Chương 4: Công vụ - Hoạt động ngoại giao

 

Trần Tiễn Thành là một người quá thật thà và hiền lành để có thể trở thành nhà ngoại giao giỏi. Nhưng do thời thế ngẫu nhiên đưa đẩy, trong suốt cuộc đời làm quan khá dài của mình, Trần Tiễn Thành từng có dịp tham gia vào những cuộc thương thuyết giữa triều đình Việt Nam với các sứ thần Pháp và ngoại quốc khác. Ba tháng sau khi quân Pháp chiếm Sài Gòn lần thứ nhất, năm 1859, với tư cách Tham tri bộ Binh, ông được cử phụ trách cửa Thuận An và chính ở chức vụ này, ông đã có những tiếp xúc đầu tiên với Nguyễn Trường Tộ từ Sài Gòn ra. Nhân sĩ Thiên chúa giáo ấy đã làm thư ký cho nhà cầm quyền Pháp ở Sài Gòn và đã đệ trình Trần Tiễn Thành một phong thư nói về việc thương lượng hoà nghị giữa Pháp và triều đình Huế. Nhưng chỉ đến tháng 4-1863, ông mới chính thức được cử, với tư cách là Thượng thư bộ Binh, cùng Trung quân Đoàn Thọ, Hiệp biện Phan Thanh Giản, Thượng thư Lâm Duy Hiệp và Tham tri Phạm Phú Thứ, tham gia phái bộ có nhiệm vụ thương thuyết với Đô đốc Bonard và Đại tá Palanca lúc bấy giờ ra Huế để xin phê chuẩn Hiệp ước tháng 6-1862.

Vào tháng 4, các sứ thần Pháp và Tây Ban Nha, “mỗi người có 6 sĩ quan và một đoàn tùy tùng gồm 50 người cập bến Đà Nẵng; đô đốc Jaurès đưa họ đi, cùng với bốn tàu chiến bỏ neo chờ họ.

Để đến Huế, họ đi theo một con đường kỳ thú mà cho đến lúc đó không người phương Tây nào được biết; lộ trình bắt đầu từ Kiền Chang ở phía bắc vịnh Cam Ranh, vượt qua các đỉnh núi cao ngăn đồng bằng Huế với các tỉnh phía nam và vượt qua nhiều con suối rộng trước khi đến ven bờ con sông chảy quanh tường thành (Huế)” (14).

Các sứ thần được tiếp đón long trọng và cùng đoàn tùy tùng được đưa đến ngụ ở sứ quán mới nằm bên hữu ngạn sông Hương (Hương Giang tân quán)(15), “một căn nhà biệt lập có tường vây quanh”...”Bên trong có phủ lụa và mọi người trong phái bộ được cung cấp vật dụng đủ loại một cách trọng hậu  (16).

Các sứ thần trình quốc thư và lễ vật dâng lên vua Tự Đức. Ngày 16, họ qua sông một cách rình rang trên các thuyền ngự và được đưa vào điện Thái Hoà. Sau buổi yết kiến, họ được mời dự yến tiệc và sau đó người ta giao nộp cho họ năm đầu chiến phí, gồm 13,004 đĩnh bạc, tức 186.111 đồng.

Nhà vua đã ra lệnh cho các Thượng thư và đặc biệt là các thành viên phái bộ ngoại giao là không được nhượng bộ tất cả mọi yêu cầu của các sứ thần phương Tây, phải tìm cách trì hoãn việc nộp chiến phí và đòi lại các tỉnh Nam Kỳ. Vua còn bảo Trương Đăng Quế, quan đầu triều, là không nên quá nghe theo Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp, những người đã ký Hiệp ước 1862 mà vua ngờ là quá dễ dàng nhượng bộ địch.

Nhưng các nhà Nho ấy, dù chắc chắn là rất mực yêu nước, có thể cũng có tài ngoại giao, song họ có thể làm gì được bây giờ, khi mà họ không có gì khác hơn là những lời đạo lý để làm chỗ dựa cho lập luận của mình! Nhiều nhất họ chỉ có thể đổi Đô đốc Bonard giao lại tỉnh Vĩnh Long vừa mới bị chiếm, song hiệp ước vẫn phải được phê chuẩn và vẫn phải nộp năm đầu chiến phí

Sau khi các sứ thần phương Tây ra về, Trần Tiễn Thành cùng Đoàn Thọ và Phan Thanh Giản dâng sớ xin chịu tội vì đã không đủ sức thương lượng có kết quả tốt. Theo nghị xử của pháp ty, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp, những người chủ chốt đi thương thuyết và ký hiệp ước bị án trảm giam hậu; Đoàn Thọ và Trần Tiễn Thành bị phạt trượng, giáng bốn cấp và chuyển công tác, Phạm Phú Thứ bị phạt trượng và bị giáng một cấp. Nhưng nhà vua cho họ được khoan hồng, Phan Thanh Giản chỉ bị cách lưu, Đoàn Thọ và Trần Tiễn Thành bị giáng cấp song vẫn lưu nhiệm ở chức cũ. Còn Lâm Duy Hiệp đã từ trần sau khi nhậm chức Tuần phủ Khánh Hoà thì bị truy đoạt hết mọi chức tước, phẩm hàm. Các thành viên khác của phái bộ cũng bị giáng phạt có thứ bậc khác nhau.

Sau khi các sứ thần Pháp và Tây Ban Nha về Sài Gòn, Tự Đức cử sứ bộ sang Paris gồm Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản để thương thuyết với chính phủ Napoléon III về việc chuộc lại tỉnh miền Đông mà Việt Nam nhượng cho Pháp trong hiệp ước vừa mới được phê chuẩn. Trần Tiễn Thành được giao tiễn sứ bộ đến Thuận An.

Sứ bộ được Napoléon III và chính phủ của hoàng đế hứa trả lại ba tỉnh miền Đông bằng cách cho chuộc bằng tiền. Sau khi sứ bộ về nước, ngày 16-6 viên lãnh sự Aubaret từ Pháp sang đến Huế và được chính phủ Pháp đặc biệt giao nhiệm vụ thương lượng với Tự Đức về văn bản dự thảo hiệp ước mới. Phan Thanh Giản được phong chánh sứ, Trần Tiễn Thành phó sứ và Phan Huy Vịnh, Thượng thư bộ Lễ, bồi sứ, để tiếp tục cuộc thương lượng với viên lãnh sự Pháp.

Sau đây là các điều khoản chính trong bản hiệp ước ấy:

1- Chính phủ Pháp đồng ý từ bỏ ba tỉnh đã chiếm, ngoại trừ Sài Gòn, Mỹ Tho, Vũng Tàu và một vùng đất ở ven sông từ các vùng đất trên ra biển, bao gồm 192 làng;

2- Việt Nam phải trả số tiền chuộc trong 50 năm, ba năm đầu mỗi năm 500.000 đồng và 333.333 đồng mỗi năm kể từ năm thứ tư;

3- Việt Nam phải cho phép Pháp đặt lãnh sự ở Kinh đô và tại ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng An (Hải Phòng);

4- Giáo sĩ và giáo dân được tự do hành đạo;

5- Thương nhân Pháp và Tây Ban Nha có thể đến lập nghiệp tự do trong ba cửa biển đã khai thương cũng như trong tất cả các cửa biển sẽ được khai thương sau này.

Như vậy, ngoại trừ điều khoản về đất đai, bốn điều khoản kia đều dòi hỏi nhiều hơn, trong lúc các điều khoản thứ yếu gần như giống với hiệp ước trước.

Nhà vua đưa dự thảo mới ra đình nghị và bởi vì đình thần có nhiều ý kiến khác nhau, vua cho gởi khẩn đến vị quan đầu triều trước đây là Trương Đăng Quế, bấy giờ đã nghỉ hưu.

Trương Đăng Quế xin vua nhận điều khoản về đất đai để tỏ lòng thành tín, và ra lệnh cho các sứ thần từ chối điều khoản về tiền chuộc vì tình hình tài chính của đất nước không cho phép ta thi hành, ông cũng nghiêm khắc phê phán sứ thần Phan Thanh Giản đã chấp nhận điều khoản này trong chuyến công tác của sứ bộ. Tự Đức nghe theo ý kiến Trương Đăng Quế và lệnh cho các sứ thần hướng cuộc thương lượng theo quan điểm đó.

Đến ngày 22, Aubaret mới được tiếp trọng thể. Ông được đối xử hết sức trân trọng và được mời ngồi bên bệ rồng, là vinh dự chưa có người nước ngoài nào được hưởng.

“Ngày hôm sau, ông được nhà vua Việt Nam tiếp kiến riêng, và nhờ giỏi tiếng Việt, ông có thể trò chuyện lâu với đức vua. Tự Đức năm ấy 37 tuổi, có vẻ mềm yếu như phụ nữ, nhưng nhà vua nói rõ ràng và rắn rỏi, với giọng uy nghiêm cho thấy chính nhà vua là người đang thực sự nắm chính quyền. Vua nói rằng ông rất nghèo. Nạn đói khủng khiếp do chiến tranh, do bạo loạn ở Bắc Kỳ, và cũng do bọn hải tặc thường xuyên xâm nhập, phá hoại việc giao thông đường biển; nạn đói ấy vừa mới hoành hành ở tất cả các tỉnh miền Trung của vương quốc, đặc biệt là ở Huế và Đà Nẵng” (17) 

Các sứ thần dâng sớ hứa cố gắng hết sức, song họ xin giữ nguyên hiệp ước cũ trong trường hợp sứ thần Pháp không chịu sửa đổi theo nguyện vọng của ta.

Họ thẳng thắn cho Aubaret biết là mặc dù nhà vua mong muốn chuộc lại ba tỉnh bị chiếm, nền tài chính quốc gia cũng không cho phép trả số tiền chuộc mà Pháp yêu cầu. Chắc hẳn là họ tìm cách xin giảm.

Trong khi thương thuyết, viên lãnh sự Pháp cho thấy ông ta có thể đồng ý thay đổi vài điều trong dự thảo ban đầu, đặc biệt là điều khoản qui định số tiền phải trả trong 40 năm là 13.333.320 đồng.

Sau khi đệ trình tập tâu chi tiết về những kết quả bị xem là chưa đạt yêu cầu nêu trên, các sứ thần tự nhận tội và xin nhà vua cùng triều đình cử người khác có năng lực hơn để thay họ tiếp tục cuộc thương thuyết. Nhưng triều đình và tôn thất đều xin giữ lại ba vị sứ thần cũ.

Nhận thấy không thể giảm nhẹ chút nào nữa yêu cầu của sứ Pháp, quan lại các Bộ, ở Tập hiền viện, Quốc sứ quán và bộ viện quán các... đều dâng sớ xin giữ nguyên hiệp ước cũ, chờ cơ hội khác thuận lợi hơn để thương thuyết xin chuộc ba tỉnh, bởi vì dự thảo mới như viên lãnh sự Pháp đề nghị quá bất lợi cho Việt Nam, họ cũng trút trách nhiệm cho chánh sứ của ta mà họ cho rằng đã vượt quá quyền hạn được phép.

Lúc bấy giờ, nhà vua lại nhắc nhở các sứ thần và báo cho họ biết công luận (bất bình về họ).

Trong lúc đó, Aubaret giữ vững lập trường của mình. Các sứ thần Việt Nam đành chấp nhận toàn bộ các điều khoản của thoả ước mới, chỉ có tiền chuộc là được giảm bớt. Song viên lãnh sự Pháp vẫn còn dành quyền được tham chiếu ý kiến chính phủ mình về sự giảm bớt ấy.

Vả chăng, dự thảo hiệp ước mới này đằng nào cũng thất bại. Giới sĩ phu Việt Nam chỉ trích nó vì họ thấy tình hình sau khi ký Hiệp ước 1862 sẽ càng nghiêm trọng hơn với hiệp ước mới vì tiền chuộc tăng lên, trong lúc việc Pháp chiếm đóng giới hạn trong phạm vi một số vị trí chiến lược và trung tâm thương mại của ba tỉnh hoàn toàn không phải là giải phóng được vùng lãnh thổ bị chiếm. Dư luận Pháp cũng chống dự thảo hiệp ước mới. Thật vậy, ở Sài Gòn và Mỹ Tho, người Pháp và những người ủng hộ họ rất lo lắng về tình hình sẽ xảy đến cho họ. P.Vial nói trong quyển Những năm đầu của Nam Kỳ (Les premières annés de la Cochinchine): “Để giữ vùng đất có giới hạn và bảo đảm tự do thông thương trên sông rạch, chúng ta sẽ phải duy trì lực lượng quân sự và chịu đựng phí tổn y hệt như là để giữ toàn bộ đất đai ta đã chiếm, bởi vì ranh giới các vùng đất của ta sẽ mở rộng ra”. Họ sợ rằng người Việt vốn cấm ngặt ngoại thương sẽ không đưa hàng hoá đến các vùng bị chiếm và cũng không đến đó mua hàng. Họ cũng lo lắng cho số phận của những người từng cộng tác với họ và các giáo dân khi phải trở lại sống dưới pháp luật và thể chế của nhà cầm quyền Việt Nam. P.Vial còn nói: “Chẳng thà ta bỏ đi luôn, vĩnh viễn rời khỏi vùng đất này, vì không có những hy sinh đau đớn về mọi mặt, chúng ta không thể nào giữ nổi ở đây một chỗ trú chân không vững chắc, chẳng có tương lai; chẳng thà từ đây về sau ta từ bỏ bất cứ nỗ lực nào nhằm xây dựng thuộc địa”.

Bộ trưởng bộ Hải quân Pháp ở Paris cũng chống lại dự án này và “rốt cuộc ông ta đã thắng. Do lời yêu cầu khẩn thiết của ông, chính phủ đã gởi lệnh ngưng thương thuyết cho sứ thần của ta (Aubaret). Lệnh này đến Sài Gòn ngày 18-7. Bức điện lập tức được tàu Echo chuyển ra Huế, nó đến Huế ngày 22 và Aubaret trở về Sài Gòn. Sự lo lắng trong các giới người Pháp ở đây đã lên đến cực điểm”.

Trong lúc đó, Bộ trưởng Chasseloup-Laubat tiếp tục cố gắng làm cho Napoléon III quyết định và ngày 4-11, “ông trao cho Pháp hoàng một báo cáo phong phú trong đó bằng lời mạnh mẽ, ông chứng minh nước Pháp có lợi và thậm chí nhất thiết phải giữ lấy Nam Kỳ”. Ngày 29 tháng 1-1865, tàu thư tín của Anh mang đến bức điện báo tin chính phủ Pháp dứt khoát bác bỏ các đề nghị chuộc đất của triều đình Huế” (18).

Mặt khác, Tự Đức và triều đình cũng coi việc ký thoả ước mới với Aubaret là chuyện bất đắc dĩ. Các sứ thần Việt Nam dâng sớ xin chịu tội và xin được nghị xử.

Đình thần đòi luận tội từng người và qui vào tội nịch chức (không hoàn thành nhiệm vụ được giao). Nhưng nhà vua ra lệnh đợi kết quả cuối cùng của cuộc thương thuyết.

Nhà vua từ chối không tiếp đại diện của Súy phủ Nam Kỳ là Pari, đến thông báo việc nước Pháp bác bỏ dự thảo Hiệp ước 1864. Vua lại sai Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ tiếp y. Pari yêu cầu vua Tự Đức ra lệnh cho các tỉnh ở giáp ranh vùng Pháp chiếm không được ủng hộ quân phiến loạn (chỉ các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân - ND) và đòi triều đình trả chiếm phí theo qui định của Hiệp ước 1862.

Các đòi hỏi của Pháp được đưa ra đình nghị. Triều thần và tôn thất thiên về việc thi hành hiệp ước. Ngoài ra, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ xin thông báo cho nhân dân ba tỉnh miền Tây được biết. Nhà vua đồng ý, sau đó bảo Phan Thanh Giản và Trần Tiễn Thành: “Người Pháp muốn ta bỏ hẳn dân ta. Biết rằng dân ta không cam tâm chịu vậy, nên ta đã nhiều lần sai người đi để bí mật khuyên họ dẹp yên. Vài kẻ quấy rối không chịu nghe lời khuyên bảo, hành động của chúng làm người Pháp nghi ngờ và nhiễu hại nhân dân. Mặt khác, người Pháp có thể vịn vào đó để gây sự với ta, số phận ba tỉnh kia trơ trọi sẽ rất nguy hiểm. Nếu ta chấm dứt mọi quan hệ với 3 tỉnh đã mất, dân sẽ dần dần dứt tình với ta; nhưng nếu ta không chấm dứt quan hệ, công việc sẽ không thu xếp được. Để đối phó với việc cấp bách nhất, không thể không đoạn tuyệt với ba tỉnh. Để nhân dân các tỉnh ấy không còn nổi dậy, chỉ có một cách là đoạn tuyệt. Chỉ bằng cách ấy ta mới giữ được dân để mong sau này có ngày ta giải phóng được cho dân” (19).

Nói xong, vua ra lệnh cho quan ba tỉnh miền Tây cấm những người tự xưng là quân khởi nghĩa không được vào đất mình. Các quan phủ, huyện trông thấy chúng phải bắt ngay vào giao lại nhà cầm quyền cấp tỉnh. Ai che giấu cũng bị bắt tội như quân nổi loạn.

Như vậy, ta thấy dù vua Tự Đức có mong muốn mãnh liệt là thu hồi ba tỉnh giàu có nhất vương quốc, ở đó lại có mồ mả tổ tiên của Thái hậu, song lúc bấy giờ, vua vẫn muốn thi hành đúng hiệp ước, để khỏi làm tình hình càng gay gắt thêm.

Có lúc, Tự Đức có ý định đề nghị đổi cho Pháp ba tỉnh miền Tây để lấy ba tỉnh miền Đông, hay thậm chí chỉ lấy Biên Hoà và Định Tường, để non sông được liền một dải.

Nhà vua hỏi ý kiến Đoàn Thọ và Trần Tiễn Thành; hai người can vua, nêu lý do là ba tỉnh miền Tây trù phú trong lúc ba tỉnh miền Đông mà vua muốn lấy lại nghèo hơn. Sau đó hai người đề nghị cử Phan Thanh Giản đi Vĩnh Long để tạo sự tin cậy cho nhà cầm quyền Pháp. Trước khi đi, Phan Thanh Giản cho nhà vua biết chính sách duy nhất mà ông sẽ theo đuổi là thi hành đúng hiệp ước. Vua Tự Đức bảo rằng vua cũng muốn giảng hoà để yên dân, nhưng đó không phải là lý do để thụ động khuất phục trước tình thế. “Ta không biết chuyện gì sẽ xảy ra trăm năm sau, song trong vòng mười năm tới, không thể như thế này được. Các khanh đều là bậc lão thành giàu kinh nghiệm, biết kinh quyền, sao lại cứ cam tâm chủ bại trong mọi sự như thế ? Phải nghĩ cách làm sao để tự cường”(20) . Đoàn Thọ và Trần Tiễn Thành trình bày với vua là lúc bấy giờ, tài lực còn mong manh, phải từng bước tổ chức lại để chờ cơ hội tốt hơn, thay vì lao vào phiêu lưu nguy hiểm. Nhưng Tự Đức bảo họ: “Nói thì dễ, làm rất khó, không thể biết bao giờ mới có cơ hội tốt hơn”. Phan Thanh Giản, Đoàn Thọ, Trần Tiễn Thành và Phan Huy Vịnh dâng sớ tâu rằng dù họ tha thiết muốn tuân ý nhà vua, song họ đành chịu tội bất lực.

Trong lúc đó, ở ba tỉnh miền Đông, các cuộc nổi dậy vẫn không chấm dứt, được nhân dân và quan lại ba tỉnh miền Tây công khai hay ngấm ngầm giúp đỡ.

Triều đình Huế không hoàn toàn đứng ngoài các hoạt động ấy. Mặc dù Phan Thanh Giản nhiều lần bảo đảm lòng thành tín của mình và của triều đình, người Pháp vẫn cho rằng để chấm dứt các vụ rối loạn, họ cần mở rộng sự thống trị của họ đến các tỉnh còn lại của Nam Kỳ.

Đô đốc Lagrandière muốn “tiến hành vận động chính thức triều đình Huế đề nghị giải quuyết bằng thương lượng để ký một thoả ước mới, đưa thêm vào Hiệp ước 1862 một số thay đổi nay đã trở thành cần thiết, không có không được”

Giám đốc Nội vụ P.Vial được cử đi Huế thực hiện nhiệm vụ ấy và ngày 14-10, tàu máy le Cosmos đưa ông ta đến Thuận An và ông được đưa đến Huế bằng ghe. Người ta bố trí ông nghỉ lại ở sứ quán. Nhưng nhà vua không tiếp Vial, mà giao cho Thương Bạc đại thần chuẩn bị phong thư gửi Đô đốc Lagrandière, yêu cầu đô đốc chờ đợi, đừng vội vã. Được vua hỏi ý kiến, đình thần đề nghị đổi ba tỉnh miền Tây lấy lại Biên Hoà, Định Tường, bỏ việc đặt lãnh sự ở Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng An và xoá nợ chiến phí. Cơ Mật viện đề nghị nếu Pháp dùng vũ lực chiếm ba tỉnh thì ta để mặc, không kháng cự vô ích, chờ nhân dân sáu tỉnh nổi dậy chống Pháp và “tuỳ cơ định liệu” (21).

Ngày 14-2-1867, Thống đốc Nam Kỳ lại cử một đại diện khác, đại úy hải quân Monet de la Marck ra đòi tiền chiến phí nộp trễ và lại đòi nhượng ba tỉnh miền Tây. Triều đình tiếp ông ta rất lạt lẽo. Các quan Thượng thư trả lời là họ không thể chấp nhận các đề nghị của chính phủ Pháp, bù lại, họ xin chuộc ba tỉnh miền Đông.

Phan Thanh Giản nhiều lần được giao nhiệm vụ đề nghị với Thống đốc Nam Kỳ về vấn đề chuộc ba tỉnh hoặc đổi ba tỉnh miền Tây lấy lại Biên Hoà. Sau đây là lời Tự Đức trong một bức thư gửi Phan Thanh Giản vào tháng 2 năm Tự Đức thứ 20 (1867), sau khi Monet de la Marck về Sài Gòn:   

Trẫm hằng ngày trông đợi ngươi thu hồi ba tỉnh để tỏ rõ dạ trung quân. Nếu ước nguyện được thành, dẫu ngươi có chết cũng yên lòng nhắm mắt, trẫm cũng mãn nguyện. Nếu không, trẫm sẽ phải cùng ngươi mang tội đến muôn đời không chuộc được, hồn(22) phách(23) sẽ không tan, trẫm và ngươi đều thành hồn ma bóng quế dật dờ. Phải quyết tâm làm tròn nghĩa vụ. Nói đến chuyện ấy, trẫm rất đau lòng. Trẫm viết từ thiên lý xa xôi mà tưởng như trông thấy ngươi trước mặt. Có thể nào ngươi vẫn chưa tin mà không chịu quyết lòng cư xử cho đúng đắn hay sao?...”(24).

Bốn tháng sau, Phan Thanh Giản tuân theo chỉ thị nhận được từ triều đình là không kháng cự vô ích khi Pháp tấn công, sau khi Pháp vào thành Vĩnh Long ngày 20-6-1867, ông đã tự vẫn để khỏi sống thừa sau sự kiện mà ông coi là nổi nhục của mình và để khỏi phụ lòng trông cậy của nhà vua.

Sau khi chiếm ba tỉnh miền Tây, Thống đốc Nam Kỳ lập tức báo cho Chính phủ Việt Nam chuyện vừa xảy ra. Ông Legrand de la Lyraie (25), thông ngôn của nhà cầm quyền được giao nhiệm vụ ấy.

“Các quan Thượng thư tỏ vẻ bất bình, ngạc nhiên và lo lắng. Họ viết cho Đô đốc là để bảo toàn danh dự của vương quốc Việt Nam, họ yêu cầu Pháp giao trả vũ khí còn trong ba tỉnh miền Tây và nhượng cho Việt Nam ba tỉnh Biên Hòa và một phần tỉnh Sài Gòn (sic, tức tỉnh Gia Định - ND) để bù lại vùng đất mới bị chiếm”(26).

Thế là nhà vua đành ra lệnh xét xử tội trạng của các quan có trách nhiệm trong việc mất Nam Kỳ, từ Nguyễn Tri Phương đến Phan Thanh Giản đã quá cố.

Vài tháng sau (tháng 12 năm Tự Đức thứ 20, tháng 1-1868, Tự Đức lại có một nỗ lực ngoại giao mới để cố gắng đạt được các yêu cầu trong bức thư cuối gởi Đô đốc Lagrandière. Trần Tiễn Thành được giao nhiệm vụ ấy. Trước khi đi, vua dặn ông: “Nhiệm vụ của ngươi không phải là toàn quyền. Ngươi không thể quyết định mọi việc. Phải ghi rõ mọi chi tiết của cuộc thương lượng, tâu về cho trẫm rõ”. Rồi để động viên, vua ban cho ông một bài ca chữ Hán do chính nhà vua làm.

Trần Tiễn Thành xin cho một số người đi theo, trong đó đặc biệt có bang biện huyện Thành Hoá là Nguyễn Văn Tường (chính người này về sau sẽ đồng lõa với Tôn Thất Thuyết, sai người ám sát ông) và cửu phẩm hành nhân tự Nguyễn Đức Hậu, một người Thiên chúa giáo rất năng động và thông minh.

Triều đình đã báo trước cho Đô đốc Lagrandière là họ sắp cử đến một vị sứ thần cấp bậc Thượng thư để thảo luận việc ký kết một hoà ước mới; đô đốc cũng được báo là “sau đó các sứ thần sẽ sang Paris, vì họ không được giao toàn quyền để ký kết dứt khoát bản thoả ước sẽ được thoả thuận ở Sài Gòn sau cuộc đàm phán sơ bộ”(27).

Trần Tiễn Thành và đoàn tùy tùng đến Vũng Tàu bằng một chiếc tàu máy Việt Nam, ngày 25-1, nhằm ngày Tết.

“Đô đốc Lagrandière tiếp các sứ thần một cách lịch sự. Họ có vẻ xúc động vì sự ân cần của người Pháp đối với họ, song họ luôn luôn có thái độ gượng gạo, lời lẽ thì cay đắng cho thấy họ đang có nhiều điều bận tâm phiền muộn”(27). Trong buổi đàm phán thứ nhất, Trần Tiễn Thành tố cáo việc Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây, nhưng Lagrandière trả lời một cách lạnh nhạt là việc chiếm đóng ấy đã trở nên cần thiết “do sự thiếu thành tín của triều đình và sự yếu đuối của triều đình đối với các thuộc chức của mình, là những người đã vi phạm Hiệp ước ký kết với Pháp”(27).

Từ buổi thứ hai, Đô đốc Lagrandière quyết định chấp nhận cho vài viên chức và nhân sĩ Việt Nam trong số những người trung thành và đáng trọng vọng nhất được dự cuộc đàm phán. Ông “giao cho họ ghi nhận xét của mình về cuộc thảo luận trên những phiếu riêng”(28). Để có khái niệm về chiều hướng các cuộc thảo luận ấy, ta chỉ cần trích một số đoạn trong báo cáo của nho sĩ Tôn Thọ Tường, là người đã tham dự.

      THƯƠNG THUYẾT GIỮA ĐÔ ĐỐC DE LAGRADIÈRE

VÀ HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ TRẦN TIỄN THÀNH

Buổi thứ nhất (Chủ nhật 26-1-1868)

Báo cáo và nhận xét của ông phủ Ba Tường.

“Trước hết, theo tôi, Đô đốc đã nói về những lý do khiến ông phải quyết định chiếm lấy ba tỉnh miền Tây, dù là ngoài ý muốn. Ông kể những bất tiện do việc chia cắt 6 tỉnh trước đây, về bọn phản loạn thuộc quân đội của Pucambo từ ba tỉnh (miền Tây) tràn sang với số lượng lớn. An Giang là nơi ẩn náu của Thiên Hộ Dương. Sau khi kể lể chi tiết những điều nhà cầm quyền Pháp trách móc và tố cáo quan lại Việt Nam (những điều này được ghi lại gần như nguyên văn trong bài đăng trên Gia Định báo(29) gần đây), Đô đốc nói thêm là không phải ông trách quan lại ở ba tỉnh đã trực tiếp và tích cực tham gia vào các hoạt động phiến loạn đã gây ra trong ba tỉnh cho đến ngày bị chiếm, tham gia bằng cách kích động hay kêu gọi; thật vậy, vì không có đủ chứng cớ vật chất nên khó xác định mức độ đồng lõa của các quan trong tất cả các cuộc nổi loạn ấy. Tuy nhiên, chắc chắn là Đô đốc có thể trách các quan đã dung dưỡng hay ít nhất, chưa bao giờ trấn áp với sự kiên quyết cần thiết những mưu đồ phiến loạn từng được tổ chức trên đất của họ chống lại quyền lực của Pháp.

Do đó, Đô đốc tuyên bố là trước tình hình như vậy, dù miễn cưỡng phải chọn giải pháp này, ông đã buộc phải quyết định xoá bỏ tận gốc nguyên nhân gây ra chiến tranh và rối loạn, ông phải chiếm ba tỉnh miền Tây để bảo đảm hoà bình và an ninh, mà không có cách nào khác để đạt được.

Khi Đô đốc nói về những lời thú nhận của một viên Lãnh binh An Giang theo Pucambo, quan Hiệp biện hỏi lại viên Lãnh binh ấy tên gì. Đô đốc trả lời y tên Sâm, quan Hiệp biện cho rằng không thể tin một kẻ tồi tệ mà triều đình Việt Nam từng kết án về tội mưu gây rối.

Quan Hiệp biện trả lời:

“Rằng các quan Việt Nam đã đoán trước từ rất lâu, trước khi sự việc xảy ra lâu lắm, là sẽ không thể giữ được ba tỉnh miền Tây, chỉ còn giữ được một thời gian rất ngắn nữa mà thôi, bởi vì Đô đốc muốn bảo hộ xứ Campuchia mà lâu nay ông vẫn đặt nhiều hy vọng, đã thế thì sớm muộn gì ông cũng thấy việc chiếm ba tỉnh là thuận tiện và rất có lợi, để dễ quan hệ với Campuchia và kiểm soát vương quốc này được dễ dàng hơn. Tuy nhiên, triều đình Việt Nam được yên tâm phần nào vì lời lẽ của Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, hiệp ước này cho phép Việt Nam trông cậy vào sự bảo vệ của Pháp để giữ gìn ba tỉnh chống lại ngoại xâm bất cứ từ đâu”.

Quan Hiệp biện nói thêm:

“Dù sao đi nữa, việc Đô đốc chiếm ba tỉnh là sự đã rồi; các quan Việt Nam không hề có chút oán hận nào đối với một sự việc mà họ đã đoán biết trước từ lâu; tuy vậy sự thật vẫn là sự kiện ấy là tổn thất rất lớn cho Việt Nam, vì vậy các quan nghĩ rằng Đô đốc, vì tôn trọng công bằng và lẽ phải, chắc hẳn sẽ tìm được cách đền bù xứng đáng cho triều đình Việt Nam để bù lại tổn thất mà Việt Nam vừa phải chịu”.

Từ lời lẽ của vị đại thần Việt Nam, tôi (Tôn Thọ Tường) cho rằng vị ấy đã suy nghĩ về thiệt thòi của nước ông và về sự đền bù mà người ta có thể đề nghị. Nếu Đô đốc giao cho ai đó cùng với các quan thương thảo về sự đền bù khả dĩ chấp nhận được, và làm rõ thực chất tình hình cho các quan hiểu, tôi cho rằng không phải không có thể tìm được một giải pháp khá nhanh chóng, khiến vị đại thần ấy chịu thương lượng với chính quyền Pháp ở ngay tại đây (mà khỏi đi Paris - ND). Theo tôi, sự đền bù mà vị đại thần ấy nghĩ đến lúc này không có gì khác hơn là Pháp trả lại tỉnh Biên Hoà cho Việt Nam. Dù vị ấy chưa nói hết ý của mình, song tôi gần như chắc chắn là chính đó là điều quan Hiệp biện muốn. Tôi tin như vậy vì, dựa vào một câu trả lời của ông. Thật vậy, ta nên nhớ lại, lúc Đô đốc nói về 2 triệu tiền bồi thường mà Đô đốc đề nghị trong dự thảo hoà ước mới, quan Hiệp biện đã trả lời:

“Số tiền nào đó thì xài cũng hết, chẳng còn lại gì, trong khi hoa lợi đất đai thì còn mãi vô cùng” (cái tiền bạc hữu hạn, còn thổ địa thì lại vô cùng)  (30). Quan Hiệp biện đã nói câu này khá nhanh, trong câu có nhiều từ Hán Việt, nên có thể là ít người chú ý.

Từ sự kiện trên, tôi kết luận là vị đại thần muốn yêu cầu Pháp trả lại Biên Hoà và nếu nhà cầm quyền Pháp không thể chấp nhận yêu cầu kiểu đó, thì nên xem xét có thể đề nghị cái gì thay vào đó, để đền bù cho triều đình Huế.

Khi Đô đốc trách về sự che chở mà quan lại Việt Nam ở ba tỉnh có lẽ đã dành cho bọn gây rối và bọn phiến loạn hình như đã xuất phát từ đất của họ để gieo rối loạn trong các tỉnh của Pháp, quan Hiệp biện trả lời rằng từ trước khi người Pháp đến, vùng đất ngày nay ta đang chiếm đóng cũng đầy dẫy bọn cướp trên sông rạch, bọn trộm cắp có vũ trang và bọn phiến loạn, dù các quan Việt Nam nghiêm khắc đến mức chém đầu tất cả những bọn bị quan quân bắt được, cũng chưa bao giờ chấm dứt được tình trạng rối loạn và cướp bóc. Quan Hiệp biện nói rằng Quản Định, Thiên Hộ Dương và tất cả những người cầm đầu quân phiến loạn hay quân cướp chỉ là theo ý riêng của họ; không bao giờ các quan xúi giục hay cho phép họ.

Về điểm này, tôi (Tôn Thọ Tường) cho rằng mặc dù họ luôn luôn biện minh, song ít nhất là trong thâm tâm, các quan lại Việt Nam hết sức hài lòng về các vụ rối loạn, mất an ninh, vì họ hy vọng là người Pháp sớm hay muộn sẽ nản lòng và chấp nhận cho triều đình Việt Nam chuộc đất.

Về nạn giặc Tàu ô ở duyên hải, các quan Việt Nam tuyên bố với Đô đốc là chính quyền Việt Nam không cần can thiệp của nước ngoài trong những chuyện đó và hoàn toàn đủ sức tự giải quyết, lực lượng thủy quân của họ khá đầy đủ nên họ có thể đem chiến thuyền Việt Nam đi trấn áp thuyền Tàu ô và dẹp yên vùng duyên hải. Cùng lắm, họ sẽ chỉ báo cho Đô đốc khi có tình trạng khẩn cấp và lúc đó, Đô đốc sẽ cho tàu đi săn đuổi bọn cướp biển ở những địa điểm mà người ta báo cho ông.

Đô đốc cãi là các tàu Pháp sẽ luôn luôn đến nơi quá muộn và sự cứu trợ sẽ không còn kịp thời nếu như mỗi lúc, phải chờ các quan Việt Nam yêu cầu mới đi cứu viện.

Về điều này, chắc không cần phải nhắc là luận điệu của các quan Việt Nam chỉ đơn giản có nghĩa là: Họ không muốn chấp nhận coi việc tàu Pháp giúp tiễu phỉ là sự đền bù cho tổn thất mà Pháp đã gây ra cho Việt Nam khi chiếm ba tỉnh miền Tây.

Tuy nhiên sự ngoan cố của họ trong vấn đề này xuất phát từ chỗ họ không hiểu biết chính xác sự tốn kém của việc đưa tàu máy đi hoạt động tiễu phỉ. Họ cũng chưa hiểu và không chịu tin rằng thuyền Tàu ô của bọn cướp biển người Thanh ngày nay được trang bị tốt hơn xưa gấp bội và có lực lượng có thể là mạnh hơn lực lượng của Việt Nam.

Theo tôi, nên nêu rõ trước mắt họ bản kế toán rõ ràng, tỉ mỉ về tiền than và các chi phí khác cần thiết cho việc vận hành một tàu máy hơi nước Pháp; cuối cùng, nếu nhà cầm quyền Pháp có thể cam kết sẽ trấn áp bọn cướp biển và từ đây về sau sẽ bồi thường thiệt hại (do cướp biển bày ra) cho tất cả các chủ thuyền buôn ở các tỉnh của Việt Nam, thì chắc hẳn các quan Việt Nam sẽ không có lý do chính đáng nào để từ chối, không chấp nhận coi sự tham gia của hải quân Pháp trong công tác tiễu phỉ là sự đền bù (cho việc mất ba tỉnh).

Trong buổi thứ hai (29-1-1868), Trần Tiễn Thành xin Lagrandière cho viên phó sứ của mình, quan Phủ doãn Thừa Thiên, “được phép phát biểu trước Đô đốc và quan Hiệp biện, để nhắc các điều khoản trong hiệp ước cũ và mới hay những điểm trong thương lượng mà quan Hiệp biện quên, không nhớ hết” (31).

Người ta thảo luận về từng điều khoản của hiệp ước mới và đưa ra những ý kiến phản bác cả về hình thức và nội dung văn kiện ấy.

Sau khi yêu cầu Đô đốc chịu bình tâm nghe ông nói cho đến cùng mà khoan nổi giận, quan Hiệp biện nói rất lâu về tổn thất của việc mất ba tỉnh đối với Việt Nam.

“Ngày nay, triều đình Huế xin khẩn cầu Đô đốc, thật vậy, chúng tôi biết rằng nước Pháp là một quốc gia mạnh mẽ, hùng cường; chúng tôi hiểu rằng mọi sự đề kháng của chúng tôi đều vô ích, chúng tôi chỉ khẩn khoản yêu cầu Đô đốc cho chúng tôi một sự đền bù đối với tổn thất mà người ta vừa gây ra cho chúng tôi, để chúng tôi khỏi bị các nước chê cười, để người ta khỏi nói rằng, sau khi ký Hiệp ước 1862, chúng tôi đã bị cướp mất ba tỉnh mà không được đền bù tí gì”.

Sau đó, ông nói dài dòng, so sánh nhân dân Nam Kỳ với đàn con mà đức vua chính là người cha. Nếu các con phải lìa cha, đi sống với người nước ngoài, nay trốn về nhà cha để tránh sự trừng phạt, lẽ nào người cha lại bắt chúng giao nộp cho người lạ? Làm như vậy thật quá đau lòng và trái với lòng từ ái của một người cha. Vậy người cha sẽ che chở con mình và tìm cách tránh cho chúng khỏi bị trừng phạt chăng? Lúc đó, ông lại mất lòng cảm mến của những người ngoài mà con ông đã xúc phạm. Thật là nghịch cảnh đau lòng.

“Ấy thế mà đó lại là tình cảnh của nhân dân Việt Nam là con của nhà vua, lại đang sống dưới quyền cai trị của người Pháp”.

“Nếu người Việt Nam sống trong các tỉnh của Pháp không chịu phục tùng luật lệ của Pháp vì họ không quen với luật lệ ấy, nổi loạn chống lại Pháp và tìm nơi ẩn náu trên lãnh thổ Việt Nam, nhà vua buộc phải giao nộp con dân của mình đã chạy đến mình tìm sự che chở hoặc phải làm người Pháp nổi giận. Vậy thì tốt hơn nên để quan lại Việt Nam quản lý các tỉnh ấy, sẽ tiện hơn cả cho nước Pháp và nước Việt Nam. Quan lại Việt Nam sẽ thu thuế theo mức Pháp qui định và sẽ giao nộp hết cho Pháp, không khấu trừ lại gì cả. Dân chúng sẽ sống dưới quyền cai trị của quan lại mà họ từng quen thuộc, người Pháp chỉ việc đưa ra những chỉ thị cho các quan, và sẽ chỉ có một số ít quan lại mà thôi, như thế sẽ xoá bỏ mọi mối ngờ vực, bất hoà. Sáu tỉnh cũng sẽ mang lại cho người Pháp thu nhập y như hiện nay và nhà vua Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục là cha của thần dân mình. Vua sẽ không còn phải đau lòng vì nghịch cảnh trong quan hệ với con dân. Và cuối cùng, vua sẽ được trả lại đất đai nơi có mồ mả tổ tiên, hiện nằm trong các tỉnh Phước Tuy (tức tỉnh Biên Hoà) và Gia Định, và vua sẽ rất lấy làm vui sướng về điều này...,v.v...”

Đô đốc cố gắng làm cho quan Hiệp biện hiểu là không thể chấp nhận đề nghị như vậy.

Về phần mộ của Hoàng tộc, Đô đốc đã cho phép xây dựng ở đó tất cả những đền miếu mà người ta muốn xây...

Quan Hiệp biện từ bỏ yêu cầu trên và lại van nài Đô đốc ít nhất hãy trả lại tỉnh Biên Hoà cho Việt Nam. Nếu Pháp trả lại Biên Hoà, thì vùng đất của Pháp sẽ được ngăn cách với lãnh thổ còn lại của Việt Nam bằng một con sông rộng, hình thành ranh giới tự nhiên. Quân phiến loạn sẽ không dễ dàng vượt qua con sông rộng ấy để sang ẩn náu bên đất Việt Nam như chúng dễ dàng vượt ranh giới Phước Tuy để qua Bình Thuận. Và cuối cùng, để tỉnh Biên Hoà thuộc lãnh thổ Việt Nam cũng rất hợp lý vì tỉnh này, cũng như tỉnh Bình Thuận trước đây thuộc về đất Việt Nam, trong lúc Gia Định cũng như phần còn lại của Nam Kỳ đều thuộc về Campuchia. Nếu Biên Hoà ở trong tay người Pháp, chắc hẳn Bình Thuận một ngày nào đó sẽ không tránh khỏi số phận của Vĩnh Long.

Ở đây, Đô đốc cắt ngang cuộc tranh biện dài dòng đó bằng cách tuyên bố là ranh giới tự nhiên của các tỉnh của Pháp, hiện nay cũng như trong tương lai, là ranh giới tỉnh Bình Thuận. Yêu cầu thay đổi địa giới là hoàn toàn vô ích. Đó là vấn đề đã giải quyết dứt khoát. Địa hình của Nam Kỳ chứng tỏ rõ ràng địa giới ấy là cách duy nhất có hiệu quả để đảm bảo hoà bình và an ninh trong vùng của ta, ngược lại, nếu thay đổi bất cứ điều gì trong địa giới mà ta đã qui định, thì vùng của ta sẽ có nguy cơ lại bị quấy rối như trước khi ta chiếm ba tỉnh. Mặt khác, triều đình Huế có thể yên tâm về việc người Pháp có thể mở rộng hay chiếm thêm đất đai làm ảnh hưởng đến ranh giới tỉnh Bình Thuận vào một lúc nào đó. Không có gì phải e ngại về mặt này. Nước Pháp sẽ chỉ giữ vùng thuộc Pháp hiện nay, nhưng sẽ không bao giờ chấp nhận thay đổi gì ở đó nữa” (32).

*

*       *

Trần Tiễn Thành có vẻ không có ảo tưởng gì về kết quả thương lượng. Tuy nhiên, ông đã thực hiện nhiệm vụ được giao một cách đàng hoàng.

Thấy rõ là ông đã có những cố gắng tuyệt vọng để mong đạt được sự giảm nhẹ nào đó, hoặc sự đền bù nhất định cho việc Pháp chiếm ba tỉnh.

Rốt cuộc, Đô đốc De Lagrandière tuyên bố với Trần Tiễn Thành là ông ta chỉ có thể hứa giảm một số tiền chiến phí lớn. Với lời hứa ấy, các sứ thần của triều đình lên tàu về Huế vào những ngày đầu tháng 2.

Trần Tiễn Thành báo cáo sự vụ cho nhà vua và tự nhận tội đã không đạt được kết quả tốt nào như nhà vua trông đợi. Và theo tập tục trong nước, ông bị giáng cấp về nguyên tắc, vì tội bất lực và kém hăng hái - bất cứ viên chức nào được giao nhiệm vụ và cho dù là nhiệm vụ mà sức người không thể làm được, đều đương nhiên bị gán cho các tội ấy khi họ không hoàn thành tốt - Trần Tiễn Thành bị giáng xuống Tham tri, tuy vẫn giữ nguyên chức Thượng thư bộ Công và các chức vụ kiêm nhiệm khác.

Sau cuộc thương thuyết của Trần Tiễn Thành, Thượng thư bộ Hộ của triều đình Huế (33) viết thư cho Lagrandière biết là triều đình Huế không hài lòng về những khoản nhượng bộ của Đô đốc. Ông đòi xoá hết chiến phí mà Hiệp ước 1862 quy định và đòi trả lại một dải đất (có lẽ là Bình Thuận - ĐDA). Ông cũng báo là triều đình có ý định cử sứ bộ sang Pháp, hoặc đi từ Sài Gòn, hoặc đi từ Hồng Kông.

Tháng 4-1868, Đô đốc Lagrandière sắp quay về Pháp, ông đề nghị triều đình Huế cho sứ bộ dự kiến sang Pháp ấy đi cùng chuyến tàu với ông. Thượng thư bộ Lễ Nguyễn Văn Phong được cử làm chánh sứ. Nhưng Nguyễn Văn Tường, đáng lẽ cũng tham gia sứ bộ, dâng tập tâu chứng minh việc đi sứ ấy là vô ích. Cho nên vua bỏ việc cử sứ bộ đi, chỉ sai viết thư cho chính phủ Pháp để trình bày những yêu sách của mình (34).

Nhiều tháng trôi qua. Triều đình Huế đã tỏ thái độ hoà hoãn và giữ quan hệ tốt với thuộc địa của Pháp (chỉ nhà cầm quyền Pháp ở Nam Kỳ - ND), tuy nhiên vẫn không chịu coi Lục tỉnh là đã mất hẳn.

Nghe được tin có sự căng thẳng trong quan hệ ngoại giao giữa Pháp và Đức, nhà vua thậm chí còn có ý định cử người sang Hồng Kông và Singapour để tìm hiểu tình hình châu Âu và viết bài trong các báo ở đó để tố cáo trước công luận thế giới về hành động của Pháp ở Nam Kỳ và nhấn mạnh là nhân dân hết sức bất bình đối với người Pháp.

Tháng giêng năm Tự Đức thứ 23 (tháng 2-1870), khi một địa sứ Tây Ban Nha đến Huế, Nguyễn Tri Phương và Trần Tiễn Thành tìm cách dò ý ông ta để xem Tây Ban Nha có thể giúp ta khôi phục Nam Kỳ không, sau đó tâu với vua là không thể trông cậy gì ở nước ấy.

Thế rồi chiến tranh bùng bổ ở Pháp. Được tin cuộc xung đột nổ ra, Tự Đức sai người trả lời thư báo tin của Thống đốc Nam Kỳ là nhà vua cầu chúc quân đội Pháp thắng trận.

Bọn thổ phỉ và Thanh phỉ gây nhiều rối loạn nghiêm trọng ở Bắc Kỳ hơn một năm qua thu hút mọi sự quan tâm của nhà vua khiến vua không thể nghĩ đến việc lợi dụng chiến tranh để khiến Nam Kỳ nổi dậy.

Nhưng đến cuối tháng 11, trước khi Việt Nam hay tin chính phủ Napoléon III sụp đổ, Thương bạc đại thần thay mặt vua viết thư cho Thống đốc ở Sài Gòn rằng được tin Paris bị vây và nước Pháp đang trong tình trạng khốn khổ, Hoàng đế Tự Đức một lần nữa bày tỏ nguyện vọng tha thiết mong nước Pháp vượt qua được cơn thử thách. Thư nói thêm:

“Nhà vua cũng nghĩ rằng Đô đốc(35)  hẳn đang nóng lòng đem quân dưới quyền mình về bảo vệ tổ quốc; vì thế, nhà vua yêu cầu Đô đốc thoả thuận với nhà vua để trả lại sáu tỉnh, ngõ hầu sau này không có sự kiện gì làm tổn thương quan hệ hoà hiếu giữa hai nước”(36).

Đô đốc De Cornulier trả lời vua Tự Đức là ông “đóng quân vững chắc ở thuộc địa, ông có đủ lực lượng để bảo vệ nó và ông thường xuyên được tiếp tế từ chính quốc”(36). Ông từ chối không chịu thảo luận các đề nghị của chính phủ Việt Nam, bởi ông không còn là đại sứ toàn quyền của nước Pháp, vì lý do chính phủ bên Pháp đã thay đổi.

*

*       *

Sau khi chiếm trọn Nam Kỳ, nhà cầm quyền Sài Gòn đã nghĩ đến việc chiếm Bắc Kỳ, để tìm đường xâm nhập Hoa Nam và đồng thời ép triều đình Huế ký hiệp ước mới. Năm 1872, Đô đốc Dupré đề nghị với vua Tự Đức cho ông giúp tiễu phỉ ở vịnh Bắc Kỳ. Thiếu tá Senez được cử ra thám sát sông Hồng. Ông cho rằng bằng cách ngấm ngầm ủng hộ cuộc nổi dậy của những người hoài Lê ở Bắc Kỳ, có thể buộc Tự Đức phải thoả hiệp. Quân của Francis Garnier chiếm nhiều tỉnh thành trong châu thổ. Triều đình Huế phải cử sứ bộ vào Sài Gòn thương thuyết một hiệp ước nhằm sửa đổi Hiệp ước 1862 và ngày 15-3-1874, hiệp ước ấy được ký kết giữa một bên là Đô đốc Dupré và bên kia là các sứ thần Việt Nam: Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường.

Việt Nam cam kết theo chính sách ngoại giao của Pháp ở sáu tỉnh Nam Kỳ, cho đạo Thiên chúa được tự do hành đạo ở Việt Nam, khai thương sông Hồng và các cửa biển Qui Nhơn, Hải Phòng, Hà Nội, công nhận việc bổ nhiệm lãnh sự Pháp ở mỗi cửa biển ấy và một Trú sứ Pháp ở Kinh đô. Về phía mình, Pháp thừa nhận chủ quyền và độc lập của Việt Nam đối với bất cứ cường quốc bên ngoài nào khác và cam kết giúp đỡ Việt Nam bảo đảm an ninh trong nước và trong quan hệ đối ngoại mà Việt Nam không phải trả chi phí nào.

Chúng tôi không nói thêm về những gì xảy ra sau đó vì điều ấy vượt ra ngoài khuôn khổ bài nghiên cứu này.

Chỉ xin nói là ở triều đình có hai xu hướng tư tưởng đối lập nhau: “một bên, Hoàng Thái hậu là người luôn luôn có ảnh hưởng lớn đối với con bà là Tự Đức, khuyên nên hoà hiếu với Pháp; phía bên kia, các nho sĩ đòi kháng chiến. Nhà vua không dám quyết định và để làm vừa lòng cả đôi bên, vua vừa thương thuyết ở Sài Gòn vừa thương thuyết ở Bắc Kinh. Đối với Thống đốc (Nam Kỳ) vua tỏ thiện chí hoà bình và sự tuân phục, đối với triều đình (Trung Hoa), vua nhắc thân phận chư hầu của mình” (37).

Lúc bấy giờ, để chấm dứt mọi thủ thuật của triều đình Bắc Kinh và triều đình Huế, Le Myre de Vilers, Thống đốc Nam Kỳ cử ra Bắc Kỳ một đoàn quân dưới quyền chỉ huy của Henri Rivière, để bảo vệ kiều dân Pháp và giáo dân. Thành Hà Nội bị chiếm tháng 4-1882 và Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết vì không hoàn thành nhiệm vụ (bảo vệ thành). Triều đình chuẩn bị kháng chiến. Một thành mới được xây ở ranh giới Bình Thuận, người ta huy động sưu dịch để sửa các tuyến đường quân sự. Người ta còn nghĩ đến việc sửa chữa số súng trường của Pháp tặng năm 1874.

Triều đình nhờ sự giúp đỡ của quân Cờ Đen, song vẫn muốn có sự can thiệp của Trung Quốc. Một sứ bộ được cử sang Bắc Kinh gồm Phạm Duật Tuấn và Nguyễn Thuật, để xin thương thuyết với quan đầu triều của Trung Quốc là Lý Hồng Chương.

Sứ bộ chưa kịp trở về đến Huế thì vua Tự Đức băng hà. Một thời gian sau, hạm đội của Đô đốc Courbet bắn phá cửa Thuận An.

Vua Hiệp Hoà cử Trần Tiễn Thành đến nhà thờ Kim Long gặp giám mục Gaspar, xin giám mục can thiệp với Đô đốc Courbet để xin đình chiến. Đây có thể nói là hoạt động ngoại giao cuối cùng của ông bởi dù ông là Đệ nhất Phụ chính đại thần, Trần Tiễn Thành vẫn bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lấn lướt, vài tháng sau, hai người này sẽ sai người giết ông.

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123