Chương 4: Người ủng hộ cải cách. Quan hệ với Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch

 

Người ta đã nói và viết nhiều về sự bảo thủ kiêu ngạo và mù quáng của những người ở quanh Tự Đức. Đúng là phần đông quan lại và sĩ phu đương thời và cả chính bản thân nhà vua đều thâm nhiễm cái sở học văn hoá Hán của họ và tỏ thái độ chống đối quyết liệt đối với tất cả những gì từ phương Tây đến, nhất là đối với Thiên chúa giáo, họ lại càng ác cảm vì theo họ, tôn giáo này gắn bó chặt chẽ với những người ngoại quốc đến Việt Nam buôn bán và bòn rút hết tài nguyên đất nước với những thứ máy móc quái quỷ đầy đe doạ. Theo quan điểm của họ, nền văn hoá cốt yếu dựa trên đạo lý của họ nhiều lần ưu việt hơn những khát vọng vật chất và vũ lực hung bạo (của những người phương Tây) ấy. Cho nên, tiếng súng đại bác những năm 1848, 1856 và 1858, thay vì làm họ suy nghĩ về nguyên nhân sự yếu kém của đất nước, lại càng củng cố niềm tin của họ rằng bọn ngoại quốc từ biển cả đến ấy quả là man rợ. Chỉ có một vài nho sĩ Thiên chúa giáo, như Nguyễn Đức Hậu và Nguyễn Trường Tộ, nhờ sở học Tây phương và nhờ đã từng đi đây đi đó và một vài vị đại thần như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ và Trần Tiễn Thành, nhờ tinh thần khoan nhượng, cởi mở và những quan hệ rộng rãi của họ, đã có ý niệm về những nguyên nhân vì sao Âu Tây hùng mạnh. Họ đã hiểu rằng nếu ta muốn chống lại người ngoại quốc để bảo vệ nền độc lập của mình, trước hết ta cần học tập Âu Tây để tìm cách thay đổi toàn bộ xã hội ta đang bị xơ cứng, chôn chặt trong lề thói thủ cựu và cảnh khốn cùng. Người này tiếp nối người kia, họ đã kêu gọi cải cách.

Trong số các quan có xu hướng cải cách, người ta biết nhiều về Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ và xem các vị ấy như là hiện thân của tinh thần đổi mới thời bấy giờ. Trần Tiễn Thành ít được biết đến hơn, vì những lý do chúng tôi đã trình bày trong những dòng mở đầu, cũng không kém phần ủng hộ hiện đại hoá, dù ông hơi rụt rè, nhút nhát. Nhưng ông đáng cho ta quan tâm hơn, dưới một giác độ khác, đó là quan hệ mật thiết của ông với Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch. Không còn nghi ngờ gì nữa, Nguyễn Trường Tộ quả là người có học thức nhất và sáng suốt nhất trong thời đại của mình. Còn Nguyễn Lộ Trạch có thể xem là môn đệ của Nguyễn Trường Tộ.

Nguyễn Trường Tộ quê ở làng Bùi Chu tỉnh Nghệ An. Ông đã học qua Hán học. Tuy sinh ra đã là người Thiên chúa giáo, tâm hồn ông từng bị lay động dữ dội bởi tiếng đại bác năm 1848 ở Đà Nẵng, kể từ dạo ấy, người thanh niên 20 tuổi quyết định từ bỏ lối học cổ truyền để hướng về cái học thực dụng, với hy vọng một ngày nào đó sẽ giúp ích cho đất nước. Ông được sự giúp đỡ của Giám mục Gauthier, khâm mạng toà thánh ở giáo phận Nam Bắc Kỳ (Xã Đoài). Giám mục dạy ông học tiếng Pháp, cung cấp cho ông bản dịch chữ Hán của các sách Tây phương và cho ông đi Singapour và Hồng Kông. Sau khi Đà Nẵng bị bắn phá lần thứ ba, năm 1858, ông phải rời Xã Đoài (vào đầu năm 1859), cùng giám mục Gauthier trốn chạy sự đàn áp trả thù. Giám mục đưa ông sang Hồng Kông rồi để ông một mình đi Pháp(38) . Sau khi Pháp chiếm Sài Gòn lần thứ hai ngày 24 tháng 2-1861, ông từ Pháp về và vào làm việc cho nhà cầm quyền Pháp với tư cách là nho sĩ, theo ông khẳng định là ông nhằm giúp đỡ triều đình Việt Nam trong các cuộc nghị hoà, trong phạm vi ông có thể giúp được. Lúc đó, ông gởi văn bản đầu tiên cho Nguyễn Bá Nghi, là người được cử vào Sài Gòn để tiếp tục cuộc đề kháng. Trong văn bản này, Nguyễn Trường Tộ trình bày lý do vì sao nên ký kết hoà ước hơn là tiếp tục chiến đấu. Tháng 6-1862, ông gặp Phan Thanh Giản vào để ký hiệp ước. Nhưng vào tháng 3 năm Tự Đức thứ 16, khi ông gởi văn bản nổi tiếng là Trần tình từ (bày tỏ tình cảm) cùng ba văn bản khác Thiên hạ đại thế luận (bàn về tình hình chung trên thế giới), Tế cấp luận (bàn về biện pháp cấp bách) và Giáo môn luận (bàn về tôn giáo) thì chính là ông gởi cho Trần Tiễn Thành bấy giờ là Thượng thư bộ Binh, phụ trách Kinh kỳ hải phòng sứ. Trước thời điểm ấy, Nguyễn Trường Tộ chưa từng biết Trần Tiễn Thành. Nguyễn Trường Tộ gởi các văn bản cho ông chỉ vì, sau khi Trương Đăng Quế nghỉ, Phạm Thanh Giản được cử làm Tổng đốc Vĩnh Long và Nguyễn Tri Phương được cử ra Bắt Kỳ dẹp loạn thì Trần Tiễn Thành bấy giờ là quan đầu triều. Nguyễn Trường Tộ đã gặp may vì cùng với Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ, Trần Tiễn Thành lúc bấy giờ là một trong những quan đại thần hiếm hoi của triều đình có thể hiểu được Nguyễn Trường Tộ.

Thật bổ ích khi tìm hiểu những gì Nguyễn Trường Tộ viết trong các văn bản gởi quan đại thần đầu triều ấy. Ba văn bản kèm theo Trần tình từ cũng đủ hợp thành một chương trình cải cách.

Trong văn bản thứ nhất, Nguyễn Trường Tộ cho thấy là sự tiếp xúc giữa các dân tộc đặc biệt là giữa các dân tộc phương Đông và phương Tây, luôn luôn bắt đầu bằng bạo lực và sau đó kết thúc bằng giao lưu ảnh hưởng văn hóa, sự xung đột ban đầu sẽ sớm được hoá giải trong sự tổng hợp bổ ích. Chính nhờ cuộc xâm lược của Mông Cổ mà nền văn minh châu Á đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của châu Âu bấy giờ còn bán khai, hoang dã; chính nhờ những người châu Âu đi chinh phục châu Mỹ mà châu Mỹ trở nên (văn minh) ngang với Châu Âu, Châu Á đã từng là thầy dạy của châu Âu nay đã bị học trò vượt qua và bây giờ sau những xung đột ban đầu, đến lượt châu Á phải chịu làm học trò phương Tây. “Nhưng sau khi chúng ta đã học hết những gì làm cho người da trắng(39)  hơn ta, gia sản tinh thần của ta lúc đó sẽ giàu lên nhờ tiếp thu kiến thức mới và như thế chúng ta sẽ dễ dàng thắng họ vì họ chỉ có những kiến thức của riêng một trí tuệ, lại đã già nua của họ”(40). Kết luận rút ra từ những nhận xét ấy là chúng ta cần tạm thời nhưng thành thật hoà với Pháp, chấp nhận nhượng bộ các đòi hỏi của họ và sau đó, cố gắng tự cường để khôi phục những gì ta đã mất. Sớm hay muộn ta sẽ có thời cơ nhờ mâu thuẫn giữa các cường quốc phương Tây.

Văn bản thứ hai nói về các vấn đề khẩn cấp. Văn bản này hiện không tìm ra được. Nhưng các vấn đề ấy đã được trình bày lại trong văn bản viết tháng 5 năm Tự Đức thứ 17(41) mà chúng tôi vừa trích dẫn ở trên. Trước hết, Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh những biện pháp để tăng tài lực quốc gia và khuyên nên khai thác tài nguyên từ biển rừng, và nông nghiệp khai mỏ, đánh thuế trên các tài nguyên ấy cũng như thu thuế hàng xuất khẩu. Một vấn đề khẩn cấp khác là duy trì quan hệ với một số nước châu Âu để cân bằng với ảnh hưởng của Pháp.

Văn bản thứ ba nói về vấn đề tôn giáo và biện hộ cho giáo dân mà ông khẳng định họ yêu nước và trung thành với nhà vua.

Ba văn bản ấy chứa đựng điều cốt yếu trong tư tưởng Nguyễn Trường Tộ, các văn bản sau này chỉ phát triển rộng thêm tuỳ theo tình hình hoặc dưới ánh sáng những sự kiện mới mà thôi.

Vài tháng sau khi các văn bản ấy được gởi đi, Tự Đức cử sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp xin chuộc các tỉnh đã bị Pháp chiếm ở Nam Kỳ. Trong lúc sứ bộ đang ở Paris, Trần Tiễn Thành còn nhận thêm vài ba văn bản khác của Nguyễn Trường Tộ trong đó Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh nhu cầu xác lập quan hệ với các cường quốc phương Tây khác hơn là Pháp. Năm 1864, khi sứ bộ về nước, Nguyễn Trường Tộ còn đề nghị với Trần Tiễn Thành để ông đi Anh, nhân có một viện khoa học Anh mời ông(42). Trần Tiễn Thành đệ trình tất cả các văn bản ấy cho vua Tự Đức, vua giao cho Trần Tiễn Thành tìm hiểu về con người đích thực của Nguyễn Trường Tộ và mời Nguyễn Trường Tộ về Kinh. Nhưng sau khi triều đình không đồng ý cho Nguyễn Trường Tộ đi Anh, trong mùa đông năm 1865, Nguyễn Trường Tộ gởi thêm ba văn bản cho Trần Tiễn Thành và hai văn bản cho Phạm Phú Thứ. Trong đó các văn bản gởi Thượng thư bộ Binh, văn bản thứ nhất nói về việc mua vũ khí; văn bản thứ hai đề nghị gởi sinh viên đi học ở nước ngoài và văn bản thứ ba, quan trọng nhất, nêu lại những vấn đề đã trình bày trong các văn bản năm 1863, chẳng hạn như việc khai thác tài nguyên đất nước và quan hệ với các cường quốc Âu Tây. Trần Tiễn Thành đệ trình tất cả cho nhà vua, cũng như tất cả các văn bản khác, dù gởi cho bản thân ông, cho Phan Thanh Giản hay Phạm Phú Thứ. Bấy giờ, Tự Đức hỏi ông xem dùng người Công giáo trong công việc thì có nguy hiểm gì không và tại sao Nguyễn Trường Tộ từ chối không đến triều đình. Tuy nhiên vua rất quan tam đến văn bản mới nhất của Nguyễn Trường Tộ liên quan đến các công việc cấp bách (tế cấp) và việc kêu gọi nước ngoài giúp đỡ.

Lúc đó, Trần Tiễn Thành lại mời Nguyễn Trường Tộ và rốt cuộc Nguyễn Trường Tộ về Kinh vào tháng 2 năm Tự Đức thứ 19 (1866). Trần Tiễn Thành cư xử với ông rất mực trân trọng. Trần Tiễn Thành thường tiếp ông ở dinh của mình và có khi cho ông trú ngụ trong gian phòng bên tả bộ Binh. Nguyễn Trường Tộ xác nhận lại bằng lời những gì ông đã viết trong các văn bản và đặc biệt lưu ý Trần Tiễn Thành về việc người Pháp muốn chiếm nốt ba tỉnh miền Tây để chấm dứt phong trào kháng chiến được các tỉnh này dung dưỡng.

Cũng trong thời gian đó, Trần Tiễn Thành đã mời từ Quảng Bình vào linh mục Croc, người cộng sự của giám mục Gauthier, linh mục người Việt là Nguyễn Hoàng, cùng với Nguyễn Trường Tộ để yêu cầu họ giải quyết một vụ mua tàu máy hơi nước. Vài tuần sau khi đến Kinh đô, ngày 28 tháng 2 , (43) Nguyễn Trường Tộ đột ngột rời Huế cùng các linh mục Croc và Nguyễn Hoàng, sau khi họ đi rồi Trần Tiễn Thành mới biết.

Họ đi về Quảng Bình gặp Giám mục Gauthier vào ngày rằm tháng 3. Giám mục về ở làng Đan Sa ở Quảng Bình từ hơn ba năm qua, Giám mục đã gọi người cộng sự của mình để cùng về giáo phận Xã Đoài. Giám mục lên đường ngày hôm sau.

Bất chấp Hiệp ước 1862, nhà vua hình như đã cố tình sai giữ Giám mục Gauthier lại Quảng Bình. Nay vua nổi giận khi biết Giám mục Croc cùng hai giáo dân người Việt. Vua đổ trách nhiệm ấy cho Trần Tiễn Thành và gần như nghi ngờ ông đã dễ dãi chiều lòng họ (tạo điều kiện cho họ đi - ND). Dư luận chung của quan lại và sĩ phu cũng rất chống đối Trần Tiễn Thành, thấy ông quan hệ với Nguyễn Trường Tộ và chia sẻ tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ, người ta không ngần ngại tố cáo ông đồng lõa với Pháp, với giáo sĩ và giáo dân, bằng cách nhắc lại những hoàn cảnh đã dẫn dắt ông đến chỗ quen biết với họ(44). Ông còn thú nhận với vua là ban đêm, mỗi lúc nghĩ đến điều mà người ta nghi ngờ ông, mà ông cho là vì “mình có tầm nhìn hạn hẹp”, ông không thể ngăn dòng lệ đắng cay, ân hận. Sau khi đến Quảng Bình, Nguyễn Trường Tộ lại viết thư cho Trần Tiễn Thành để cho biết là Giám mục Gauthier đề nghị giúp triều đình đi Pháp thuê giáo sư và chuyên viên kỹ thuật mà đất nước ta đang cần. Nhưng khi Trần Tiễn Thành biện minh là mình không có quan hệ mật thiết với Nguyễn Trường Tộ, thì nhà vua lại trách ông về thái độ ấy, tựa hồ như ông thiếu tin tưởng đức vua của mình: “Về mọi chuyện Nguyễn Trường Tộ đã nghi ngờ triều đình, thay vì xoá tan các mối nghi ngờ ấy, ngươi còn làm tăng thêm. Chẳng lạ gì mọi vấn đề đều không giải quyết được”(45). Tự Đức cũng nhắc lại là vua luôn luôn tin cậy ông và động viên ông nên làm những gì ông cho là ích quốc lợi dân. Thật ra, Trần Tiễn Thành chỉ muốn tỏ lòng thành khẩn ăn năn để nhà vua cảm động. Còn trong thâm tâm, ông rất nhất trí với tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ. Ông còn nhờ Nguyễn Trường Tộ yêu cầu Giám mục Gauthier giúp đỡ triều đình tiến hành các cuộc cải cách.

Ngày 30 tháng 4 năm Tự Đức thứ 19 (1866), cùng với bạn đồng liêu là Phạm Phú Thứ, Trần Tiễn Thành dâng sớ để ủng hộ các đề nghị của Nguyễn Trường Tộ trong một văn bản gần đây:

1- Xin cho phép người Pháp và người Tây Ban Nha lập nghiệp tại các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên như Hiệp ước 1862 quy định để khỏi gây thêm khó khăn mới.

2- Lập lãnh sự quán ở Sài Gòn để giữ quan hệ bí mật với nhân dân ba tỉnh miền Tây;

3. Cho đo đạc đất ở các vùng gần các cửa biển lớn và lập sổ bộ đề ngày sớm lên (actes antidates) để tạo điều kiện cho sau này họ có thể bán lại với giá cao cho người ngoại quốc đến lập nghiệp ở đó 46);

4- Áp dụng phương pháp Âu Tây để khai thác mỏ sắt ở Nghệ An và cho dò tìm mỏ than đá.

Khi Nguyễn Trường Tộ trở về Xã Đoài sau bảy năm xa cách ông vẫn thấy người ta tiếp tục xử tệ với giáo dân và lại viết một văn bản cho Trần Tiễn Thành để báo cho Trần Tiễn Thành biết thực trạng ấy và xin Trần Tiễn Thành can thiệp để chấm dứt việc ức hiếp giáo dân. Thượng thư bộ Binh tâu với vua về sự giúp đỡ mà triều đình có thể chờ đợi ở Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier và để họ yên lòng toàn tâm toàn ý giúp ta, xin chấp dứt việc bức hại tôn giáo của họ.

Ngày 26 tháng 6, Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ đến Huế và được vua giao nhiệm vụ đi Pháp cùng hai viên quan để tìm thầy và kỹ thuật viên nhằm mở một trường học theo kiểu phương Tây. Kể từ ngày Nguyễn Trường Tộ được giao công vụ, các văn bản của ông được gởi cho toàn thể Cơ Mật viện. Vả lại, kể từ khi Nguyễn Tri Phương từ Bắc Kỳ về giữ chức Thượng thư bộ Binh, Trần Tiễn Thành đã lui xuống hàng thứ yếu. Từ Pháp, ngày 09-04 năm Tự Đức thứ 20 (1867), Nguyễn Trường Tộ gởi về một văn bản xin triều đình cảnh giác trong thương lượng với một công ty Pháp đang xin khai thác mỏ. Ngày 20 tháng 10, ông gởi một văn bản khác cho triều đình, văn bản quan trọng nhất, nhan đề Tế cấp bát điều (tám điều cấp bách trong đó ông nêu tám việc cần cải cách trong mọi lãnh vực: chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá và quân sự.

Nhưng đúng vào lúc ấy quân đội Pháp chiếm đóng ba tỉnh miền Tây và triều đình Việt Nam bất bình vì hành động thô bạo đó của người Pháp, cho rằng không nên kêu gọi người của nước ấy giúp đỡ nữa. Triều đình gởi chỉ thị cho các quan tháp tùng Giám mục Gauthier theo hướng ấy. Nhưng đã muộn: Giám mục đã thuê thợ máy và giáo sư cho ngôi trường tương lai ở Huế.

Đầu tháng hai năm Tự Đức thứ 21, Giám mục Gauthier từ Pháp về mang theo ba giáo sĩ được mời làm giáo sư và một thợ máy tên Ba Xanh (?). Ông cũng mang về những trang bị rất đầy đủ để dạy các môn khoa học, trong đó có một số đơn vị do Bộ trưởng bộ Hải quân Pháp tặng, ông cũng mua nhiều vật dụng khác theo yêu cầu của triều đình Huế. Nhưng triều đình chỉ bận tâm về việc mất ba tỉnh miền Tây mới xảy ra nên không hề nghĩ đến việc xây dựng ngôi trường đã dự kiến.

Còn về phần Nguyễn Trường Tộ, ngay sau khi ở Pháp về ông lại được giao tháp tùng phái bộ mà vua Tự Đức muốn cử sang Pháp để xin trả lại mấy tỉnh vừa bị Pháp chiếm. Ngày rằm tháng 3 năm Tự Đức thứ 21, ông gởi một văn bản lên triều đình để xin hoãn lại việc cử sứ bộ, mà ông biết chắc là vô ích. Nguyễn Văn Tường cũng đề nghị như vậy và nhà vua nghe theo, dù đại bộ phận triều đình và tôn thất (des princes du sang) đều phản đối.

Nhưng trong lúc ấy dư luận sôi động vì việc mất ba tỉnh miền Tây coi ông Nguyễn Trường Tộ là tay sai của Pháp và kêu gọi trừng trị ông. Nhiều sĩ phu và quan lại dâng kiến nghị đòi triều đình giết ông. Có âm mưu đầu độc các giáo sĩ người Pháp vừa theo Giám mục từ Pháp về. Ở các tỉnh, các vụ khủng bố giáo dân, đốt phá nhà thờ tái diễn dữ dội. Chính các đại thần trong triều, đặc biệt là Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ cũng bị tố cáo là phản bội hay mất cảnh giác. Không khí nặng nề đến nổi ảnh hưởng đến cả nhà vua và trong một cơn thịnh nộ bất ngờ như vẫn thường xảy ra, vua quở trách các đại thần của mình, trong đó đặc biệt là Trần Tiễn Thành mà vua cho là phải chịu trách nhiệm đã rước Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ về Huế. Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ, vị đại thần này cũng có quan hệ với Nguyễn Trường Tộ, đều nhận tội và chờ sự trừng phạt. Nhưng có thể là vua Tự Đức chỉ quở trách các quan đại thần của mình để trấn an dư luận. Trong thâm tâm, nhà vua cảm thấy Nguyễn Trường Tộ không phải là tên phản quốc và Trần Tiễn Thành không phải không có lý. Thật thú vị khi thấy vua lại giao cho chính Trần Tiễn Thành nhiệm vụ chăm lo cho Nguyễn Trường Tộ được trở về Xã Đoài bình yên vô sự.

Nguyễn Trường Tộ im lặng trong hai năm. Khoảng cuối năm Tự Đức thứ 23 (1870), khi công luận đã lắng dịu, và sức khoẻ ông đã khá hơn, Nguyễn Trường Tộ lại tiếp tục viết các văn bản gởi lên triều đình, trong đó ông trình bày quan điểm của mình về việc Pháp yêu cầu ký lại hiệp ước. Ông rất lo lắng về các điều kiện mà Pháp đưa ra và thấy có nguy cơ đối với phần còn lại của đất nước. Ông đề nghị sau khi ký hiệp ước mới mà ta không thể chối từ, một mặt phải làm cho Pháp tin rằng ta muốn tuân thủ tất cả mọi điều khoản mà đôi bên đều phải coi như là dứt khoát, và mặt khác, phải thật sự bước vào con đường cải cách để bảo vệ phần lãnh thổ còn lại.

Chúng tôi không nói dài hơn về các văn bản ấy, ở đây chúng tôi chỉ quan tâm đến chúng trong chừng mực chúng có liên quan đến Trần Tiễn Thành. Mặc dù đang là Binh bộ Thượng thư, lúc bấy giờ ông vẫn ở hàng thứ yếu so với Nguyễn Tri Phương. Tuy đã lớn tuổi, Nguyễn Tri Phương vẫn có uy tín rất lớn ở triều đình. Triều đình chỉ bận tâm duy nhất có một vấn đề: tìm cách vận động lần nữa ở bên Pháp để xin trả lại các tỉnh bị Pháp chiếm. Nguyễn Trường Tộ biết cuộc vận động ấy thế tất phải thất bại. Ông xin đi chuẩn bị một cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ, nhằm lợi dụng việc đế chế II sụp đổ, mà từ lúc ấy ông đã tiên đoán được. Đề nghị của ông không được nghe theo. Tháng 12 năm Tự Đức thứ 23 (1870), sau nhiều phen do dự, rốt cuộc, nhà vua quyết định gọi ông ra Huế để giao cho ông nhiệm vụ đưa một nhóm sinh viên sang Pháp. Nhưng trong lúc đó, ông đã lâm bệnh, không đi được và vài tháng sau thì mất. Dự định đưa sinh viên đi học bị bỏ dở và triều đình bận tâm vì tình hình Bắc Kỳ, không còn nghĩ gì đến cuộc cải cách mà ông đã đề nghị. Sự mệnh yểu của người bạn thân mà ông từng bảo trợ đối với Trần Tiễn Thành là một tổn thất không có gì bù đắp nổi.

Nhưng số phận dun rủi cho vị đại thần ấy trong đời mình luôn gặp những con người đặc biệt, kiệt xuất. Một, hai năm sau khi Nguyễn Trường Tộ qua đời, ông gả thứ nữ Nguyễn Thị Nhàn cho một thư sinh tên Nguyễn Lộ Trạch, mà người ta có thể coi là môn đệ xứng đáng của vị nhân sĩ Thiên chúa giáo. Đó là một thanh niên khoảng 20 tuổi, con quan Tuần phủ Nguyễn Quốc Oai là bạn thân thiết (ami intime) của Trần Tiễn Thành. Đó là một thanh niên thông minh mẫn tiệp, đã sớm tỏ ra là một sĩ phu có biệt tài. Nhưng anh ta khác các bạn đồng môn ở đạo đức cao khiết và thái độ coi thường cái học văn chương thơ phú. Tất nhiên anh chịu ảnh hưởng các tân thư(47) do Nguyễn Trường Tộ mang về từ ngoại quốc, và anh nhờ lợi thế riêng trong môi trường sinh sống của mình mà được đọc. Dù là con trai và con rể của các bậc đại thần, anh không bao giờ muốn dự vào khoa cử. Sau khi thành gia thất, anh thường đến chỗ nhạc phụ ở bộ Binh và ở đó, anh tha hồ đọc các tập bản sao văn bản của Nguyễn Trường Tộ, lúc ấy mới từ trần. Anh đau lòng thấy người ta không cố gắng làm gì để cứu nước thoát khỏi cảnh nguy vong, trong lúc hoạt động của Francis Garnier ở Bắc Kỳ năm 1873 đang đưa Việt Nam vào một thời kỳ nguy khốn mới nữa. Anh thường bàn chuyện chính trị với nhạc phụ và được nhạc phụ đặc biệt yêu quý. Nhưng gia đình không êm ấm và sau vài năm chung sống, anh phải ly dị với vợ. Trần Tiễn Thành giận con gái đến nỗi không cho con gái về gần bên mình, buộc cô ấy phải sống ở quê, cạo trọc đầu và bắt làm những công việc nặng nhọc và hạ tiện đối với con gái nhà quan. Dù có chuyện gia đình như vậy, Nguyễn Lộ Trạch vẫn thường xuyên lui tới với nhạc phụ và vẫn được ông ngày càng quý mến hơn. Năm Tự Đức thứ 30 (1877), Nguyễn Lộ Trạch 25 tuổi, dâng lên vua bản luận văn chính trị đầu tay của mình nhan đề Thời vụ sách (bàn về tình hình hiện nay), có lẽ qua trung gian của Trần Tiễn Thành lúc bấy giờ vẫn là quan đầu triều. Năm năm sau, sau khi Henri Rivière chiếm Hà Nội, theo yêu cầu của quan Lộc tự khanh Lê Đại, Nguyễn Lộ Trạch gởi bản luận văn thứ hai. Trong các văn bản ấy, ông chỉ nhắc lại những tư tưởng cơ bản của Nguyễn Trường Tộ. Trong văn bản thứ nhất, ông cho rằng muốn cứu lấy tương lai đất nước và nghị hoà với Pháp trên căn bản vững chắc, cần tiến hành không chậm trễ việc canh tân, đặc biệt là trang bị ngay một lực lượng hải quân hiện đại để bảo vệ duyên hải. Trong văn bản thứ hai, ông đề nghị năm điểm:

1)- Lập Kinh đô thứ hai ở Thanh Hoá nơi có điều kiện địa lý, kinh tế và dân số cho phép triều đình kéo dài cuộc kháng chiến;

2)- Tăng cường tài lực quốc gia bằng cách dùng nhân lực của quân đội khẩn hoang đất đai và bằng ngoại thương;

3)- Tổ chức lại quân đội;

4)- Nghiên cứu kỹ thuật phương Tây;

5)- Mở rộng quan hệ với các cường quốc khác để tìm bạn.

Sau khi dâng tập điều trần này, ông được Cơ Mật viện mời đến. Đứng đầu Cơ Mật viện lúc ấy là nguyên nhạc phụ của ông, Trần Tiễn Thành có ý định đưa ông đi Hồng Kông học tiếp. Ông lại gởi thêm một văn bản lên triều đình, cho rằng chỉ học tập kỹ thuật phương Tây không thôi chưa đủ, mà đồng thời cần tiến hành những cải cách sâu hơn và tìm cách lập quan hệ hoà hiếu với các cường quốc châu Âu.

Mãi đến tháng 8, Cơ Mật viện mới đệ trình văn bản này cho vua Tự Đức có lời châu phê: “Nói chi chuyện cao xa đến thế?” Thế là không ai nói gì đến chuyện gởi ông đi học ở Hồng Kông nữa cả.

Vài tháng sau, vua Tự Đức băng hà và triều đình phải công nhận nền bảo hộ của Pháp. Chẳng bao lâu sau Trần Tiễn Thành cũng mạng vong, là nạn nhân của những âm mưu và sự rối loạn đang ngự trị trong cả nước, còn Nguyễn Lộ Trạch thì lui về sống ẩn dật.

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123