danh dự từ điện Càn Thành ra điện Cần Chánh để chào vua đi qua. Không có bà nào, người con nào được ngồi ăn tết với vua cả. Vì thế có nhiều bà tiếng là vợ vua mà quanh năm không được thấy mặt vua, dù nơi ở của các bà chỉ cách điện Càn Thành - nơi vua ngự, chỉ năm ba chục mét. Để tạo cơ hội cho tất cả các bà  phi, tần, mỹ nữ trong chín bậc được nhìn thấy mặt vua vào những ngày chuẩn bị đón chúa Xuân, các vua Nguyễn đã nghĩ ra một cách gặp mặt rất độc đáo: Đến ngày đông chí hằng năm, tất cả lửa trong Tử Cấm thành đều phải tắt hết. Chỉ tại điện Càn Thành nhen một lò lửa thật lớn. Đúng vào lúc nửa đêm, tất cả các bà trong tam cung lục viện được phép mang lồng ấp đến điện Càn Thành để vua ban cho một ít lửa, ngụ ý rằng vua ban hơi ấm cho mọi người. Chút “lửa tình” nầy được các bà giữ quanh năm.

Theo quan niệm ngày xưa, ông vua là con trời (thiên tử), nắm trong tay mọi quyền hành trong của xã hội. Ngày tết đối với bậc thiên tử không chỉ là thời gian nghỉ việc triều chính để chơi mà là để kiểm kê của báu (lễ Phất thức), chuẩn bị cho công việc của năm sau (Ban sóc), tưởng nhớ đến tổ tiên (cúng bái ở các miếu, điện), khuyến khích dân chúng siêng năng sản xuất (lễ Tịch điền). Nhà Nguyễn tuy không còn nữa, nhưng tất cả những sinh hoạt tết ấy vẫn còn tìm thấy trong sử sách và có một ý nghĩa nhất định. Phải chăng đó cũng là một phần trong di sản phi vật chất của chúng ta hôm nay !

Tết năm Quý mùi-2003


(1) Những hành động của vua hoặc những gì thuộc về vua đều dùng chữ ngự. (Bửu Kế) 

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123