Chú thích phần thứ nhất

 

(*) Nguyên văn LES GRANDES FAMILLES DE L’ANNAM S.E. TRAN TIEN THANH trong BAVH số tháng 4-6/1994.

(1) Xem: Phố Lở, đất lập nghiệp đầu tiên của Hoa kiều ở Thừa Thiên của Đào Duy Anh, B.A.V.H. 1943, tr.249-265.

(2) Xem tiểu sử Trần Tiễn Thành , K-11,11b và 12 o.

(3) Tứ thư loại biên, Vận hải

(4) Năm Tự Đức thứ 19 (1866), rể của Tùng Thiện Vương tên Đoàn Trưng cùng anh em là Đoàn Hữu Ái và Đoàn Tư  Trực, tổ chức cho đám thợ đang bất mãn cực độ vì công việc lao khổ xây cất Khiêm lăng (lăng Tự Đức) nổi dậy nhằm mục đích đưa Đinh Đạo, con trai của Hồng Bảo lên ngôi. Cuộc nổi loạn nổ ra trong đêm 8 tháng 8 và thất bại thảm hại.

(5) Sớ tấu của bộ Binh, tháng 8 năm Tự Đức thứ  9 (1856).

(6) Hồi ức lịch sử ở hạ lưu Bao Vinh, đồn và pháo đài của R.Morineau, B.A.V.H. 1914. No 3.

Thật là bổ ích và lý thú khi ta tham khảo các tác giả Pháp về tình trạng hệ thống phòng thủ Thuận An. Trước hết, ta hãy nghe một người đương thời, Pocard Destelan: “Chính Tôn Thất Thuyết đã cho thực hiện mọi công tác phòng thủ, khi hạm đội của Đô đốc Courbet đến. Phải thừa nhận ông ta tỏ ra có ý chí và nghị lực mạnh mẽ, bởi vì, bất chấp mọi khó khăn không tưởng tượng nổi, bằng những phương tiện thô sơ nhất, ông ta đã đưa được vào vị trí chiến đấu những khẩu pháo lớn trang bị cho các đồn và đã thực hiện các đập chắn ở cửa sông. Công trình này đã kéo dài hơn 2 năm và không đếm nổi số lượng những con người khốn khổ đã bị cuốn trôi và chết đuối khi lặn hụp giữa lòng sông. Người ta cho rằng họ đã khóa sông bằng xích sắt.” (Picard Destelan: Annam et Tonkin, notes d’un marin (Trung Kỳ và Bắc Kỳ, ký sự của một thuỷ thủ), tr192-193).

Picard Destelan không biết và ta cũng không thể trách ông ta, rằng Tôn Thất Thuyết chỉ tăng cường - ông không có thời gian để làm tất cả mọi việc - hệ thống phòng thủ mà Trần Tiễn Thành đã thực hiện đại bộ phận.

Bây giờ ta hãy nghe linh mục Morineau là người cho đến 1914, còn chứng kiến di tích cuối cùng của các công trình ấy, nay đã gần như mất sạch.

Vả lại, phần lớn các đồn và đạp chắn ấy đã bị phá hủy chiếu theo Hiệp ước Harmand.

  “Sau khi nghiên cứu tất cả các đồn lớn nhỏ, các chiến lũy và đồn lẻ ấy, người ta nhận thấy là ngoại trừ đồn ở phía Bắc Thuận An được xây dựng hoàn tất và trang bị vũ khí trên tất cả các mặt, các công trình phòng thủ khác của Thuận An và sông Hương chỉ được xây xong và được trang bị vũ khí ở các bộ phận khống chế mặt sông. Điều này thật hiển nhiên khi ta thấy các chiến lũy không nhìn trực tiếp ra lạch Thuận An hoặc không chạy dọc theo đó đều thấp và hẹp hơn, cũng có thể nhận xét như vậy với các chiến lũy không khống chế trực tiếp phá Thuận An, hình thành một bến cảng phía sau bán đảo (?) Thuận An, hoặc không nhìn thẳng ra sông Hương.

Dù vậy ta không thể không khâm phục trí tuệ của các quan, trong đó nên đặc biệt nêu gương Tôn Thất Thuyết, là người đã thiết kế hệ thống phòng thủ trong đó tận dụng mọi chỗ uốn khúc của dòng sông cho đến cửa biển, và nghị lực của nhà cầm quyền đã cho thực hiện được những công tác hết sức lớn và hết sức khó khăn như thế, đó là chưa nói đến những khó khăn vật chất và tài chính”.

(Hồi ức lịch sử ở hạ lưu Bao Vinh, đồn và pháo đài của R.Morineau, B.A.V.H. 1914. No 3, B.A.V.H 1914, No 3).

(8) Phó tướng Lôi Bỉnh Cương, do triều đình Trưng Quốc phái sang .

(9) Đề đốc Quảng Tây Phùng Tử Tài.

(10) Thống lĩnh Lưu Ngọc Thành và Trần Triều Cương.

(11) Hoàng Tá Viêm (có sách viết Hoàng Kế Viêm), người Phong Lộc, Quảng Bình, là chồng của Công chúa Hương La (1817-1844) con gái của vua Minh Mệnh và bà Quí nhân Lương Thị Nguyện. NĐX chú thích.

(12) Địa danh Chou-may trong các bản đồ. Qua phá Cầu Hai, cách Huế 40 km về phía nam

(13) Chú thích của người dịch: Nguyên tác dùng: “en quinconces”, tự điển Đào Duy Anh dịch “hình ngũ điểm”, tức xếp từng 5 đơn vị theo hình vuông với 1 đơn vị ở giữa.

(14) Paulin Vial: “LES PREMIÈRES ANNÉES DE LA COCHICHINE”. Challamel Ainé, Libraire-Editeur, Paris, 1874.

ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, đệ tứ kỷ (q.28 tờ 5) cung cấp những thông tin rất khác với P.Vial. Theo nguồn này, sứ bộ Pháp-Tây  Ban Nha gồm 2 chánh sứ, 2 phó sứ, 2 bồi sứ, 2 tham biện. 4 vũ chức, 2 lục sự, 1 tham tá, 1 hộ lễ, 1 thông ngôn, 1 y sinh, tức tổng cộng 16 người, đi 5 chiếc tàu, mỗi chiếc có hơn 150 binh lính. Các tàu này đến Đà Nẵng vào tháng 2 năm Tự Đức thứ 16, trong đó có 1 chiếc đi thẳng đến Thuận An với khoảng 100 người, số người này cập bến Thuận An để đến Kinh đô bằng đường bộ.

(15) Ở phía sau trường Đại học Sư phạm Huế ngày nay (NĐX),

(16) Paulin Vial, Sđd.

(17) Vial, Sđd.

(18) Vial, Sđd.

(19) Chú thích của người dịch:

Đoạn trên chúng tôi dịch lại từ bản tiếng Pháp. Xin tham khảo bản tiếng Việt dịch từ nguyên bản Hán văn sau đây: “Ý người Phú như thế, là muốn dân ta dứt tình với ta, cho nên dân không nhịn được sự tức giận nhỏ ấy. Ta đã nhiều lần phái người mật đi hiểu bảo, nhưng có một, hai kẻ hiếu sự không chịu nghe, đã để cho họ sinh ngờ, lại làm nhiễu hại dân ta. Vả lại, họ đang cố chấp lời ước, để gây hiềm khích, ba tỉnh bị trơ trọi thì tất đến nguy. Nay dứt tình đi, thì sợ lòng dân ngày thêm lìa tan, nếu không dứt tình tuyệt đi, thì việc chưa nên, mà lúc cấp khó cứu, nên bất đắc dĩ phải dứt tình đi, để cho dân ba tỉnh ấy không còn trông nhờ vào đâu để bạo động nữa. Đó là đoạn tuyệt để mà bảo vệ, để làm kế sau này nảy nở sẽ mưu toan dần dần”. Bèn xuống dụ cho tỉnh thần sức khắp các hạt biết, có ai mượn tiếng là mộ nghĩa, thì không được vào trong địa giới, mà các quan phủ, huyện một khi trông thấy tức thời bắt ngay đem giải; nhà dân có ai chứa chấp cũng bắt tội như kẻ phạm.” ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, Đệ tứ kỷ, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb KHXH, Hà Nội, 1974, t.XXX, tr.163.

(20) Chú thích của người dịch:Xin tham khảo thêm bản dịch ĐẠI NAM THỰC LỤC : “không kể trăm năm sau này ra sao? Ngay trong ngoài mười năm cũng chưa có thể chắc, ý kiến của bậc lão thành, đã biết kinh quyền , tội gì cứ thường thường chịu chìm đắm, phải nên tự cường như thế nào chứ ? Sđd, tr 277. Xem đoạn tiếp ở trang 278.

(21) Chú thích của người dịch: Xin tham khảo đoạn nói về sự kiện này trong ĐẠI NAM THỰC LỤC, Sđd, t.XXXI, tr.64-67. Sau đây là ý kiến của Cơ Mật viện: “Tướng Pháp hoặc huỷ điều ước, bức lấy ba tỉnh, thì đối với ta đã là vô tình, tưởng cũng không thể tránh bằng giấy tờ được, chỉ khiến ba tỉnh ấy một lòng chống giữ, hoặc sinh việc ngại khác, xin tư cho quan kinh lược không đánh nhau với quân Pháp, tự phải rút lui, việc đã là rõ ràng, thì lấy ngay việc ấy cũng đủ làm cớ nói, nếu người Pháp bức lấy tỉnh Vĩnh Long, thì hãy còn hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, có thể dời đóng, hoặc bị người Pháp bức lấy tất cả, thì tất nhiên phải chuyển về Bình Thuận để đợi lệnh triều đình, đến khi ấy sĩ dân sáu tỉnh tức giận lũ lượt nổi lên, bấy giờ ta sẽ tùy cơ định liệu, lũ tôi nghĩ đi nghĩ lại, sự thế đến cùng, tưởng phải nên như thế”. (Sđd, Tập XXXI, tr.66)

(22) Yếu tố tâm linh của linh hồn (TG).

(23) Yếu tố thể chất của linh hồn (TG).

(24) Xin xem ĐẠI NAM THỰC LỤC, Sđd, t.XXXI , tr.114 (ND).

(25) Chính tả của Đào Duy Anh. Tên này thường được viết Legrand de la Liraye, tức cố Trường (ND)

(26) P,Vial. Sđd.

(27)  P,Vial. Sđd.

(27)  P,Vial. Sđd.

(28) Trong báo cáo của Tôn Thọ Tường, chúng tôi đã sửa một số chữ cho đúng với văn bản được công bố trong quyển sách của Paulin Vial (TG).

(29) Báo chữ Hán do nhà cầm quyền thuộc địa Pháp ấn hành.

(30) Câu tiếng Việt này được tác giả Đào Duy Anh trích dẫn và nhấn mạnh (ND).

(31) Báo cáo của Tôn Thọ Tường, bản dịch của M.Potteau, thông ngôn của Giám đốc Nội vụ, do P.Vial trích dẫn.

(32) Báo cáo của Tôn Thọ Tường, bản dịch của M.Potteau, do P.Vial dẫn.

(33) Tức Phạm Phú Thứ, một người cũng như Trần Tiễn Thành, thường được giao trọng trách trong quan hệ đấu tranh ngoại giao với Pháp (ND).

(34) Chú thích của người dịch: Chỗ này Đào Duy Anh trình bày sự kiện theo ĐẠI NAM THỰC LỤC. Xin xem Sđd, t.XXXI, tr.202-204. Theo di thảo của Nguyễn Trường Tộ được công bố sau này (Xem Thương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ, CON NGƯỜI VÀ DI THẢO, Nxb Tp.HCM, 1988, tr.287-309, sự việc được tường thuật có phần hơi khác. Trong di thảo số 36, Nguyễn Trường Tộ dứt khoát xin bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp và nêu nhiều lý do, trong đó có thái độ phản kháng của De Lagrandière: “- họ không thể nào chịu được (-) Cho nên nguyên soái đã nói: “Nếu sứ bộ ta đi Tây thì y không chịu đi cùng một thuyền”.  Nói như thế thì ta còn ra thể thống gì nữa?-“(Sdd, tr304-305). Cũng qua di thảo, có thể thấy rõ Nguyễn Trường Tộ mới là người đã nêu nhiều lý lẽ sắc bén và có hệ thống nhất để phản bác việc cử sứ bộ sang Pháp. Tất nhiên, ông có thể được sự đồng tình của một số quan lại trong triều, trong đó có Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường. Những lý lẽ Nguyễn Văn Tường đưa ra (theo ĐẠI NAM THỰC LỤC tóm lược) nhắc lại một phần ý kiến của Nguyễn Trường Tộ. Và họ đã thuyết phục được vua Tự Đức.

(35) Đô đốc De Cornulier (là người đã thay Đô đốc Olier (sic, đúng ra là Ohier - ND), ông này lại thay De Lagrandière(36) P.Vial, Sđd.

(36) P.Vial, Sđd.

(37) Paulus = Bouinais: L’lndochine contemporaine

(38) Theo Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ...Sdd, tr.22, “với tài liệu hiện có, chúng ta không biết chắc được là trước năm 1861, Nguyễn Trường Tộ có đi sang các nước Tây Âu để tìm tòi học hỏi hay chỉ quanh quẩn ở các nước Đông Nam Á như Hồng Kông, Mã Lai...là những nơi có cơ sở hậu cần lớn của Hội truyền giáo nước ngoài của Paris...(ND).

(39) Trong toàn bộ các di thảo của Nguyễn Trường Tộ (do Trương Bá Cần tập hợp, Sđd), không thấy có khái niệm màu da, chủng tộc. Ở đây chúng tôi dịch từ chữ “les blancs” trong nguyên tác. Có thể Đào Duy Anh chỉ dùng thuật ngữ này như một thuật ngữ thường dùng để chỉ người phương Tây nói chung (ND)

(40) Xin tham khảo bản dịch tiếng Việt (từ Hán văn) trong Trương Bá Cần Sđd, tr137: “Vì rằng, ta đã học hết cái thuật của họ, như Bàng Mông ngày xưa, rồi sau lấy cái trí tuệ vốn có sẵn của chúng ta thêm vào cái trí tuệ ta mua được của họ. Đất là đất của ta, mượn cái trí xảo của họ càng ngày càng già nua, còn cái trí xảo của ta thì mới mẻ trẻ trung, đem hai trí mà địch lại một trí, lẽ nào không thắng được ? (ND)

(41) Văn bản viết vào tháng 5, năm Tự Đức thứ 27. (TG). Tức DỤ TÀI TẾ CẤP BẨM TỪ. Xin xem Trương Bá Cần, Sđd, tr135-151. (ND)

(42) Theo Trương Bá Cần, di thảo số 4 (KẾ HOẠCH DUY TRÌ HOÀ ƯỚC MỚI), viết trong khoảng 11-17 tháng 2 năm Tự Đức thứ 17 (18-24 tháng 3 năm 1864) trong đó Nguyễn Trường Tộ nói về việc đi Anh này, được gởi cho Phan Thanh Giản chứ không phải cho Trần Tiễn Thành. Xem Sđd, tr.129-134. (ND)

(43) Theo tờ tâu của Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trường Tộ cùng các linh mục Croc và Nguyễn Hoàng rời Huế ngày 25, chứ không phải 28-2. Xin xem toàn văn hai tờ tấu của Trần Tiễn Thành cùng châu phê của vua Tự Đức trong Trương Bá Cần, Sđd, tr.449-452 (ND).

(44) Theo tờ tấu của Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trường Tộ cùng với các linh mục Croc và Nguyễn Hoàng  rời Huế ngày 25, chứ không phải 28 tháng 2. Xin xem toàn văn hai tờ tấu của Trần Tiễn Thành cùng châu phê của vua Tự Đức trong Trương Bá Cần, Sdd, tr449-452 (ND).

(45) Xem chú thích 44.

(46) Xem tường thuật về bản tâu này, cuộc tranh luận với Nguyễn Tri Phương và kết luận của vua Tự Đức trong ĐẠI NAM THỰC LỤC, Sđd, tXXXI, tr37-40 (ND).

(47) Dinh Hoàn Chí Lược, Tthiên Hạ Quân Quốc Lợi Bệnh Thư, Bác Vật Tân Biên, Hàng Hải Kim Châm .

(48) Xin xem bản dịch di chúc ở phần phụ lục.

(49) Nhà nơi Thuỵ Quốc công ở khi còn là Hoàng tử.

(50) Vị sĩ phu danh tiếng, thủ lĩnh phong trào Cần vương ở Nghệ Tĩnh, mất năm 1896.

(51)  Nay là đường Chi Lăng.

(52) Xem L.Sogny: LES FAMILLES ILLUSTRES: S.A. TUY LÝ, B.A.V.H. 1929. No 4. Tr192 và tiếp theo.

(53) Theo một số người đương thời, sau khi đọc tờ sớ, vua Hiệp Hoà châu phê: “Chuyển cho Trần Tiễn Thành” và sai thái giám Phạm Tác - xin đừng lẫn lộn với thái giám Trần Đạt là người rất trung thực và gương mẫu về lòng trung thành - giao lại cho Hường Phì. Nhưng viên thái giám nhầm lẫn trao cho Thượng thư Phạm Như Xương. Phạm Như Xương mới chuyển lại ngay cho nhà vua văn thư không phải dành cho mình. Hiệp Hoà nổi giận phạt Phạm Tác 30 roi, chính sự trừng phạt ấy dẫn Phạm Tác đến chỗ phản bội.

Theo nhân chứng khác, sau khi xem sớ và châu phê: “ Chuyển cho Trần Tiễn Thành”, Hiệp Hoà giao cho thái giám Trần Đạt đích thân mang đến cho Đệ nhất phụ chính. Theo thông lệ, tờ sớ đặt trong chiếc tráp có đóng ấn riêng. Trời chập choạng tối. Viên thái giám đi gần cửa Nhật Tinh thì gặp Nguyễn Văn Tường đang vào cung. Thấy viên thái giám bối rối, Tường sinh nghi, bèn đoạt lấy chiếc tráp, mở ra cướp lấy tư liệu, thực chất là bản án tử hình của chính ông ta. Nguyễn Văn Tường liền đi thẳng đến bộ Binh, Tôn Thất Thuyết đang ở đó. Sau khi cho Thuyết biết sự việc, ông đề nghị triệu tập ngay đình thần để xử vua Hiệp Hoà, can tội mưu sát các quan Phụ chính.

(54) Theo linh mục Delvaux, B.A.V.H, 1941, No 3, Hiệp Hoà đã thông qua Tuy Lý vương để ngỏ ý muốn tiếp kiến ông De Champeaux. Cũng rất có thể là như vậy.

(55) Picard Destelan (Sĩ quan chỉ huy chiếm hạm La Vipère, thuộc hạm đội của đô đốc Courbet năm 1883 trong quyển ANNAM ET TONKIN cho rằng ông De Champeaux được tiếp kiến vào sáng 29-11 và vua Hiệp Hoà bị giết ngay tối hôm đó. Nhưng theo chính sử của Việt Nam, ông De Champeaux không thể yết kiến vua ngày 29 (30 âm lịch) vì các cửa Hoàng thành đã đóng lại và chìa khoá bị thu giữ từ tối hôm trước. Hơn nữa, sáng 29-11, vua cảm thấy nguy cơ tất cả các quan hầu cận trong cung đều vắng mặt, không biết làm sao, vua đã thảo sẵn chiếu thư thoái vị. Cho nên Khâm sứ Pháp không thể vào gặp vua vào sáng hôm đó. Dù sao, cuộc tiếp kiến ông De Champeaux không thể nào xảy ra buổi sáng ngày vua bị sát hại.

Giả sử chính sử của triều đình lộn một ngày. Như vậy, cái chết của Hiệp Hoà đã xảy ra trong đêm mồng 1 rạng mồng 2 (âm lịch) và Trần Tiễn thành vào rạng sáng ngày 2. Thế nhưng theo gia phả nhà Trần Tiễn Thành, ông đã mất vào canh ba (nữa đêm về sáng) ngày mồng một. Vậy ta phải kết luận là Picard Destelan đã lầm.

Linh mục A.Delvaux viết trong bài LA LÉGATION DE HUẾ đăng trong B.A.V.H. năm 1916 (tr. 25-75) là Hiệp Hoà viết thư cho ông De Champeaux  (ngày 29 tháng 10, tức 28-11) thì ngay tối hôm đó, nhà vua đã bị kết án, giam lại trong cung và chết trong đêm 29-11. Ý kiến này đúng nếu chữa lại là thay vì viết thư cho ông De Champeaux  ngày 28-11, chính vua Hiệp Hoà  đã tiếp ông ta vào ngày hôm đó. Nhưng lúc bấy giờ linh mục A.Delvaux chưa chịu ảnh hưởng sai lầm của Picard Destelan. Ngược lại, trong số 3 của B.A.V.H. năm 1941, ông viết: “Ngay sau khi người ta phát hiện lá thư gởi De Champeaux  (thư viết ngay sau cuộc tiếp kiến), cái chết của vua Hiệp Hoà là không thể tránh khỏi. Sau bữa cơm chiều ngày hôm đó (30 tháng 10 âm lịch, tức 29-11-1883), sau khi các cửa Hoàng thành đóng kín, Hiệp Hoà bị tố cáo và buộc tội. Không lâu sau đó, vua bị xử tử...Vua thở hơi cuối cùng vào lúc mặt trời lặn (29-11-1883).

Tôi (ĐDA) tin là vua Hiệp Hoà không có viết thư cho De Champeaux . Câu chuyện bức thư bị Nguyễn Văn Tường chận lấy có lẽ là sự lẫn lộn với sự kiện lá sớ của Hường Sâm, Hường Phì bị chận lấy.

Cũng xin nói thêm để minh oan cho thái giám Trần Đạt là nếu có bức thư ấy, thái giám cũng không bao giờ báo cho Nguyễn Văn Tường biết vì viên thái giám này nổi tiếng là người trung thực và bị hai vị Phụ chính coi là kẻ thù. Một thời gian sau khi Kiến Phúc lên ngôi, các vị Phụ chính xin vua giết viên thái giám, nhưng vì vua thiếu niên đã cưỡng lại bằng tất cả nghị lực mà tuổi trẻ của mình có thể có được. Vua cũng chống lại việc đưa ông đi đày ở Lao Bảo và rốt cuộc, nhờ sự can thiệp của vua, ông chỉ bị đày ở thành Quảng Trị.

(56) Sau đó, Đoàn Văn Hội bị hai vị Phụ chính buộc phải từ chức và mãi đến triều Thành Thái, mới được cử lại làm Thượng thư.

(57) Lăng Tự Đức.

(58) Nơi ở của quan chỉ huy quân sự  của Thành Huế. Thuỵ Quốc công, quen gọi là Dục Đức, đã bị giam ở đó cho đến chết.

(59) Sau là tuần vũ Quảng Trị, rồi bị cách chức. Chết cách đây khoảng 12 năm, trong cảnh khốn cùng. (ĐDA, 1944).

(60) Bản di chiếu này chúng tôi dịch lại từ bản Pháp văn của Đào Duy Anh, có tham khảo bản tiếng Việt của ĐẠI NAM THỰC LỤC, Sđd, tXXXV, tr199-200.

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123