​2. Một số bài tấu của Trần Tiễn Thành gửi vua Tự Đức nói về Nguyễn Trường Tộ 2

2. MỘT SỐ BÀI TẤU CỦA TRẦN TIỄN THÀNH GỬI VUA TỰ ĐỨC NÓI VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 2. 

2. 1. (Ngày 12 tháng 2 năm Tự Đức thứ 19, tức ngày 28-3-1866).

Thần Trần Tiễn Thành tâu:

Gần đây thần vâng lệnh hỏi Nguyễn Trường Tộ các khoản trong tờ bẩm của y. Nhân đó thần thử hỏi những điều ấy y nghe thấy được, hay do ước đoán.

Theo ý nói, hiện nay ở Gia Định có linh mục Du Cơ Đăng rất được tướng Pháp, quan Pháp tin trọng, thường đem việc nọ việc kia thảo luận với linh mục này, linh mục này lại rất yêu mến y, do đó y nghe được đại khái các sự việc. Lại nữa y vốn không làm việc cho Pháp, mà tướng Pháp quan Pháp cũng xem y là người của nước ta, biết ít nhiều sự lý, nên có cùng lúc y trò chuyện. Y thấy người Pháp lập tâm kiên nhẫn mưu tính sâu xa. Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên là ba tỉnh có nguồn lợi về đất đai dồi dào họ thường ham thích và cố tâm chiếm đoạt. Như họ đã từng bí mật dò hỏi, muốn tung tiền bạc ra mua chuộc những tên xã tổng trong ba tỉnh, khoảng hơn một ngàn người, khiến bọn này lập tờ thuận theo Pháp. Để khỏi trở ngại, mỗi tờ bọn này đều ký tên và lăn dấu tay. Đó là cái kế để tóm lấy ba tỉnh này. Biết có làm được chăng? Người Pháp lại thường bảo rằng việc ta hoà với họ chẳng qua là giả dối, như có thể thấy đại khái việc làm lén lút của Thiên Hộ Dương và các khoản giặc cướp đều do Triều đình xúi giục. Mỗi mỗi y đều đem lý lẽ biện chiết với người Pháp.

Lại nữa Nguyễn Trường Tộ trước đây đã vâng lệnh đến dinh của thần để theo phái bộ, việc này đã báo cáo đầy đủ cho thần Nguyễn Chính biết. Chỉ vì thuyền này đã có người thông ngôn quen biết của thần Lê Đình Đức tên là A Hoè rồi, (Châu phê: Là ai? Có thực không?), tên này cũng có thể thông dịch được, cho nên thần Nguyễn Chính không đòi y đến. Thần và thần Phạm Phú Thứ chuyển sức Nguyễn Trường Tộ hãy trở về nhà trọ chờ quyết định. Nay vâng phê chuẩn: “Tên Tộ không cần đến. Các lẽ. Khâm thử”. Còn tên này trước có xin theo tên Hoà trở về Bình Chính, vậy xin cho hắn đi trước. Kính xin tâu luôn. Còn các tờ bẩm của tên này sẽ xin đệ trình sau. (Châu phê: Hãy duyệt xét các khoản, nếu rõ ràng không có gì nghi vấn mới có thể toan tính được. Các khoản này khanh có thể giải quyết được để khỏi lộ ra ngoài càng tốt. Bằng không, thì gọi thần Phạm Phú Thứ, cùng nhau thảo luận mới thành được !)

Thần Trần Tiễn Thành phụng thảo.

                                                        

                                                     (Trương Bá Cần, Sđd.tr.449)

 

2.2. (Ngày 27 tháng 3 năm Tự Đức thứ 19, tức 11-5- 1866)

Trần Tiễn Thành tâu:

Nay vâng châu phê trong đó có một khoản “Trần Tiễn Thành không sai bảo được chúng, đó là tội to. Sự việc đã xảy ra như thế đâu phải đổ lỗi cho chúng được? Biết đâu là thấy không có gì đáng ngại nên để cho chúng đi ? Khâm thử”.

Thần đọc xong khôn xiết run sợ toát mồ hôi. Vả lại Hậu gặp thần một lần tại cửa Thuận An, một lần tại sứ quán Đông Gia, mỗi một lần chỉ vài ba khắc mà thôi. Theo thần quan sát thì tên này bên trong có chỗ cậy thế, bên ngoài có vẻ oán hận, nên thần cũng không dám đem chuyện chân tình ra nói với hắn. Mà tên Tộ cũng nhiều lần dặn chớ để lộ cho tên Hậu biết những điều bàn bạc. Vì thế thần không gần gũi hắn. Từ khi hắn ở Quảng Bình đến nay đã ba năm cũng không có đồ đệ của hắn đi lại nói gì. Gần đây tên Hoà đến Kinh, nhân có tàu (London) Long Đông mới sai đồ đệ của y tên Hoằng làm thông ngôn. Thần và thần Phạm Phú Thứ cũng lưu họ ở lại. Đến ngày 20 tháng trước tên Hoà phải về Quảng Bình. Thần đã cặn kẽ bảo hãy ở lại chờ giải quyết việc chiếc thuyền xong rồi đi cũng không muộn. Đến sáng ngày 28 thần cho gọi tên thông ngôn Hoằng đến, mới biết tên Hoà, tên Tộ và tên Hoằng đã đi từ hôm 25 rồi. Chiều ngày ấy thấy đồ đệ của tên Hoà là Lưu đến nơi tên Hoà gởi lời nói rằng ở lâu tốn kém. Mới đây tên Hậu có sai người ra gọi về nên không dám ở lâu, sai y đến báo cho biết. Hơn nữa thần cùng tên Hậu vốn không thân nhau. Đi Nghệ An lần này, có lẽ hắn ở Quảng Bình lâu đã ba bốn năm khiến trong lòng bứt rứt, nay vịn vào Hoà ước quyết ý đi đến đó giảng đạo, hoặc cũng có lẽ vì sĩ phu Nghệ An đốt nhà thờ, đánh đập giáo dân, tình thế cấp bách phải mạo hiểm mà đi, không thể không được. Trước đây thần Phan Thanh Giản lúc ra đi nói với thần rằng: Tướng Pháp hỏi về việc đi giảng đạo, của tên Hậu, không biết lấy gì mà trả lời, ý muốn thần đem sự việc ấy mà tâu lên. Thần Phạm Phú Thứ, Thần Nguyễn Văn Tường, thần Trần Thiện Chính cùng nhau bàn tính việc này đã lâu ngày, sợ hắn mượn cớ lôi thôi nên thường bảo thần hãy tâu xin cho hắn đi, thần đều không dám. Lại nữa theo luật của đạo giáo ấy, các linh mục chỉ theo mệnh lệnh của giám mục, không dám sai trái. Nhiều lần tên Hoà đến Kinh, thường đem chuyện không được đi giảng đạo ra nói. Thần đã an ủi rằng hãy ẩn nhẫn chờ xử trí xong rồi sẽ tiếp tục đi giảng sau mới tiện. Nay chiếu theo tờ trình thì ngày 15 tên Hoà có đến chỗ tên Hậu, ngày 16 tên Hoà liền ra đi. Như thế là tên Hậu cố ý đi Nghệ An, tên Hoà không thể nào dám ngăn cản. Huống chi trước đây tên Hoà lầm tưởng rằng có thể giúp cho y được, tựa hồ y có vẻ tin như vậy. Gần đây thần có hỏi việc gì thì y cũng chỉ nói qua loa cho xong chuyện. Như thế làm sao tên Hậu lại được thư trả lời của thần? Lâu nay những giấy tờ lời lẽ giao thiệp nào có liên quan đến bọn họ, thần rất lấy làm lo lắng, mỗi mỗi đều trình lên, không dám giấu diếm chút nào. Ngay việc tên Hậu đi Nghệ An, thực tình thần không biết, đâu dám thả lỏng cho hắn đi. Chỉ vì thần ngu muội nông cạn, không nghỉ tính trước được công việc, để tâu xin ngăn chặn hắn lại. Xin cam chịu tội. Vậy dám mạo muội phúc trình đầy đủ. Ngửa mong soi xét.

(Châu phê: Trẫm khoan nhân nhưng vì luật pháp không thể khoan nhân. Lời người ta nói, còn có thể bàn luận, cũng không phải sợ).

(Châu phê:Trong tất cả những người được trẫm cất nhắc không theo thứ tự, chỉ có ngươi và Đoàn Thọ là hơn ai hết. Ngươi lại được ưu tiên nhất, bởi vì dùng được nghi chép được, nên mới ban cho danh vọng, quyền hành trọng yếu, mong cho ngươi gặp được Trương Thái Bảo vậy. Tâm tính Trương Thái Bảo như thế nào chắc ngươi đã biết rõ. Tuy tài không bằng nhưng lòng dạ thuận hậu, nhờ đó bảo toàn được thủy chung. Nay mong nhà ngươi bắt chước tâm tính nó mà gia công học tập, phát triển tài năng, để người trước không có độc quyền cái hay cái tốt. Miệt mài chăm chú đến thế thì lo gì mà không đủ ? Những cái nhỏ nhặt tầm thường để cho người ta lấy hoặc cho người ta mà không ngăn cấm, đó cũng là tội lỗi không tha thứ được. Nói chi đến tất cả những việc thương liêm hại nghĩa, dối lòng lừa trí, dù cho không ai hay biết cũng không được làm. Không được làm là để giúp cho ngươi trở nên bề tôi lương thiện, còn trẫm thì không mất cái tiếng biết người, dùng kẻ hiền. Ngõ hầu cả hai đều được trọn vẹn. Phải luôn luôn ghi nhớ rằng: Quan càng cao tâm địa càng thấp hèn đó !)

                                         (Trương Bá Cần, Sđd.tr.450-451)

      

2. 3. (Ngày 19 tháng 4 năm Tự Đức thứ 19, tức 1-6-1866)

Mới đây thần có nhận được ba bức thư của Nguyễn Trường Tộ gởi cho thần, do từ Quảng Bình, Nghệ An phát giao, cùng với một quyển Hàng hải kim châm của dân đạo đệ nạp. Sau khi tiếp nhận, thần vô cùng lo sợ. Nghĩ vì thần bẩm chất ngu muội hẹp hòi, không có kiến thức sâu xa là do ở chỗ ngu muội hẹp hòi của thần mà gây nên cả. Gần đây hằng đêm thần nuốt lê thương thân, ăn năn không kịp. Lúc ấy chúng đến Kinh, thần thấy cái thế không cự tuyệt được nên cũng nói một đôi lời để an lòng chúng, không ngờ lại có thư từ. Thần chỉ biết cúi đầu xin tội, vội dám mạo muội tâu trình kính mong soi xét.

Về sách Hàng hải kim châm có nên giao cho Bộ Lễ sức cục in sách lĩnh in ra mười quyển để đủ cấp phát, còn nguyên bản chờ in xong sẽ trả lại hay không ? Kính xin tâu luôn, chờ chỉ vâng làm.

Thần Trần Tiễn Thành phụng thảo.

(Châu phê: In ngay hai quyển bằng giấy kỳ lân hoặc giấy tinh bạch dâng lên xem. Còn giấy thị hoặc giấy mệnh thì in mười quyển đủ cấp phát. Làm xong gấp gửi trả nguyên bản).

(Châu phê: Đọc tờ trần tình thật không thể hiểu được, không biết ý gì mà lủng củng như vậy. Hay là bảo trẫm chưa hết sức tin dùng? Thế là tình cảm trên dưới chưa thỏa mãn, làm sao cáng đáng được công việc? Đó là do tư tâm của ngươi suy đoán, không yêu vua yêu nước mới nhạt nhẽo như thế. Không thế thì xưa nay đã ủy thác cho ngươi như thế nào? Và ngươi ủy thác bọn chúng ra làm sao, mà nay lại có những lời lẽ như vậy? Hèn chi bấy lâu nay ngươi chẳng xong được một việc gì cả, khiến trẫm sớm chiều trông ngóng bồn chồn không yên mà không hiểu vì lý do gì. Hơn nữa ngươi đã được ơn vua ưu đãi nồng hậu đến thế mà chưa chịu nghĩ báo đền, huống hồ những kẻ xa lạ thì còn sai bảo gì được? Than ôi việc nước ta biết cùng ai mưu tính mà cùng chia sẽ những nỗi gian truân này ư? Trường Tộ việc gì cũng đã nghi ngờ Triều đình, ngươi lại còn theo mà tạo nghi ngờ nữa, thì mọi việc mỗi ngày một hỏng không trông mong gì thành công được. Vả lại việc làm của ngươi xưa nay trẫm đã rõ hết rồi. Lại ngày thường trong Triều đình trẫm đã hỏi rõ, bảo rõ, mọi người đều biết sự ủy thác tin dùng của trẫm đối với ngươi là công bằng chí thiết, không một mảy may thiếu sót. Ngươi cũng thấy rành rành ra đó là chưa có một việc gì thành công cả. Nay muốn nửa chừng bỏ dở hòng trút cho ai? Trẫm sợ rồi đây ngươi không khỏi phụ ơn, cũng không tránh khỏi điều chê trách. Thế thì những hạng như ngươi đều vô ích. Nay phải rửa sạch hiềm nghi quyết lòng lo báo, làm sao cho nước nhà được tôn, rợ Tây phải nhục. Đó là ngươi báo đáp ơn dày nuôi dạy của tổ khảo ta chứ không phải chỉ rửa nhục cho một mình ta mà thôi. Sự tình lý thế chắc chắn hãy còn dây dưa chưa dứt, không phải nói đi nói lại làm gì. Nếu xét thấy dùng bọn này, rốt cục vẫn vô ích thì cứ chiếu sự thật mà trách phạt, rồi tìm kế sách hay khác mưu tính tự cường, không thể dung dưỡng được nữa. Nếu còn bê trễ không thành việc ắt cứ pháp giáng truất, chớ để trẫm phải nhắc lại. Nếu không thì phải dâng nhiều lên xem để cùng lo liệu, bình tâm xử sự, mở lòng thành, bày lẽ công, ta với mọi người không xa cách nhau thì ai dám chống báng, việc gì chẳng thành. Nay hãy đệ nạp các bản, trong đó các khoản nên chăng như thế nào, khoản nào nên làm ngay, khoản nào nên đình lại, nhất nhất phải nói rõ (Phải phúc trình riêng cho biết có bao nhiêu nguyên bản, xét kiểm sơ qua các khoản để tiện xem). Lại phải tiến trình các bản chưa đóng hãy đóng chung lại kẻo mất. Còn như các tờ trần tình của lương và giáo xem xong so với tờ tâu của Nghệ An thấy hai bên bên nào cũng có lý lẽ riêng, trẫm thực chưa biết thực giả như thế nào. Nhưng những việc nhỏ nhặt cũng không để ý hết được. Mới làm tờ tâu lần đầu nên lời lẽ không rõ ràng đấy thôi, sau nhiều lần chúng sẽ ổn, không nên phiền nhiễu lắm).

        (Trương Bá Cần, Sđd.tr.451-452)

 

(Ngày 9 tháng 11 năm Tự Đức thứ 23, tức 23-12-1870)

Trần Tiễn Thành tâu:

Ngày 6 tháng trước có tiếp được trát của tỉnh thần Nghệ An Nguỵ Khắc Đản gởi qua Binh bộ để chuyển giao Cơ Mật viện một phong thư mật bẩm của Nguyễn Trường Tộ, trong đó đề do Lễ bộ chuyển giao Cơ Mật viện duyệt. Nội dung xin đề nghị lập lãnh sự đại sứ tại Kinh đô nước họ để rộng đường giao thiệp và liên kết với người Tây để giúp ta sau này, đồng thời đề nghị phái người tâm huyết giả có việc vào Gia Định để tìm người Tây kết thân, thăm dò tình hình mà thừa cơ hội .v.v..

Xét các khoản này năm trước y cũng đã trình bày nhưng chưa tiện thực hành, nay lại đề cập dẫn lý thế hiện tại và điển cố biện thuyết, chẳng qua chỉ là muốn tỏ ra có lòng vì mình mà thôi. Nhưng bác đi là vì thời sự khó thực hành. Đó là ý kiến đã được thương nghị cùng thần Nguyễn Tri Phương, thần Phạm Phú Thứ, tất cả đều đồng như vậy. Vậy dám tâu bày và đem nguyên bản tiến trình hầu thánh thượng thấu suốt.

Trần Tiễn Thành phụng thảo duyệt.

                                                       (Trương Bá Cần, Sđd.tr.478-479)

(Ngày 30 tháng 11 năm Tự Đức thứ 23, tức 23-12-1870)

Trần Tiễn Thành tâu:

Ngày 9 tháng này có tiếp một phong thư mật bẩm của Nguyễn Trường Tộ do Thự đốc thần Nghệ An Tôn Thất Triệt phát giao, trong đó đề là do Lễ bộ chuyển giao Cơ Mật viện thần khán duyệt.

Nội dung mật bẩm trần thỉnh hai kế, đại khái một là xin sớm sai người vào Gia Định thám tính, dùng kế với soái Pháp khiến trả lại sáu tỉnh cho ta mà kéo toàn quân về nước để bình nội loạn, công việc xong yên rồi qua ở buôn bán như kiểu người Anh đối với Trung Quốc vậy. Hai là phải gấp rút giao thiệp chặt chẽ với người Anh. Người Pháp có thấy ta tìm người Anh mới dễ hạ lòng thương chước với ta. Đồng thời sai người sớm qua Kinh đô nước Anh thám sát tùy nghi thi kế và dùng sức đánh thành, sự lý có thêm bớt đôi chút so với các khoản y đã trình bày năm trước về sáu điều lợi. Nhưng khoản trước thì mới rồi phụng phê thị các lẽ đã có nghĩ đến và Cơ Mật viện Thương Bạc đã vâng rõ, đình thần duyệt sửa mật thư của Thương Bạc hỏi han và nhân đó đề cập đến khoản trả lại đất bồi hoàn tiền để mong muốn điều đình, nhưng soái ấy phúc thư dùng lời lẽ tránh né, hoàn toàn không mảy may đề cập đến khoản này. Rồi vâng chuẩn giao hỏi ý kiến các hoàng thân hoàng tử ở Tôn nhân phủ và đình thần. Tất cả phúc tâu đều cho rằng hiện nay việc miền Bắc như thế thì việc Tây chưa tiện hành động được, nói nữa sợ gợi nghi ngờ của họ. Còn khoản sau thì thật là khó phái người làm công việc này. Thần thiết nghĩ việc đời phải tùy thời mà làm. Thời chưa đến không thể nào cưỡng làm trước được. Còn thời đã đến có thể thừa cơ hội được thì càng không nên chậm trễ để lỡ mất cơ hội. Nước ta bảy tám năm trở lại đây, cương giới phía Nam vùi dập, thần dân không ai không đau giận. Nhưng phía ta không luận hữu sự hay vô sự, đều chưa tiện dùng biện pháp cứng rắn, cho nên từ trước đến nay ẩn nhẫn mà dùng biện pháp mềm dẻo, lấy hoà hiếu để chờ cơ hội. Cho dẫu chưa thi hành được ý chí vẫn ôm ấp trong lòng không một ngày dám quên. Nay nghe vua nước họ bị Phổ bắt, nhân dân trong nước chia rẽ làm loạn. Đây có vẻ đã đến lúc có thể thừa cơ hội được. Nếu không nhân lúc này mà hành động sợ không khỏi hối tiếc đã đánh mất thời cơ. Có điều hiện người Pháp vừa mới nghi ngờ phòng bị, nếu phái quan ta đi thăm dò sẽ khiến chúng nghi, mà quan ta đều không thông ngôn ngữ, không quen biết nếu có phái đi tưởng cũng tốn kém vô ích mà thôi. Nhưng xét ra các khoản Nguyễn Trường Tộ đề nghị phái người đi thám thính tình hình, tùy nghi thi hành kế hoạch, nếu lấy lý mà bác, tuy chưa chắc đã đúng cả nhưng cũng không phải hoàn toàn sai, trong đó không phải không có một vài điều có thể áp dụng được. Hơn nữa muốn giải quyết việc đi ắt phải hiểu rõ tình hình đi như thế nào. Vì vậy nên ngay thời Minh Mạng là lúc quốc gia cường thịnh mà còn không kể tốn kém phái người đi thám sát rộng các nơi (như việc nguyên Lại bộ thần là cố Tôn Thất Thường qua Đại Tây) để hiểu thấu tình hình những nơi xa. Huống chi nay ta đã cùng họ giao thiệp thì chuyện sai đi sứ qua lại hỏi han sai người làm gián điệp điều có thể nào thiếu được?

Nguyễn Trường Tộ từ bé đến lớn ở với Tây có một kiến thức khá tự phụ, nhiều lần trần tình thật tung hoành, thế liên hiệp và những phương sách giúp ta chống lại chúng có đến hơn mấy ngàn lời. Dĩ nhiên trong đó có ẩn giấu điều gì không, không thể nào biết được, nhưng xem rõ lời lẽ khẩu khí thì thấy có lúc khẳng khái và có lúc muốn đích thân xin ra làm việc, tựa hồ muốn biểu lộ tấm lòng ngoái lại cái gốc của mình để báo chút lòng trong muôn một. Như vậy tưởng cũng không nên vì con người mà bỏ lời nói của người ấy đi. Xưa Tần dùng Do Dư, Hán dùng Nhật Thiền đâu phải vì Tần Hán không có người, nhưng vì họ là người am hiểu sự tình bên kia vậy. Huống chi y tuy theo tả đạo nhưng cũng là tôi con của Triều đình. Giả sử nói y thuộc dân tả đạo tâm tính khả nghi, vậy nếu y quả có tha tâm ngầm thông tin tức thì trong khi y theo các đạo trưởng qua lại phương Tây y không làm được sao, cần gì phải đợi ủy giao công việc mới làm được? Thần lại thường được nghe tục lệ phương Tây trong đạo giáo và mọi việc đều dựa vào Công hầu, Thứ dân hai viện. Đạo trưởng tuy không quan hệ việc nước, nhưng lời nói việc làm của họ được nhân dân trong nước tin tưởng. Như vậy tưởng cũng có thể tùy cơ ngấm ngầm mưu đồ được. Nay khâm chuẩn cho Nguyễn Hoằng qua Pháp trước gởi gắm người học tập, nhân đó sai tên này đi theo vào Gia Định trần thuyết lợi hại cùng các đạo trưởng Tây, nhờ họ nói với soái Pháp, rồi qua Pháp và qua lại các nước Anh, Nga, Áo, Phổ thăm dò tình hình, rồi lại đến hai Viện Công hầu, Thứ Dân ngầm nói thông đồng với họ, có sự thế gì, cơ hội như thế nào cần nắm cho chân xác lần lượt gởi về để tiện khi ta thương chước cùng họ không phải là vô ích, mà những người này qua lại học đạo đối với ta, không có chứng tích gì thì đâu có hại. Đó là thần thấy nước Pháp có cơ hội này thật là khó được, mà dễ mất, tuy phái y đi có thành công được việc gì hay không còn chưa biết được, nhưng bỏ qua thì thật không yên lòng, cho nên không dám vì sự ngu dốt thiển cận của mình mà làm thinh không nói. Vậy dám có lời phúc tâu hầu thánh thượng tài định.

Trần Tiễn Thành phụng thảo duyệt.

Châu phê: Đất nước có trông cậy việc gì là trông cậy có bề tôi có thể hiệp tâm đồng mưu để giúp việc lớn. Các khanh không nghĩ, không nói thì lấy ai nghĩ nói cho? Chỉ vì lòng trẫm và lòng của khanh cũng đều vì việc công. Việc quan trọng không mưu tính với số đông thì không thể làm được, nhưng không kín đáo lại hại cho sự thành công, chưa thể dự tính nhiều được. Truyền cho Cơ Mật viện, Thương Bạc với khanh cùng nhau bàn luận kỹ nên phải làm như thế nào cho chu đáo, phúc tâu đầy đủ, đừng để mất thời cơ. Nếu có đường lối nào hay hơn càng tốt.

                                                       (Trương Bá Cần, Sđd.tr.479-481)

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123