3. “THIÊN HẠ ĐẠI THẾ LUẬN” CỦA NGUYỄN LỘ TRẠCH

 

                                                       ĐOÀN LÊ GIANG

                                              (Giới thiệu, dịch và chú giải)

 

Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895), tự là Hà Nhân, hiệu là Kỳ Am, người làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, là con rể của Trần Tiễn Thành, một viên đại thần của triều Nguyễn lúc ấy. Ông là người học rộng, hiểu biết nhiều về tình hình trong nước và thế giới, chịu ảnh hưởng của tầng lớp sĩ phu tiến bộ đương thời như Nguyễn Trường Tộ. Không chịu đi thi, không chịu ra làm quan, nhưng rất quan tâm đến tình hình đất nước và muốn tiến hành cải cách nước ta về mọi mặt để cứu vãn nguy cơ mất nước, Nguyễn Lộ Trạch đã nhiều lần gửi những bản điều trần lên Triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Song Triều đình không chịu thi hành những kiến nghị của ông. Ông mất ở Bình Định năm 1895. Tác phẩm của ông gồm có “Quỳ ưu lục”, “Thiên hạ đại thế luận” và một số thơ văn khác.

Các bản điều trần và thơ văn của Nguyễn Lộ Trạch đã được nhiều người biết đến. Từ những năm 1931, 1932 trên báo Tiếng Dân, Huỳnh Thúc Kháng đã viết nhiều bài giới thiệu tác phẩm của ông. Những tác phẩm của Nguyễn Lộ Trạch đã được dịch ra tiếng Việt gồm có: “Thời vụ sách” (thượng), “Thời vụ sách” (hạ), “Bài tựa Quỳ ưu lục” (báo Tiếng Dân: 1931, 1932, 1941). Riêng “Thiên hạ đại thế luận”, thì theo Huỳnh Thúc Kháng đã bị thất lạc, nên Cụ Huỳnh không giới thiệu bản dịch được. Nhưng nhờ có trí nhớ tuyệt vời Cụ Huỳnh đã nhớ và ghi ra được vài đoạn. Sau này ở miền Bắc cũng như ở miền Nam (trước 1975), những tài liệu viết về Nguyễn Lộ Trạch đều dựa vào tài liệu đã công bố trên báo Tiếng Dân, song cũng chưa giới thiệu được gì nhiều hơn. Gần đây “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam” (tập IV, quyển I, Nxb. Văn học Hà Nội, tái bản 1984) vẫn ghi là: “Năm 1892. Nguyễn Lộ Trạch lại viết bài “Thiên hạ đại thế luận” bài này hiện nay không còn” (trang 258).

Thiên hạ đại thế luận” là một tác phẩm có ảnh hưởng lớn đối với các sĩ phu yêu nước trong phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Theo các tài liệu in trên báo Tiếng Dân thì “Thiên hạ đại thế luận” được viết vào năm 1892, nhân kỳ thi Đình năm ấy. Nguyễn Lộ Trạch đã đưa bài viết này cho Nguyễn Thượng Hiền xem, Nguyễn Thượng Hiền rất cảm phục, sau đó nó đã được các sĩ phu yêu nước bấy giờ rất chú ý. Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu đều có đọc “Thiên hạ đại thế luận”. Phan Bội Châu kể lại rằng: Cụ Nguyễn Thượng Hiền (Mai Sơn) sau khi đọc bài phú “Bái thạch vi huynh” của tôi rất lấy làm thích...Cụ đưa cho tôi xem tập văn của Nguyễn Lộ Trạch. Tôi được đọc tập “Thiên hạ đại thế luận” và bắt đầu hiểu biết ít nhiều mầm móng tư tưởng hiện đại”. (“Thơ văn Phan Bội Châu”. Tuyển chọn. Chương Thâu giới thiệu, biên soạn. Nxb Văn học. Hà Nội 1985, tr.254).

Trong thời gian qua khi tìm hiểu về Nguyễn Lộ Trạch, chúng tôi đã may mắn tìm được bài “Thiên hạ đại thế luận” này nguyên văn bằng chữ Hán, chép trong tập “Kỳ am Nguyễn Lộ Trạch di văn”. Tập sách ấy hiện lưu trữ ở Thư viện khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Sách dày 138 tr, khổ 14,5 x 27,5, giấy bản, ngoài bìa đề “Quỳ ưu lục”, trang đầu đề “Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch di văn”, bên trong là chữ Hán viết chân hơi thảo. Phần đầu của tập sách gồm có toàn bộ những bài ghi trong “Quỳ ưu lục”, tương tự như bản “Quỳ ưu lục”, ký hiệu A. 3187 lưu trữ ở Thư viện Khoa học Trung ương; còn phần sau là bài “Thiên hạ đại thế luận” và một số thơ, thư từ của Nguyễn Lộ Trạch.

Chúng tôi xin dịch và giới thiệu bài “Thiên hạ đại thế luận”, là tác phẩm quan trọng của Nguyễn Lộ Trạch để bạn đọc nghiên cứu. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn ông Trần Trọng San đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc dịch tác phẩm này.

 

“THIÊN HẠ ĐẠI THẾ LUẬN”. BÀN VỀ

THẾ LỚN THIÊN HẠ

 

Những bài trong “Quỳ ưu lục” của ông đều được viết ra từ năm Giáp thân (1884), niên hiệu Kiến Phúc trở về trước. Lúc ấy việc nước còn có thể làm được, cho nên những kế hoạch viết ra lúc trước hãy còn có hy vọng nhiều vào người cầm quyền, lại có ý khích lệ nữa. Bài này viết ra sau khi cuộc Bảo hộ đã xong (vào khoảng đời Đồng Khánh - đầu đời Thành Thái, 1888-1889), trong đó bàn về ưu thế trào lưu Âu Tây, toàn cục Á Đông cùng với những việc sai lầm đã qua của nước ta, rõ ràng minh bạch, nhân quan sáng như đuốc, thấy đúng được không phải dễ. Đoạn sau chuyên bàn về đại thế, không trách những chuyện đã qua nữa mà hoàn toàn trông mong vào người sau, lời nói càng đau đớn mà lòng càng thêm khổ não. Đến ngày nay ta lại càng phục cái tên tiên kiến của ông là sáng suốt.

                                                                           Người chép viết.

 

Sự còn mất của quốc gia là do pháp độ - giáo hoá(6), chứ không phải là do mạnh - yếu, lớn - nhỏ; pháp độ - giáo hoá được sửa sang cất cử thì mặc dù nhỏ, yếu cũng chưa có thể mất được. Từ Sản(7) làm Tể tướng nước Trịnh, Khổng Minh(8) cai trị nước Thục, thì người ta cũng dễ dàng quên đi cái tình trạng suy yếu của các nước ấy. Còn như cẩu thả buông tuồng thì dẫu Tần(9), Tuỳ(10) có giàu mạnh cũng không thể ỷ lại được, huống hồ các triều đại kém hơn. Kinh Thư nói rằng: “Cùng đường với trị thì không thể không hưng khởi, cùng đường với loạn thì không thể không tiêu vong”. Đó là vết xe chung ngàn đời vậy. Lớn - nhỏ, mạnh - yếu, tuy không phải do số còn mất, nhưng ngựa kỳ, ngựa ký một ngày đi được ngàn dặm, còn ngựa tồi thì phải 10 cỗ rồi sau mới kịp.

Thiên hạ đâu mà chẳng phải “thế”. Song cái “thế” thời nay khác với cái “thế” đời xưa, Thiên hạ đời xưa thì vết chân vua Vũ(11) đã trải khắp cả rồi. Thiên hạ thời nay thì đúng như lời xưa nói: “Ở ngoài trời đất, bốn phương thì bàn luận mà không bàn định vậy. May mà sống trong thiên hạ từ đời Hán, Đường trở về trước thì mới có thể bàn luận mà không bàn định được: không may mà sống vào buổi Âu - Á tranh cường thì muốn bàn luận mà không thể bàn định được không? Vào thời Xuân Thu, lãnh thổ của Trung Quốc ở phía bắc không đến Lưu Sa, ở phía tây không đến Ngọc Môn, và ở phía nam không hết được cõi Dương Châu; thế mà những bậc Quang khanh, Đại phu lúc ấy không ai là không đem cái toàn thể của thiên hạ trù tính kỹ ở trong lòng để làm cho nước mình được yên trị. Thời thế ngày nay tại sao lại không thể như vậy? Ngày nay Tây phương với Trung Quốc đánh nhau, tuy ở cách xa nhau gần nữa địa cầu, thế mà lính Tây (chỉ Tây Ban Nha) tiến ra từ Lữ Tống(12), thuế má người Anh cung cấp từ Mạch Gia, tiền của ở Cát Lâm(13) là kho ngoài của nước Nga. Thế thì giặc mạnh vốn không ở ngoài trung dương bảy vạn dặm mà chúng ở ngay sát nách vậy. Cái “thế” trong ngoài hỗn tạp, mà cái “hình” thôn tính lập thành. Đất Lữ Tống từ đời Minh đến nay, hơn ba trăm năm vẫn thần phục Tây phương, mà nay lại muốn ngang nhiên tự mình đứng vững, thực là khó lắm thay! Ấn Độ, Miến Điện cũng cùng chung một bệnh như vậy. Xiêm La thì có thể giữ nguyên vẹn được, nhưng họ không thể hoà thân với các nước láng giềng. Nhật Bản thì mỗi ngày một tiến lên nhanh chóng, nhưng Nhật Bản mạnh thì mối lo của Trung Hoa lại chẳng phải ở ngoại dương mà chính là ở đây vậy.

Ôi! Đất nước nhà Thanh (Trung Hoa) không phải là không mênh mông rộng lớn, nhưng miền Hắc long bị sáp nhập vào Nga; con đường từ Miến Điện thông suốt đến đất Điền (Vân Nam); thậm chí Hương Cảng, Áo Môn, Tô, Hạ, Đài Loan đều là con đường phía đông của các nước từ phương Tây đi đến; rồi khi có nội biến đều tự phân chia xâm chiếm, thì làm sao có thể giữ cho ngày sau tránh khỏi cái lo chia năm xẻ bảy được. Ngày trước thiêu rụi ở Viên Minh (thời Hàm Phong(14), đốt cháy ở Quảng Đông (thời Đồng Trị)(15), và gần đây Phúc Châu (thời Quang Tự)(16) cũng hầu như không giữ được. Thế là nước ấy không phải là không lớn. sức nước ấy không phải là không mạnh, nhưng pháp độ - giáo hoá đã bị bỏ lơi, trên dưới đã cẩu thả, cầu an, cũng đúng thôi, Qua Đăng(17) đã bị bó chân không đi tới được.

Thế nhưng không đến nỗi đã quá lắm đâu. Không phải là “trí” có thể có, để chế ngự nổi “mệnh” của các nước phương Tây mà là “thế” thì đủ để ràng buộc sức của các nước ấy. Chính trị của Tây phương hoàn toàn quan hệ với thương mại, mà Trung Quốc lại là nơi mọi phía dồn vào(18), hễ một nước khởi hấn thì bốn bên đều phải bỏ nghiệp - gà ở liền nhau thì kỵ nhau - nên phải cùng nhau giảng giải; đó là cái thế kiềm chế lẫn nhau vậy. Mình không tự cứu nổi mình thì làm sao có thể cứu nổi người! Cao Ly phụ thuộc vào nước Nga, Lưu Cầu(19) bị thôn tính bởi nước Nhật, thế mà nhà Thanh vẫn cứ giương mắt mà trông. Trước kia có người bàn bạc nên làm theo kế của Thân Bao Tư (20), vì họ cũng chưa hiểu rõ được cái đại thế mà thôi.

Ôi! Tình thế nước ta đến ngày nay còn có thể nói được gì nữa! Bên trong thì của cạn, sức kiệt; bên ngoài thì bị lấn lướt, khoá tay; lấy xương còm chống lại kẻ khoẻ mạnh, mà bóp cổ đấm lưng, thì còn có thể chống lại được bao nhiêu!

Trước kia Trịnh Trang(21) ở đất Hứa, bên trong thì mưu tính tự làm giàu, bên ngoài thì vẫn danh hiệu cũ. Vì ông ta thực sự có lo sợ, cho nên phải giả danh để mê hoặc người. Cái thời giảo quyệt của người đời nay có kém gì người đời xưa đâu!

Sự còn mất của Tây Ban Nha tuy chẳng có liên quan gì với cơn ngứa ghẻ của nước Anh, nước Pháp(22), thế mà họ vẫn đem quan cứu giúp nhau không để cho người Nga thôn tính. Đó chẳng phải là vì người Tây Ban Nha mà mưu tính đâu? Từ khi người Châu Âu đi thuyền sang phương Đông, thèm thuồng đất Trấn Đán(23), có lẽ họ dụng công từ lâu đến mấy chục năm, đến hàng trăm năm rồi mà vẫn không có được một tấc đất nào. Nay Pháp chỉ với cái sức suy bại còn lại của phương Tây, bỗng nhiên có được cái kho tàng dồi dào, thì một ngày kia chúng sẽ vét thuế ở Long Biên(24) để giành giật đất Điền; dấy binh ở Chân Lạp(25) để quấy rối Tân Gia Ba(26) rồi dồn chứa tất cả sức lực ở trong nước để giành lại đất cũ với Phổ(27). Đó cũng là mối lo thầm kín của Anh, Phổ vậy. Nếu chúng có được cơ hội thì lập tức viện cớ để gây chiến, vậy thử hỏi bọn kia có thể cao gối nằm yên được không? Bên ngoài chúng giả danh dựng người kế nghiệp, nhưng bên trong chúng lại thi hành mưu kế thu vén làm giàu; chúng cũng giảo quyệt lắm thay!

Thầy thuốc chữa bệnh ắt phải biết nguyên nhân của bệnh, rồi trị cái nguyên nhân ấy thì bệnh mới khỏi. Mưu tính hiện nay tồn tại thực không có nguyên nhân hay sao? Vì bọn chúng hèn kém mà mình chẳng nỡ ư? Vì bọn chúng giàu mạnh mà mình chẳng dám ư? Đều không phải như vậy! Thế thì đã có nguyên nhân tồn tại rồi. Người xưa trong lúc rối ren thường vẫn cứ đinh ninh là việc nước đã ổn định. Tại sao họ lại viễn vông như vậy? Vì nếu họ không cho là như thế thì sẽ không có gì để ràng buộc nhân tâm, sẽ dứt hết mọi sự xem xét và sẽ mất hết tài trí của thiên hạ. Vả chăng trí mưu của ngoại bang không phải là khó dò xét lắm đâu. Vì chuyện mà chúng mưu đồ thì lâu dài, cái mà chúng tranh đoạt là mối lợi lớn. Những việc làm hiện nay, chúng đều đã trù tính ngay từ lúc mới mang thuyền đến nước Nam, chứ không phải vì vui mừng về một lời nói mà chúng hứa định điều khoản; cũng không vì giận dữ một sự việc mà chúng dấy lên binh đao. Nếu chúng ta cứ co ro, sợ đầu sợ đuôi thì chỉ chuốc lấy sự khinh miệt mà thôi. Nay chúng ta hãy thực tâm bỏ đi cái hư danh mà mình không có, vạch ra cái chỗ thực mà mình có được, khiến cho có định chế rõ ràng, kẻ khác không được xen vào để làm rối quyền hành; rồi trên dưới một lòng, sớm tối tìm tòi bàn định. Bên trong là nổi khổ của dân chúng, cùng cái tệ quan lại, bên ngoài là tình hình Tây Dương và mối lợi tàu buôn; rồi tất cả đều phải kịp thời chỉnh đốn; xa thì xem gương Câu Tiễn(28), gần thì xem gương Nhật, Phổ. Nếu làm được như vậy thì hiện nay chúng ta lại không có thể mặc sức làm nên nghiệp lớn? Nếu không làm theo kế ấy, mà mọi việc cúi, ngẩng đều do người ta định đoạt cả thì chúng ta cũng lại đi theo vết xe cũ của Ấn Độ, Miến Điện(29) mà thôi.

Có thuyết nói rằng: hàng ngày người làm ruộng bón phân cho lúa sắp khô héo, thì mặc dầu chẳng phải là họ mong tất yếu sẽ được mùa, nhưng chính là họ làm cho đất màu mỡ để năm sau nhờ đó mà gieo trồng. Vậy thì việc vun xới, nuôi dưỡng để bồi bổ nguyên khí cho đất đai cũng không phải là cái kế sai lầm vậy. Ôi, người quân tử chỉ cần biết làm cái việc cần phải làm, còn cái “thế” và cái “số” có thể gạt đi không cần xét đến. Mạnh Tử khi ở nước Tề(30) đã nói: “Với nước Tề, việc thi hành đạo vương dễ như trở bàn tay”, còn ở nước Đằng(31) ông lại nói: “Nếu có bậc vương, thì cần phải đến mà bắt chước”. Vậy là có phải vì cái thế yếu kém mà dám trễ nải việc tu chỉnh đâu? Vũ Hầu(32) đời Hán, Việt Thạch(33) đời Tấn, Văn Tín Quốc(34) đời Tống, Sử Thượng thư(35) đời Minh, mấy vị quân tử ấy, không phải là không biết cái “thế” ra sao, nhưng các vị ấy vẫn đều hết sức làm cái việc cần phải làm, còn thành hay bại, sắc hay cùn, thì không kể đến.

Vả chăng cái mối nguy cơ ngày nay há phải là mới bắt đầu từ ngày nay đâu? Cái mối nguy cơ ngày nay chẳng phải là do việc gây chiến ở cửa biển Cần Giờ, ở bán đảo Sơn Trà, mà là ở ngay từ lúc nước Vạn Tượng, nước Cao Miên xin triều cống. Có ngoại bang mạnh tới xâm lấn thì chúng ta đổ cho ngoại bang, giả sử nếu không có ngoại bang thì chúng ta có thể yên ổn, vô sự được không? Việc chia quận huyện là do xuất phát từ chế độ phong tước kiến địa(36), còn chuyện phân chia bờ ruộng là bắt nguồn từ chế độ tỉnh điền(37). Thối nát - thần kỳ, đó là cái lẽ tự xoay vần của vạn vật vậy. Dựa vào thư từ, coi thường khoán ước, cho nên quân đội ta ngày càng yếu kém, vậy cần phải cố gắng chấn chỉnh lại! Quen thói phô trương, rộng việc đặt bày, cho nên quan lại ta nhũng lạm, vậy cần phải cố gắng hạn chế đi! Vì giấy tờ bề bộn nên tục lệ cũ của thời thượng cổ(38) mới trở lại; vì công việc trễ nải nên học thuyết Thân, Hàn(39) mới dấy lên. Đó là cái nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự thể ngày nay và là sự thay thế lẫn nhau của việc biến chuyển thời thế vậy.

Thời thế biến chuyển đến thế này là cùng cực rồi ! Nhưng cơ trời “bĩ” và “thái” thường nương tựa nhau và ngầm chứa nhau. Người quân tử không dám vì thiên hạ yên trị mà xao lãng việc nơm nớp giữ gìn, thì họ cũng chẳng nỡ vì thiên hạ loạn lạc mà sợ sệt, co rụt, lẩn tránh. Nếu có trách nhiệm với đời này một ngày thì cũng sẽ có việc cần làm một ngày. Người quân tử rất ghét những kẻ lấy cớ thời vận để tự thoái thác vậy.

Tuy nhiên mưu kế của Thái Tây(40) cũng vụng về lắm. Mặc Lợi mở ra mà Hoa Kỳ dựng nước; Đông Bột khai thông mà Nhật Bản hùng cường, vì khẩn hoang núi Đại Lợi mà Mạch Tây(41) hưng thịnh; vì khai thác núi Tân Lang mà Xiêm La giàu có. Gần đây họ lại dốc sức vào miền nam Áo hầu tạo nên thế đối địch sau này. Nói chung sở dĩ họ làm được cái kế tự thu vén làm giàu, vốn đều là thay cho người thiên hạ trước cái việc mở mang chỗ tối tăm, diệt trừ đám cỏ dại; ví như người đàn bà khéo léo hàng ngày lo toan tổ ấm; hàng ngày lo lắng dạy dỗ con cái. Há chẳng phải là trời phú cho họ cái đức tính như vậy chăng, mà sao lại làm không biết mệt như thế? Ôi! Có điện mà không biết dùng, có khoáng sản mà không biết lấy, chỉ cậy vào sức chai cứng của chân tay mà không biết đến sự tiện lợi của tàu, xe chạy bằng máy hơi nước; quả thật đó là ngu nhất thiên hạ vậy. Nhưng biết đâu trời lại chẳng thương cho cái ngu đó mà sai kẻ thay mặt dạy dỗ cho chăng? Buộc bịn xong thì chim tu hú vụng về đã có nhà rồi(42), dạy dỗ cho ta xong thì kẻ khác trở thành thừa. Đó là cái lý tất nhiên vậy. Xem cái lý, xét cái thế, chúng ta đã kịp thời tu chỉnh pháp độ - giáo hoá để không phụ lòng mong mỏi của nhân dân. Đó là điều trông đợi ở những người quân tử tương lai trong nước vậy”.

(Tạp chí NCLS số 5+6/1987, tr.94-98).

                                                

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123