Chương 6: Cái chết của Trần Tiễn Thành

 

Vốn thể chất yếu, Tự Đức biết trước mình không còn sống lâu. Sau khi Henri Rivière chiếm Hà Nội, bệnh tình nhà vua trầm trọng hơn và vua nghĩ đã đến lúc lập dị chiếu(48). Ngày 14 tháng 6 năm Tự Đức thứ 36 (17-7-1883), vua truyền đạt đến các đại thần trong Cơ Mật viện bản di chiếu chỉ định con nuôi lớn tuổi nhất của vua Tự Đức là Thụỵ quốc công Ưng Chân nối ngôi, Trần Tiễn Thành là Phụ chánh đại thần, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết là đồng Phụ chánh đại thần, Trần Tiễn Thành dâng sớ xin vua bỏ bớt mấy đoạn liên quan đến tính nết xấu của tự quân và việc tự quân không đảm đương được việc lớn vì những ý kiến ấy chỉ làm tổn hại đến danh dự và uy tín của người phải nắm lấy vận mệnh quốc gia vào thời kỳ khó khăn đến thế. Nhưng Tự Đức không đồng ý bỏ mấy câu mà, theo nhà vua, nhằm mục đích “nhắc người kế vị phải tự răn mình, tu tỉnh”

Vua Tự Đức băng hà ngày 16 tháng ấy. Hoàng tử là Thụy Quốc công vào điện hoàng phúc chịu tang. Nhưng ngày 18, không có sự đồng ý của Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dâng lên Hoàng Thái hậu tờ hạch tội người được kế vị theo di chiếu và xin cử người khác thay. Bản hạch tội kể ba tội lớn của hoàng tử là:

1)- Muốn sửa di chiếu;

2)- Có đại tang mà mặc quần áo màu;

3)- Hư hỏng, ăn chơi.

Hoàng Thái hậu Từ Dũ chấp thuận, truyền rằng tiên đế cũng biết các tật xấu của người mà ngài chỉ định kế vị và hết sức lo lắng, nhưng sở dĩ phải chọn hoàng tử vì trong tình hình thù trong giặc ngoài đe doạ, cần có vua đã trưởng thành để cầm quyền chính. Nhưng bởi vì ông hoàng ấy không bỏ tính xấu, nên cần được thay thế.

Lãng Quốc công Hường Dật, em của Tự Đức, được đưa lên ngôi, trong lúc Thụy Quốc công bị giam ở Dục Đức đường(49). Ông sẽ bị bỏ cho chết đói, chết khát ở đó, sau cơn hấp hối cực kỳ đau đớn.

Trong buổi thiết triều, khi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết trình bày cho tôn thất và quan lại biết lý do phế Thuỵ Quốc công, Trần Tiễn Thành định can thiệp, nhưng Thuyết giận dữ thét: “Ông cũng có tội nặng, còn định nói gì ?”. Thế là cả triều đình cúi đầu khuất phục, chỉ trừ quan khoa đạo Phan Đình Phùng(50) phản đối mạnh mẽ việc làm trái di chiếu tiên vương. Sự táo bạo ấy khiến ông bị bắt giam lập tức. Nhờ sự can thiệp của Nguyễn Trọng Hợp - Nguyễn Trọng Hợp làm cho Thuyết hiểu là một người dũng cảm đến thế sẽ có lúc giúp ích được việc lớn - vị thủ lĩnh tương lai của phong trào Cần vương mới chỉ bị cách tuột hết chức tước và đuổi về quê.

Sau lễ tấn phong Lãng Quốc công, lấy niên hiệu là Hiệp Hoà, Trần Tiễn Thành được thăng lên Thái bảo Cần chánh điện Đại học sĩ và được thưởng chiếc khánh bằng ngọc có dây đeo. Lúc bấy giờ, quân đội Pháp tiếp tục chiếm các thành lớn của Bắc Kỳ và ở triều đình, để cứu vãn tình hình, người ta tiếp tục chờ đợi Trung Quốc rốt cuộc sẽ gởi viện quân. Nhưng Trần Tiễn Thành vẫn bị bệnh và gần đây thêm chứng thấp khớp phải xin được miễn vào chầu. Trong lúc ông vắng mặt, các quan Khoa đạo Hoàng Côn và Đặng Trần Hanh dâng bản hặc tội ông đã cố ý bỏ qua mấy đoạn trong tờ di chiếu mà ông được giao đọc ở nhà Hữu vu (chái bên phải của điện Cần Chánh).

Vua Hiệp Hoà đưa sự việc ra đình nghị. Trần Tiễn Thành phải trả lời về lời buộc tội ấy và dâng tờ sớ như sau:

“Ngày 14 tháng trước, tiên đế triệu chúng thần vào điện, thần Trần Tiễn Thành cùng chúng thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, để trao cho chúng thần tờ di chiếu đựng trong hộp. Chúng thần sang phòng Thái giám để kính đọc. Di chiếu có đoạn như sau: “Tính hiếu dâm, ngoài ra tâm tính rất xấu, không chắc đương nổi việc lớn”. Thần Nguyễn Văn Tường nói: “Di chiếu là để lập người nối ngôi trời. Sợ đoạn này không hợp lắm, nên xin bỏ đi”. Thần Tôn Thất Thuyết và tiện thần Trần Tiễn Thành cũng cùng một ý và chúng thần đã cùng dâng sớ tâu xin như thế. Nhưng tiên đế bác đi. Ngày 18, Thuỵ Quốc công triệu chúng thần đến điện Quang Minh và bảo: “Nhà vua đứng đầu trăm họ cũng phải là người đứng đầu về đạo đức. Trong di chiếu của tiên đế, vì lo cho tương lai nên có lời răn bảo nghiêm khắc, chẳng hạn như đoạn nói về sự bê tha”. Hoàng tử nói không dám trái ý tiên đế, nhưng bảo thêm: “Tuy nhiên, đúng vào lúc trong nước nối loạn, quan hệ ngoại giao thì căng thẳng, nếu tin đồn về di chiếu loan ra, chẳng những bọn gây rối lấy đó làm cớ, mà các lân bang cũng vì vậy mà coi khinh. Làm thế nào cứu gỡ tình hình này? Hoàng tử hỏi có thể bỏ đoạn ấy không, nhưng tự mình không dám. Chúng thần đáp là hội đồng Phụ chính đã xin bỏ đoạn ấy nhưng tiên đế không cho và nay thì không còn có thể thay đổi gì được nữa. Hoàng tử yêu cầu mọi người suy nghĩ thêm, sao cho khỏi tổn hại đến việc quốc gia.

Ngày 19 (ngày tuyên đọc di chiếu), thần Nguyễn Văn Tường cáo bệnh xin nghĩ. Tiện thần cũng nhiều lần xin cáo vì tuổi già. Thần Tôn Thất Thuyết cho rằng thần là bậc trưởng lão, không chịu vượt qua để đọc di chiếu. Thế mà lễ tuyên chiếu đã sẵn sàng. Không thể từ nan, thần phải tuyên đọc di chiếu. Song thần quá đỗi đau thương nên mắt mờ, tai điếc, tâm trí bất định do gần đây có bệnh. Thần cũng không nhớ rõ mình có sai sót gì không trong khi đọc. Nay quan Khoa đạo hặc tội, thần xin chịu mọi hậu quả”.

Triều đình đề nghị ghép vào tội “truyền tả chế thư sai lầm”, tức phải phạt trượng và cách chức. Nhưng vua Hiệp Hòa xét ông là công thần đã trải thờ bốn triều nên chỉ giáng hai cấp cảnh cáo, đồng thời cho khoan miễn, lưu lại tại chức. Ông bèn xin miễn việc quan, về quê tĩnh dưỡng.

Đúng vào lúc đó, quân đội của Đô đốc Courbet đổ bộ ở Thuận An (tháng 8-1883), Trần Tiễn Thành được vời về triều để thảo luận về điều kiện nghị hoà và được giao nhiệm vụ đi yêu cầu Giám mục Caspar xin nhà cầm quyền Pháp đình chiến.

Tháng 8, sau khi đưa linh cữu tiên đế vào Khiêm lăng, ông xin nghỉ để trị bệnh kiết lỵ. Nhận thấy trời có sắc lạ (hình như trời có sắc lục vào buổi sáng và nhạt nắng buổi chiều), cho rằng đó là điềm trời cảnh cáo, ông cùng các bạn đồng liêu dâng sớ xin vua xem lại chính sự và lệnh cho các đại thần kiểm điểm những sai sót. Đồng thời ba vị Phụ chánh xin thôi nhiệm vụ mà họ tự thấy không đủ sức đảm đương.

Nhưng đề nghị chỉ có tính hình thức ấy tất nhiên không được chuẩn y. Sau nhiều lần được tạm nghỉ, rốt cuộc Trần Tiễn Thành xin thôi nhiệm vụ ở Cơ Mật viện và ở bộ Binh, để chỉ làm tổng tài Quốc sử quán kiêm quản Khâm thiên giám. Ông cũng xin rời bộ Binh để về ở tại Quốc sử quán. Lần này vua phải chiều theo lời khẩn khoản của ông và cho ông được toại nguyện. Cuối cùng, vào tháng 9, ông còn được phép rời công đường về ở tư dinh, là một căn nhà có một tầng gác xây tại Chợ Dinh(51), có lẽ trên mảnh đất nơi vài chục năm trước mẹ ông đã ở để buôn bán.

Lúc bấy giờ hai vị Phụ chánh Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đang rất có thế lực. Nhà vua mà họ đã lập lên ngôi chẳng khác nào món đồ  chơi trong tay, họ mặc tình thao túng. Họ quyết lòng bức hại vị Đệ nhất Phụ chính đại thần già yếu, bệnh tật, vì không thể tha thứ cho ông cái tội khi tuyên đọc di chiếu vua Tự Đức, đã dám bỏ bớt cái đoạn làm nhục vị hoàng tử mà họ muốn truất phế. Nguyễn Văn Tường là người hết sức thông minh, quỷ quyệt, có vây cánh trong triều và chỉ kiêng dè Tôn Thất Thuyết là người mà Tường muốn lợi dụng sức mạnh. Ngược lại, Tôn Thất Thuyết là người yêu nước đến điên cuồng (animé d’un patriotisme farouche) - phải thừa nhận sự thật đó cho ông ta - nhưng là người thiển cận và thô bạo, có trong tay toàn bộ quân đội mà ông đã tổ chức có phương pháp và có kỷ luật.

Sự quỷ quyệt của Tường liên quan với sức mạnh của Thuyết tạo cho hai con người ấy một quyền lực mà trong Kinh ngoài tỉnh không ai dám chống cự. Vị Đệ nhất Phụ chính đại thần đã bị loại khỏi sân khấu chính trị. Thọ Xuân Vương và Tuy Lý Vương mà trong di chiếu Tự Đức đã giao làm cố vấn cho vương quốc cũng bị buộc phải im hơi lặng tiếng. Tuy nhiên Hiệp Hoà không phải là đứa trẻ con và chịu ảnh hưởng những người thân cận của riêng mình, không cam tâm làm tên bù nhìn trong tay hai viên phụ chính và chờ cơ hội thuận lợi thoát khỏi sự bảo trợ phiền hà của họ. Một cách bất ngờ và bi thảm, cơ hội ấy lại chính là Hiệp ước Harmand, ký ngày 25-8-1883, sau khi Pháp chiếm Thuận An. Hiệp Hoà thông đồng với hai người tin cậy của mình là Hường Sâm(52), con trai Tuy Lý Vương và Hường Phì, con trai Tùng Thiện Vương, mà vua vừa cất nhắc lên chức Tham biện Nội các (Hường Sâm) và Tham tri bộ Lại (Hường Phì). Vua giao cho Tuy Lý Vương nhờ nhà cầm quyền Pháp giúp đỡ.

Ngay từ tháng tám, vài ngày sau vụ điềm trời đã tường thuật ở trên, Hiệp Hoà đã có ý định từng bước loại bỏ Tôn Thất Thuyết. Để dập tắt dư luận chống đối cho là mình chuyên quyền, Tôn Thất Thuyết giả vờ xin thôi nhiệm vụ ở bộ Binh, vua nhân có lời xin ấy chuyển Thuyết sang bộ Lễ, rồi sang bộ Lại thay cho Nguyễn Trọng Hợp phái làm Khâm sai ra Bắc Kỳ. Nhưng Tôn Thất Thuyết đâu cam chịu mất quyền lực có được do nắm quân đội. Ông ta không sang nhận nhiệm vụ mới (ở bộ Lại) và trong thực tế vẫn tiếp tục điều hành bộ Binh lúc ấy vẫn chưa bổ chính khanh. Chính từ lúc ấy Thuyết bắt đầu cảnh giác đề phòng nhà vua.

Mặt khác, Hường Sâm và Hường Phì, cậy vào sự ủng hộ của Hiệp Hoà, có lần công khai chỉ trích chính sách của hai vị Phụ chánh Tường và Thuyết ngay giữa buổi thiết triều. Họ còn dâng sớ xin giết Nguyễn Văn Tường và để thuyết phục nhà vua, họ ghi thêm Trần Tiễn Thành cũng có dự mưu. Sau đó Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết biết được âm mưu này do sự phản bội của thái giám Phạm Tác(53) và họ quyết định loại trừ nhà vua và Đệ nhất Phụ chánh đại thần.

Hai người càng lo lắng khi thấy Hiệp Hoà cố gắng gây mâu thuẫn giữa hai người bằng cách nói xấu người này với người kia. Để tự vệ, Tôn Thất Thuyết lập đội cận vệ riêng gọi là Phấn nghĩa đội gồm những tên đâm thuê chém mướn (sicaires) sẵn sàng làm bất cứ việc gì. Đội quân này mặc áo xanh, đội mũ rộng vành vàng bọc vải xanh, mang mã tấu.

Về phần mình, Tuy Lý Vương đến thăm ông De Champeaux lúc ấy đang ở sứ quán cũ  - viện lẽ là đi xin thuốc tây - Khi thấy triều đình nghiêm khắc phê phán việc ấy, Hiệp Hoà gọi vương vào điện để hỏi và sau đó nói lại với các đại thần là không có gì đáng ngại trong việc đi lại của vương vì lòng yêu nước và sự trung thành của vương không cho phép ai nghi ngờ gì nữa. Vài ngày sau, viên khâm sứ Pháp mời vương đến tư dinh và ngỏ ý muốn xin yết kiến nhà vua(54), vua Hiệp Hoà sai Tuy Lý Vương đến gặp ông De Champeaux để thoả thuận về nghi thức tiếp kiến và sáng ngày 28-11-1883 (29 tháng 10 âm lịch), De Champeaux đã gặp riêng vua Hiệp Hoà ở điện Văn Minh(55) Cuộc tiếp kiến ấy, đối với hai vị Phụ chính, báo hiệu họ sắp bị loại trừ. Họ đồng tình với nhau để thực hiện ngay dự án của mình. Ngay trong đêm 28 tháng 11 (29 tháng 10 âm lịch) sau khi các cửa Hoàng thành đóng lại vào canh hai (8 giờ), Tôn Thất Thuyết thu tất cả chìa khoá và biện minh việc ấy bằng cách báo cho vua biết là bên ngoài có những đám người bất mãn tụ tập. Mặt khác, Thuyết tập hợp đội cận vệ riêng của mình, do Hường Chuyên cầm đầu, ở một vị trí bên hữu ngạn sông Hương, đồng thời ra lệnh cho Ông Ích Khiêm và Trương Văn Để mang tất cả cấm binh đến chỗ sở ruộng Tịch điền (ruộng mà nhà vua phải cày trong một nghi lễ diễn ra vào mùa xuân - ĐDA).

Nguyễn Văn Tường họp các văn võ đại thần ở bộ Hộ, trình bày với họ là từ khi lên ngôi, Lãng Quốc công đã nhiều lần vi phạm phép nước và dung dưỡng bọn phản quốc (ám chỉ Hường Sâm và Hường Phì). Hai vị Phụ chính đề nghị triều đình và quân đội phế vua và đưa hoàng tử thứ ba (con nuôi thứ ba của Tự Đức) lên ngôi. Một mặt họ chuẩn bị lá sớ dâng lên Thái hoàng Thái hậu, mặt khác họ đưa tất cả các quan văn võ đến Tịch điền để các quan cùng ký tên vào lá sớ. Chỉ có Thượng thư Đoàn Văn Hội cáo ốm không đến(56). Bấy giờ đã sang canh tư (2 giờ sáng). Hậu quân Nguyễn Hanh được cử đi tìm hoàng tử thứ ba ở Khiêm cung(57), nơi hoàng tử được đưa về ở từ sau đám tang vua Tự Đức. Đó là hoàng tử Ưng Đăng, một thiếu niên 14 tuổi (sinh năm Kỷ Tỵ, 1869), người con được vua Tự Đức yêu quý nhất, nhất là có phẩm cách trang nghiêm, cao quý đáng ngạc nhiên ở một thiếu niên còn trẻ tuổi như thế. Người ta chọn hoàng tử chính vì tuổi trẻ ấy. Từ tờ mờ sáng, hoàng tử đang trốn dưới gầm gường đã bị lôi ra, đưa lên kiệu và cáng đến Tịch điền, người ta đưa hoàng tử vào nhà quan canh.

Khi hai vị Phụ chính cho hoàng tử biết sự tình, hoàng tử lấy lý do mình còn ít tuổi và thiếu kinh nghiệm để từ chối ngai vàng, nhưng bị mọi người chung quanh dụ dỗ và thúc ép, rốt cuộc hoàng tử phải nhận lời. Hai vị phụ chính báo cho các quan, trong đó có thêm các quan nhằm phiên trực trong cung đêm đó. Sáng ra, khá muộn, Hiệp Hoà mới được biết việc đã xảy ra. Nhìn quanh chỉ thấy vài viên thái giám, không biết làm sao chống lại, vua quyết định soạn sẵn tờ chiếu thoái vị để đón trước sự việc sắp xảy ra.

Vào giờ vị (khoảng 2,3 giờ chiều), hoàng tử Ưng Đăng được đưa đến văn phòng Cơ Mật viện ở trong cung, tờ sớ đã xong và có chữ ký của tất cả đại thần và quân đội được dâng lên Thái hoàng Thái hậu. Sau đó người ta mở cửa Tây nam của Hoàng thành (các cửa khác vẫn đóng kín) cho các hoàng thân vào nhà Tả vu (chái bên trái của điện Cần Chánh) và họ chỉ im lặng đứng nhìn. Nhưng Tuy Lý Vương và hai con trai là Hường Sâm và Hường Tu, sau khi biết sự việc kể trên, đã trốn ra Thuận An, đến chỗ ông Picard Destelan, thuyền trưởng tàu La Vipère. Các ông hoàng Hoằng Hoá và Hải Ninh cùng đến chỗ họ, cùng với Hường Phì vừa đi công vụ ở Bắc Kỳ về trước đó vài ngày. Nhưng sau đó nhà cầm quyền Pháp dẫn độ họ trả về triều đình, Hường Phì cùng Hường Sâm, Hường Tu đều bị xử tử. Còn ba ông hoàng kia cùng gia đình họ bị đưa đi đày, họ thoát chết nhờ sự can thiệp của Kiến Phúc và Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ.

Nhưng ta hãy quay về cung, nơi hoàng tử Ưng Đăng đang còn chờ lễ tấn phong trong phòng Cơ Mật viện. Vào lúc đó, Hiệp Hoà giao cho thái giám Trần Đạt mang đến hai vị Phụ chính tờ chiếu thoái vị trong đó nhà vua yêu cầu được quay về tư dinh. Người ta mang kiệu đến đưa nhà vua cùng những người tuỳ tùng, theo lời họ nói là đi về dinh cũ của vua nhưng trước đó, Ông Ích Khiêm và Trương Văn Để đã được lệnh đón ở cửa Hiển Nhân để đưa kiệu về Dục Đức đường, bấy giờ đã trở thành nha Hộ thành(58).

Ở đó, Ích Khiêm và Văn Để đưa cho vua một thanh gươm, một dải lụa điều và một chén thuốc độc yêu cầu vua chọn cách chết của mình. Thấy vua do dự, Ông Ích Khiêm ép đổ thuốc độc vào miệng vua và bóp mũi để buộc vua phải nuốt. Thuốc công hiệu ngay và ông vua khốn khổ lăn lộn quằn quại. Đúng vào lúc đó, Đề đốc Trần Xuân Soạn mang đến lệnh của Tôn Thất Thuyết bảo phải làm nhanh - người ta sợ người Pháp can thiệp để giải thoát vua - và Ông Ích Khiêm đã kết liễu mạng sống nạn nhân bằng ba thanh gỗ đập mạnh vào cổ họng, vào ngực và bụng. Cú đánh thứ nhất làm vỡ thanh quản và cú thứ ba làm lòi ruột ra.

Có lẽ chúng ta đã khá xa cái chết của Trần Tiễn Thành. Xin quay lại đề tài của chúng ta sau phần mở rộng cần thiết ấy. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vốn đã nghi ngờ vị Phụ chính già đồng loã với Hường Sâm và Hường Phì, sau khi khám phá lá sớ trong đó Sâm và Phì khẳng định đã cùng Trần Tiễn Thành dự mưu. Sau cái chết của vua Dục Đức, trong triều đình ngự trị không khí khủng bố và vị lão thần đáng thương ấy biết mình đã bị chú ý nên tìm cách đứng ngoài mọi cuộc mưu đồ giữa các phe phái. Ông chỉ muốn sống yên trong cảnh ẩn dật. Từ ngày được phép rời khỏi triều đình, ông không có quan hệ với bất cứ quan chức nào và thật là rất khó tìm ra bằng chứng đích xác về sự đồng lõa của ông. Nhưng việc vị lão thần từ chối ký vào tờ sớ phế truất Hiệp Hoà bị xem như bằng chứng tinh thần xác nhận những điều người ta ngờ ông. Sáng ngày 30 tháng 10 âm lịch, khi một viên Tham tri theo lệnh các quan Phụ chính mang đến cho ông văn bản lá sớ để ông đồng ý, ông tự tay viết vào đó nhận xét sau đây: “Phế lập là chuyện trọng đại, sao lại có thể làm nhiều lần đến thế? Tôi đã về trí sĩ, không dám dự vào”, và ông cho viên quan về.

Ông vừa ký bản án tử hình của chính mình.

Sau khi đã tỏ thái độ phản kháng quyết định của họ một cách hiên ngang đến thế, ông không có ảo tưởng gì về số phận, bởi không khép mình tuân theo ý muốn của hai vị Phụ chính độc tài thì cũng bị coi như là đứng về phía các đối thủ của họ và lập trường như thế, họ không thể nào dung thứ.

Cho nên Trần Tiễn Thành ra lệnh cho gia đình lập tức về quê, ông chỉ ở lại với một người thiếp, bà thiếp thứ tư tên Lê Thị Như, và vài tên gia nhân, để chờ sự việc xảy ra.

Sau khi giết Hiệp Hoà, ngay đêm hôm đó Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho một toán quân trong đội cận vệ riêng của ông đi giết Trần Tiễn Thành và Tuy Lý Vương. Đó là một đêm cuối tháng trời tối đen như mực. Cũng như các đường phố khác lúc bấy giờ, đường phố Chợ Dinh không có đèn đường. Quân Phấn nghĩa cầm gươm giáo, do Hường Hàng(59), Hường Chức và Hường Tế (cả ba đều là trong hoàng tộc và là cháu nội Minh Mạng) chỉ huy. Họ đến trước nhà quan Đệ nhất Phụ chính vào khoảng canh ba (quá nữa đêm). Đó là một căn nhà như những ngôi nhà đến nay ta vẫn còn thấy trên đường Gia Hội. Nó gồm một căn nhà trệt ba gian nằm ngoài mặt đường, trước đây có lẽ đã dùng làm cửa hàng. Gian giữa có cửa hai cánh, mỗi cánh xây trên một loại trụ cột trát vữa. Một hàng hiên bên cánh trái sân nối liền căn nhà ấy với một căn nhà tầng kiến trúc xoàng xỉnh. Quân Phấn nghĩa đứng trước nhà và ngoài đường, khoảng mười tên đến đập cửa đùng đùng bằng chuôi vũ khí của họ. Sự ồn ào làm cả khu phố tỉnh giấc, mấy hàng xóm tưởng là quân cướp. Có người còn mở cửa để thét bảo bọn người ngỡ là trộm cướp ấy rằng đấy là nhà quan Đệ nhất Phụ chính, họ chớ dại mà đụng vào. Nhưng quan Phụ chính đang nghỉ trên tầng gác căn nhà bên trong thì không lầm lẫn. Gia nhân không dám mở cửa và trong phút chốc, bọn lính đã phá cửa, vì chỉ cần dùng lưỡi kiếm đẩy lên là cửa mở toang. Vài tên lính xông vào nhà, đèn trong nhà leo lét, đi đầu bọn lính là một người cầm trong tay chiếc tráp đỏ thường đựng sớ tấu. Bọn chỉ huy hét lên là Hội đồng Phụ chính mời đại nhân xuống có việc khẩn cấp. Vị lão thần khoác chiếc áo đen do người thiếp yêu trao cho và bước xuống, bà thiếp đỡ bên trái. Đến giữa cầu thang, khi tay phải ông còn giơ lên để cài cúc áo, nhiều tên lính xông vào đâm ông bằng giáo. Người thiếp có phản ứng đáng khâm phục là lao về phía trước, cố gắng bảo vệ cho “phu quân và phu tướng” của mình bằng cánh tay mảnh mai và vì vậy, bị thương ở tay phải. Nhưng vị lão thần đã gục xuống thở hắt ra trong tay người thiếp được ông yêu quý nhất trong số các người thiếp của ông mà ông đã cố tình giữ lại bên mình để bà có mặt trong những giây phút cuối đời.

Bọn hung thủ rút lui để sang làm nhiệm vụ tàn khốc của họ ở nhà Tuy Lý Vương. Nhưng trong số thủ lĩnh của bọn chúng cũng có người còn ái ngại, muốn cứu vị hoàng thân dù sao cũng là chú ruột y nên trùng trình làm cả bọn bị trễ. Khi chúng đến nơi, trời đã gần sáng. Vả lại, Tuy Lý Vương đã trốn trước và đi lánh nạn ở Thuận An như ta đã biết.

Trong lúc đó, gia nhân đã báo tin bi thảm về cái chết của quan Phụ chính cho gia đình và mọi người lập tức kéo đến. Sau khi nhà cầm quyền làm thủ tục ghi nhận sự việc, các con ông đưa thi hài ông về Minh Hương. Viên Phủ doãn Thừa Thiên biết nguyên ủy vụ án, song tuyên bố đó là vụ cướp và giả vờ mở cuộc điều tra. Thế là vụ án tai tiếng đáng công phẫn bị ém nhẹm bằng khủng bố.

Nhưng dù Trần Tiễn Thành đã chết, kẻ thù của ông vẫn chưa tha.

Tháng 12, ông bị truy giáng xuống hàm Thượng thư bộ Binh và gia đình được nhận 700 quan tiền trợ cấp để mai táng.

Tháng hai Kiến Phúc nguyên niên, triều đình tham gia tang lễ ông bằng cách cử hai quản vệ, ba suất đội, khoảng 100 lính và thủy quân, một chiếc ghe lớn có mui để chở linh cữu và bốn ghe hộ tống. Ông được mai táng trên một vùng đồi núi thôn Nguyệt Biều, huyện Hương Thuỷ, ở một vị trí mà chính Trần Tiễn Thành đã chọn sẵn từ lúc sinh tiền.

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123