Phần thứ hai: Quan hệ với các nhà Duy Tân

1. MỘT VÀI VĂN THƯ CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ GỬI TRẦN TIỄN THÀNH

 VỀ VIỆC ĐÀO TẠO NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN VÀ SỬA CHỮA THUYỀN MÁY (1)

(Tháng 2 năm 1865)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin dâng lên đại nhân soi xét.

Hiện nay thuyền của Tây đã đến Kinh; tôi đã ngầm hẹn với ông Hoằng cùng đi với tôi là có thâm ý riêng:

Một là, lần này thuyền Tây đến trả lời thẳng là không trả 3 tỉnh, mà còn tin cho biết sẽ đòi tiền bồi thường hàng năm. Tôi nghĩ có lẽ Triều đình đã có lời bàn riêng với họ, nhưng viên thông ngôn đã bị họ sai khiến, nên hễ có lời nói nào không hợp với họ, thì hắn ta bênh che không dám nói hết lời. Như thế thì thật hỏng việc. Như việc phiên dịch của Trung Quốc đối với các nước ngoài trước kia, vì do những sự thêm bớt sự việc mà đến hỏng việc nước. Cho nên tôi đã thầm hẹn với ông Hoằng cùng nhau đến đấy. Nếu Triều đình có những việc gì cần nói cứng hoặc cần đấu dịu cứ việc nói thẳng không ngại gì.

Hai là, trước đây phái viên tung tin ra rằng Phan đại nhân và Phạm đại nhân có sai người đến hỏi ông Hoằng về việc hoả thuyền. Lúc bấy giờ chưa thể trình bày rõ, nay nếu cần hỏi tỉ mỉ rõ ràng thì có Hoằng ở đây. Nếu có điều gì ông chưa hiểu thấu thì tôi sẽ cùng ông bàn bạc rồi sẽ bẩm rõ. Vả chăng về việc đại thuyền và cơ khí thì trước đây tôi đã trình bày sơ lược rồi. Nếu muốn mua những thứ đã có sẵn thì phải theo cách đó mới được (trước đây đã trình bày rõ). Hoặc muốn sang nước họ học tập chế tạo những thứ đó, theo tôi phải có những người khéo tay chọn lấy khoảng ba bốn mươi người từ ba mươi tuổi trở lên, đi học chế tạo, lại cần có những người thông minh chọn lấy mười người từ hai mươi lăm tuổi trở lên, đi học đại số, vi phân cùng các môn trọng lực học, hoá học, quang học, v.v... Hai khoản này nếu thiếu một không thể thành việc. Lại phải sang kinh thành nước Pháp hoặc kinh đô nước Anh học khoảng 8, 9 năm mới biết được đại khái. Vì rằng sang học tại nơi đô thị của họ, thì một là kiến văn rộng rãi việc học đễ thành đạt, hai là ở lâu với người nước họ, thông hiểu được ngôn ngữ, phong tục của họ, sau này có việc gì sai phái đi về cũng dễ. Còn như ở Sài Gòn, các loại máy móc hiện có chế tạo từ bên Pháp chở qua đây chẳng qua là những loại xấu, hư hỏng mà thôi, không có gì đáng học.

Nếu Triều đình muốn thực hiện hai thứ vừa kể trên, tôi và ông Hoằng xin tình nguyện ra sức cùng sang Tây với hai lớp người nói trên, thông dịch ngôn ngữ, giải quyết những điều họ chưa hiểu rõ, phụ giúp cho những chỗ họ không theo kịp thì không ngoài mười năm, việc học sẽ thành đạt. Bởi vì đối với lý thuyết của hai khoản nầy tôi đã biết được những điều quan yếu. Lại thêm ông Hoằng là người rất giỏi tiếng Pháp, giải thích, phiên dịch được rõ ràng, nếu cùng đi với những người này thì sẽ trực tiếp và dễ dàng hơn. Hiện nay Nhật Bản, Miến Điện cũng đã phái người đến kinh đô nước Pháp học kỹ nghệ. Đến như nước Nga ở phương Tây mà cũng cho người đến nước Anh, nước Pháp học tập. Tuy phải dụng công lâu dài, chi phí rất lớn, nhưng cũng thu hoạch được nhiều. Vì rằng muốn thành đại sự phải mất hàng trăm năm chứ đâu phải một ngày mà được. Cho nên người quân tử lo toan mọi việc chẳng những ở đời mình mà còn cho con cháu nữa. Như nước Nga 100 năm nay vẫn thường cử người đến Bắc Kinh học tập Hán văn, cứ mười năm lại đổi một loạt người khác, lại cho người đến Thiên Trúc học tập âm ngữ(2) . Ý của họ là xin lửa thì chi bằng lấy cái gỗ kéo lửa, xin nước thì chi bằng đào giếng uống. Hiện nay cuộc diện chưa biết sẽ đến đâu. Họ đã không trả cho ta ba tỉnh ngoài, mà ba tỉnh trong cũng đã nằm trong ý định của họ rồi (trong tờ trình trước đã nói tới). Mà Y Pha Nho cũng đến miền Bắc, nếu không sớm nhờ người giúp để khiến cho họ yên đi không dám động (Trước đây khi ở Sài Gòn tôi đã có tờ trình rõ với hai vị Phó sứ Bồi sứ, nay không nói tới nữa), lấy cái mưu mà các nước bị mắc với họ để đánh lại họ, lại lấy cái họ đã từng thi hành ở các nước để đè bẹp họ. Vì hiện nay ở thế tung hoành nếu không như vậy thì chưa thấy kế hoạch gì khác có thể trấn áp được họ (trong tờ trình năm ngoái tôi cũng đã nói tới). Đại nhân mang trọng trách của Nhà nước xin sớm định liệu, e rằng nếu để chậm thì đã khó lại càng thêm khó. Tôi ở xa nhưng vẫn là dưới quyền của đại nhân, không có cái gì biết mà tôi không nói, nếu có gì không hợp với sự kiêng kỵ của thời sự, xin đại nhân tha thứ cho. Lại xin đại nhân nếu có bản chép về quốc sử từ Lê đến Tây Sơn nếu có thể cho xem xin gởi cho một bản, nhờ đó tôi sẽ có nhiều giải thuyết để chống lại những phù thuyết của giặc. Tôi lại xin gởi kèm theo đây một cái hộp gỗ thô kính tặng quý công tử dùng đựng thuốc hút, mong đại nhân nhận cho. (Tôi hiện nay bị bệnh tê thấp chưa khỏi. Xin quý công tử thương tình cho tôi 5 đồng cân quế quỳ. Sau này lành bệnh tấm lòng khuyển mã chẳng dám quên ơn).

Đêm khuya bối rối nhiều việc thời sự chưa kịp trình bày tường tận. Một lần nữa kính chúc hai Phó Bồi sứ đại nhân vạn phúc.                                                                                                                           

Nay kính bẩm

                                  (Trích Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ

                   con người và di thảo, Nxb TP. HCM, 1988, tr.157-158)

                       TÂM SỰ VỚI TRẦN TIỄN THÀNH (3)

(Ngày mùng 3 tháng 2 năm Tự Đức 19, tức 19-3-1866)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin kính bẩm.

Tôi trước đây bị ốm nằm ở Gia Định điều dưỡng đã gần hai năm nay, mười phần đã giảm 5, 6. Tôi cũng định đi xa, một là để thỏa điều nguyện ước trước kia, hai là mong được bình phục sức khoẻ để sau này báo đáp ơn trên. Nhưng thời thế còn có điều trở ngại, do người đời còn ghét kẻ có tài mà chặn tay lại, ngay đến người có quyền lực như đại nhân mà còn gặp khó khăn, huống chi tôi là người thân hèn tài mọn mong dựa vào đại nhân để hành sự thì cũng chưa thể được. Không có cớ gì mà việc lớn cứ ngấm ngầm nảy sinh ra nên tôi không thể không trở về để tâu bẩm rõ ràng, ngõ hầu có thể đề phòng được sự việc trước lúc phát sinh. Tôi nghĩ rằng lòng của tôi đã không muốn vào tay người khác để họ sai khiến, mà lại có cách để tránh được tai họa, tưởng mọi người cũng có cái lòng như tôi, cho nên không tiếc tấm thân hèn sắp chết này mà không trở về Kinh để nói rõ cái ý của thiên hạ như vậy. Sở dĩ tôi trở về tâu bẩm chính là ý đó.

Những điều trình bày trong các tờ bẩm trước không phải là những điều thấy nghe nhất thời mà tôi viết ra. Đó là những điều tôi đã ôm ấp hàng năm. Cho nên muốn thổ lộ chân tình, trút hết tâm huyết, mục đích không phải cầu cho lời nói của một mình tôi là thực mà chỉ muốn khắp thiên hạ chứng minh cho sự thực. Hơn nữa, tôi đang ở trong hoàn cảnh bị hiềm khích, chưa chắc ai đã tin ngay lời nói của tôi là không vì một cái gì, không mong được một cái gì, không bị ai sai khiến, không có một ý đồ gì khác mà thật là vượt ra ngoài lẽ thường tình. Theo lẽ thường mà nói, thì những việc làm của tôi như vậy thật là khó hiểu, bấy lâu nay vì tôi không gánh vác gia đình, không thiết tha tài lợi, cả Tây Nam cũng đều thấy, như thế cốt để gạn lọc ý chí, đào luyện tính tình mà bảo dưỡng việc học tập của mình. Tất cả những điều đó vốn là để đợi thời hành sự, để mong làm được một vài điều lòng hằng ôm ấp, để trọn ơn trên, để tròn thế sự, chứ đâu phải cam chịu chôn mình trong cảnh tối tăm tịch mịch? Trung và hiếu vốn là hai điều khó giữ vẹn. Nhưng nếu chỉ nói suông không ngồi vào, không dự vào chỉ biết thân mình, nhà mình, theo thường tình, còn việc an nguy của quốc gia, thì coi như là chuyện của nước Sở nước Việt, không hết lòng báo đáp ơn nước nhà, một mai bốn phương xảy ra nhiều việc thì thân thích của mình cũng sẽ cùng số phận với việc mất còn của đất nước. Trung không thành thì hiếu chưa hẳn đã giữ được. Tôi đã thấy rõ ràng như vậy nên muốn vun đắp báo bổ cho tương lai, chớ không muốn làm gượng ép một cách tạm thời để đến lúc phải than thở ôm tài mà chết. Xin đại nhân xét lại những hành trạng của tôi xem tại sao tôi không chịu làm điều danh lợi cho mình trong lúc còn tuổi trẻ và trong những ngày có nhiều thuận lợi ấy, mà lại còn có cái ý khác trong lúc bệnh hoạn trói buộc, muộn màng gian nan? Nếu thấy được những lý do đó thì biết được lập tâm của tôi như thế nào. Nay tôi nhân việc công về đây, chả mấy tháng bệnh cũ đã tăng lên, tuy được đại nhân chiếu cố cho thuyền đi lại mà cũng khó bề bôn tẩu vâng mệnh. Nhưng lòng tôi yên làm sao được mà dám yên nhiên như thế? Cái tình ấy thật khó nói. Cúi xin đại nhân gia công tài bồi cho chậm lại ít lâu để tôi được khoẻ lại mới có thể ứng mệnh. Ngày báo đáp của tôi đối với Triều đình và đại nhân còn nhiều, trừ phi tôi chết mới thôi, chứ quyết không dám thay đổi chí hướng để mất đi cái kiên nhẫn của mấy năm trước kia là không cận nhân tình không mưu danh lợi. Kính mong đại nhân xét cho tấm lòng của tôi. Sau khi tôi trở về, nếu bệnh khỏi không đợi gọi tôi cũng đến, nhưng nếu chưa bớt thì dù có lệnh gọi tôi cũng xin đại nhân lượng thứ cho. Nếu có việc gì có thể sai phái như mua sách, hoặc trình bày việc này việc khác với họ, giúp đỡ lãnh sự để lấp mối hiềm nghi v.v...Những việc ấy tôi có thể giúp trong muôn một. Còn những việc có tác dụng lớn khác thì thế chưa thể làm được, sợ bệnh tái phát thì khó xong việc. Nếu đại nhân truyền gọi điều gì, xin hỏi nơi Giám mục Hậu, và xin nói cho biết rõ việc gì, đi đâu, đi lâu hay đi chóng hoặc tạm về rồi đi nữa, hoặc đi xa, hoặc ở Kinh để tôi dự bị mang theo những đồ dùng cần thiết phòng bệnh và ít nhiều tiền chi dụng khỏi phiền luỵ đến người khác.

                             Rất mong.

                           Nay kính bẩm.

   (Trích Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ,                                              

                   con người và di thảo, Nxb TP. HCM, 1988, tr.170-171)

LẠI TÂM SỰ VỚI TRẦN TIỄN THÀNH (4)

(Ngày 3 tháng 5 năm Tự Đức 19, tức 15 tháng 6 năm 1866)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin kính bẩm.

Trước đây khi ở Kinh đô tôi đã thấy được nỗi lo âu về việc nước của các vị đại thần, lòng nhiệt huyết của các vị phải nghĩ đến nhiều việc, một lúc mà chồng chất trước mắt rất nhiều. Tôi đã thấy rõ đại thế trong thiên hạ có cái cơ có thể thịnh có thể suy, thấy rõ tình hình nước ta gặp lúc cả nghi ngờ, khó khăn lớn, thấy rõ cái ẩn ý chứa chất trong lòng dân các tỉnh trong nước, thấy rõ các quan địa phương làm việc công việc tư như thế nào; thấy rõ bọn Thắng, Quảng gốc rễ chưa dứt, còn nhiều thế lực ngầm giúp, còn nhiều cớ gây sự; biết rõ bình dân và giáo dân còn nhiều mâu thuẫn tất sẽ có một bên bị tổn thương, mà khó bề xử trí; biết rõ giáo dân có nhiều ngách ngõ, có nhiều tài trí, đủ sức làm việc chung, cũng đủ sức tự vệ; biết rõ bình dân trước kia ỷ thế chất chứa thù hằn, làm những điều phi pháp hại người, để đến nổi làm cho lòng người không yên; biết rõ người Tây còn như hổ rình mồi, sức ta chưa đủ, nếu không khéo điều đình sẽ ngã theo bánh xe trước; biết rõ nước ta có nhiều khiếm khuyết, những phương pháp cũ đã hoàn toàn vô dụng mà còn câu nệ ngăn trở công việc, còn nhiều chỗ nghi nan chưa tiêu tan, ý kiến chưa đồng nhất, chứng bệnh tích tụ lại chưa tiêu trừ, những yếu nhược tích tụ lại chưa phấn chấn, đường hiền tài còn bế tắc, trí học chưa mở mang, những tệ hại đó còn chất đầy, những tại hoạ còn dồn đến chưa chỉnh đốn hết được; biết rõ những phương pháp mới nên làm, tập tục cũ nên đổi, ôm của báu mà chịu nghèo đói sợ người khác cười chê, chỉ cho người món lợi sợ họ tranh phân, của cải hao hụt khó bề khởi sự, thành trì tổn hoại khó bề chống đỡ, nguồn lợi đầy đất mà khó khai thác, tung hoành chưa được, chưa ai giúp đỡ, không làm thì không xong việc, mà làm thì lại không có người. Những tình thế đất nước như vậy ở các nước khác người ta đã lo liệu hàng trăm năm rồi, mà nước ta mới thấy một ngày. Các nước làm thực sự mà ta thì chỉ nói suông. Cho nên Triều đình sớm chiều nhọc mệt, xoay xở không kịp, chưa biết tính sao, nghĩ tình cảnh cũng khó lắm vậy.

Những điều ấy trước đây khi ở Kinh, tôi đã mắt thấy tai nghe. Thế nhưng ở nước ta vẫn có nhiều người chưa hiểu thấu tình cảnh ấy của Triều đình và cũng chưa biết làm cách nào. Tôi biết rõ đại nhân cũng cùng nỗi khổ ấy, mà tri âm thì chẳng có mấy ai. Tôi là người đã trải biết nhiều người nhưng thật khó mà có được một người để bày tỏ, lòng những chứa chất khó chịu cho nên dám đem những điều này nói với đại nhân. Vì đại nhân là người tài lực như vậy, cũng đủ chia sẻ mối lo với Triều đình mà giúp cho việc lựa chọn người, biết đâu sẽ chẳng như trường hợp theo Khổng Tử thì có Trọng Do, môn hạ Mạnh Thường Quân chỉ có Phùng Hoan là người sau cùng giữ được khí tiết. Kính mong đại nhân xét kỹ, không nên vì hiện tại chưa rõ sự thế, không nên vì mới một ngày chưa để lộ tài năng (5) mà nghi ngờ kẻ sĩ trong thiên hạ.

(Trích Trương Bá Cần, Sđd. tr.184-185)

 

 

 

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123