Chương 3: Công vụ - Hoạt động ở bộ binh, công tác quốc phòng

 

Trong chương trước, ta đã thấy là Trần Tiễn Thành bắt đầu tham gia công tác quân sự với việc đàn áp quân Thượng nổi dậy ở Quảng Ngãi, năm Tự Đức thứ 8 (1855).

Do đã chứng tỏ tài tổ chức trong cuộc hành quân ấy, năm sau ông được thăng thự hữu Tham tri bộ Binh. Chính từ lúc ấy, ông góp phần tích cực vào việc tổ chức quốc phòng. Sau khi tàu Le Catinat bắn phá Đà Nẵng, bộ Binh ra lệnh cho nhà cầm quyền tỉnh Quảng Nam tăng cường phòng thủ duyên hải. Bộ Binh cũng lo bổ khuyết một số thiếu sót của quân đội, trong đó nghiêm trọng nhất là nạn đào ngũ vì các nguyên nhân sau:

1. Trong việc tuyển quân, chức việc hàng tổng, xã ưu đãi người giàu và lạm bổ dân nghèo;

2. Quan lại ở tỉnh và các địa phương chỉ tiếp nhận mà không kiểm tra số dân đinh do hàng tổng, xã cử lên;

3. Các viên chức tuyển quân trả tự do cho những ai cho họ tiền hoặc cho phép họ cáo ốm về quê;

4. Binh lính uống rượu, đánh bài, bê tha truỵ lạc; chẳng những quan binh không trừng phạt họ mà quan binh cấp thấp còn khuyến khích xu hướng ăn chơi hư hỏng của họ;

5. Các võ quan nhận hối lộ và vì vậy miễn dịch cho người này, và không khỏi lạm bổ người kia;

6. Trong công tác xây dựng các công trình phòng thủ, vật liệu được mua với giá rất cao, cấp dưới lợi dụng để tha hồ trục lợi; dù tiền mua vật liệu xuất từ công quỹ, họ vẫn bắt binh lính đóng góp; võ quan và thuộc viên bộ Binh nhận hối lộ để miễn dịch; tệ tham ô lan tràn đầy rẫy (5).

Tháng 2 năm Tự Đức thứ 12 (1859), Trần Tiễn Thành được đặc cách giao cùng viên thự Thống chế Vũ lâm dinh Hữu Dực lo xây dựng đồn luỹ phòng thủ Thuận An. Từ đây, ông tập trung nổ lực bảo vệ vùng duyên hải Kinh sư.

Cùng viên đồng sự ở bộ Binh là Nguyễn Như Thăng, ban đầu ông đề nghị thiết lập hệ thống kiểm soát và báo động dọc theo duyên hải, kể từ lạch (la passe) Tư Hiền ở phía nam đến lạch Việt An ở Quảng Trị; đặt 15 tháp canh khác trong 15 làng từ Đồng Dương đến Hoà Duân và 7 tháp canh khác trong 7 làng từ Thái Dương hạ đến Lãnh Thủy; ở mỗi tháp canh đặt một giá gỗ (chevalet) để đốt lửa; giao cho dân các làng trên canh giữ các tháp ấy; ban ngày, khi thấy tàu Tây đi qua gần bờ biển sẽ vẫy cờ đỏ để báo hiệu; ban đêm thì quơ đuốc, đốt lửa trên các giá gỗ để báo tin có thuyền nhỏ của Tây cập bến.

Ở hai bên lạch (đây là lạch cũ mang tên Cửa Eo bị cát bồi bởi đợt sóng thần ngày 15-10-1897 và hoàn toàn bị lấp sau đợt sóng thần ngày 11-9-1904), cửa Thuận An đã được bảo vệ bằng đồn phía bắc, gọi là Trấn Hải đài, thuộc làng Thái Dương hạ và đồn phía nam gọi là Hà Nhuận, nằm tại làng Trung Hà tức Eo. Dòng sông từ cửa biển đến Kinh sư được phòng thủ bằng một loạt đồn nhỏ hơn, như đồn Cồn Sơn trên cái cồn cùng tên, đồn Hạp Châu trên một dải cát đối diện lạch, người Tây phương thường gọi là đồn Cây Dừa, đồn Qui Lai, đồn Thủy Tú nằm trên đất làng cùng tên và cuối cùng là Đại Đồn ở trên cồn Triều Sơn. Hệ thống đồn bảo này lúc bấy giờ tỏ ra không đủ sức chống đỡ.

Trần Tiễn Thành và viên đồng sự ở bộ Binh là Nguyễn Như Thăng tăng cường phòng thủ cửa Thuận bằng ba đồn nữa: đồn Lộ Châu, Hy Du và Hải Trình

Lộ Châu là “một đồn hình vuông, có hào lũy và ụ pháo bằng đất”,(6) nằm tại làng Thuận Hoà ở bên tả ngạn. Nó khống chế cửa sông chỗ đổ ra phá (Thuận An).

Đồn Hy Du đặt ở làng cùng tên (nay là làng Tân Mỹ), cũng có hình chữ nhật, chiều đông tây dài 35m, bắc nam dài 25m.

Đồn Hải Trình nằm bên hữu ngạn, trên đất làng cùng tên, hình chữ nhật nhỏ, chiều dài 36m theo hướng đông tây, chiều rộng 27m theo hướng bắc nam.

“Ngược về Huế, trước khi xuôi về tây bắc, giữa làng Qui Lai và Thuận Hoà, sông (Hương) rất rộng và nông, ghe lớn đi lại phải biết rất rõ ràng dòng lạch. Các quan có lý khi cho rằng các pháo hạm sẽ buộc phải dò đường khi vượt quãng sông này, và do đó sẽ phải giảm tốc độ. Vì thế, họ thấy cần tăng cường phòng thủ quãng sông này bằng một cụm hào lũy được thiết kế tốt”. Như thế Trần Tiễn Thành và viên đồng sự của ông đã cho xây đắp giữa làng Hy Du và làng Hải Trình hai chiến lũy ở hai bên bờ sông, mỗi chiến lũy dài 22m (8 trượng), cao 2,8m (7 thước), dày 6m (1 trượng 5 thước) ở chân lũy, có 5 lỗ châu mai hướng về lòng sông.

Ở làng Thuận Hòa, ở chỗ gọi là xứ Cổ Cò, họ cho đắp một chiến lũy hình bán nguyệt dài 40m (10 trượng), cao 3,5m (8 thước), dày 4m (1 trượng), có 7 lỗ châu mai, phân nửa hướng về lòng sông, phân nửa hướng về một chỗ gọi là Cửa Lấp, thuộc làng Thai Dương thượng.

Sau đó, “họ đắp thêm một chiến lũy hình bán nguyệt, quay về hướng đông, ở xứ Bàu Hà, kéo dài 90m với bề dày 9m và một lũy thẳng nằm phía sau đó một chút, đối diện với hướng đông, có chiều dài 295m và bề dày 9m, dùng bảo vệ đường tiếp cận đồn Qui Lai, rồi một lũy quan trọng khác ở làng Thuận Hoà, quay mặt ra sông, phía sau đồn cùng tên.

Hệ thống đồn lũy còn được tăng cường bằng những đập chắn bảo vệ dòng sông ở những điểm hiểm yếu nhất. Trần Tiễn Thành và viên đồng sự còn cho chuẩn bị sẵn ở hai bên bờ sông, đối diện các đồn Hy Du và Hải Trình những cọc gỗ gọi là mộc mã, đầu có gắn móc sắt, khi có biến lính trong các đồn trên sẽ ném các cọc gỗ ra giữa lòng sông, sao cho đầu cọc chỉ ở dưới mực nước sông 1 thước (0,40m). Sau đó, họ cho đóng những tuyến cọc tre giữa các đồn Qui Lai và Thuận Hoà và ở xứ Cổ Cò, các tuyến cọc này hình thành những đập chắn sông để bảo vệ lòng sông, chống các pháo hạm địch, chỉ thừa ở giữa một lối đi rộng 2,5m dành cho ghe thuyền của quân triều đình.

Ngoài ra, họ còn chuẩn bị ở hai bên bờ, trước mặt các làng Qui Lai và Thuận Hoà, những bè tre (mỗi bè kết 100 nan tre) dành để đẩy ra giữa sông khi có báo động và bố trí hai bên bờ sông, cũng trong vùng ấy, những đống đá dùng để lấp sông khi cần.

Sau đó, họ xin tăng cường ba đồn ở Qui Lai và Thuận Hoà (đồn và lũy) bằng cách nâng lực lượng ở đó lên một thân cơ suất đội, 3 đội trưởng, 43 lính và pháo thủ và cử một quản vệ để chỉ huy cả ba đồn.

Họ đề nghị dùng chấn địa lôi chống các tàu ngoại quốc có bọc sắt và có gắn những tấm sắt bảo vệ tàu, tăng cường trang bị cửa Thuận An với ba khẩu pháo đồng loại phá địch trung tướng quân, trong đó 1 khẩu cỡ 4 tấc 4 phân (176mm), dài 1 thước 5 tấc 9 phân (0,636m) và 2 khẩu cỡ 4 tấc 4 phân, dài 1 thước 5 tấc 8 phân (0,592m); 2 súng đồng gọi là xung tiêu cỡ 3 tấc 5 phân (140mm), dài 1 thước 4 tấc 3 phân (0,482m); tăng cường trang bị các chiến luỹ mới ở Hạp Châu, Cổ Cò, Hy Du và Hải Trình với 15 khẩu pháo bằng đồng loại tả hữu tướng quân xưởng vũ uy thắng uy cỡ 2 tấc 2 phân (88mm), dài 3 thước (1,20m), 7 súng đồng gọi là oanh sơn, trong đó 4 khẩu cỡ 2 tấc 6 phân (104mm), dài 4 thước 7 tấc 5phân (1,90m), 2 khẩu cỡ 2 tấc 4 phân (96mm), dài 3 thước 8 tấc 8 phân (1,552m), 1 khẩu cỡ 2 tấc 5 phân (100mm) dài 3 thước 9 tấc 7 phân (1,588m), 5 khẩu súng đồng loại bình ngụy đại tướng quân cỡ 2 tấc 6 phân (104mm), dài 3 thước 8 tấc 4 phân (1,536m).

Tất cả các dự án này được đệ trình nhà vua vào tháng 2 và tháng 3 năm Tự Đức thứ 13 (1860) và được thực hiện một phần.

Vào tháng 5, Trần Tiễn Thành trình lên vua một tờ sớ có đính kèm bản đồ các đồn luỹ và tình trạng trang bị của chúng.

Tháng 6, ông và Thống chế Nguyễn Như Thăng lại trình một bản tâu mới trong đó họ xin 30 khẩu pháo loại cho đồn vuông (fort carré) ở Thuận An (đồn Hà Nhuận), 7 khẩu pháo cho đồn vuông Hoà Duân, 10 khẩu oanh sơn, 10 khẩu mỗi loại trong các loại súng đăng uy, thắng uy chân uy, 10 khẩu vũ công, 20 khẩu thành công để bổ sung vũ khí cho chiến lũy Hạp Châu và trang bị các lũy cát mới ở Thuận An và Hoà Duân. Họ cũng xin cho Thuận An 32 khẩu quá sơn, 30 khẩu thần công thêm vào số 109 khẩu quá sơn, 10 khẩu phi sơn và 20 khẩu thần công đã sẵn có. Song phần lớn số súng này được dùng trang bị cho đội thuyền của đồn; họ xin thêm 300 lính và 80 pháo thủ để tăng cường quân số hiện có lúc bấy giờ là 775 lính, 237 pháo thủ và 569 thủy quân, phân bố trong tất cả các chiến lũy và chiến hạm của đồn Thuận An.

Kiến nghị đó được chấp nhận.

Đầu năm sau, ông được lệnh phòng thủ lạch Thuận An và ông dự định dùng cả chiến thuyền và trưng dụng cả tam bản và thuyền của tư nhân để chở đến lạch hàng trăm đống đá, đợi đến thời điểm quyết định sẽ chất đá trở lên các ghe thuyền ấy và thừa lúc ban đêm, cho vùi chúng xuống sông để lấp lạch. Biện pháp này có vẻ dễ tiến hành hơn nhờ cát bồi tự nhiên đã dần dần lấp kín lòng sông.

Nhờ các công trạng ấy, tháng 9 năm đó, Trần Tiễn Thành được thăng Thượng thư bộ Công, đồng thời vẫn giữ nhiệm vụ đặc trách phòng thủ cửa biển (Thuận An). Tháng 6 năm sau, khi cuộc phòng thủ được coi là đã hoàn tất(7). Ông được bổ làm Thượng thư bộ Hộ, mà vẫn phụ trách Hải phòng sứ. Tháng 6, Trương Đăng Quế xin về trí sĩ và được phép thôi giữ chức trách ở bộ Binh, Trần Tiễn Thành được chỉ định thay ông ta.

Từ đây, hoạt động của ông phải bao gồm việc phòng thủ cả nước. Để thực hiện nhiệm vụ này, vua coi ông là người có năng lực chuyên môn nhất, vì ông đã có kinh nghiệm trong việc tổ chức phòng thủ duyên hải.

Vài tháng sau khi được bổ nhiệm (Thượng thư bộ Binh) ông phải đối phó với sự tăng cường hoạt động của bọn cướp biển ở duyên hải Thanh Hoá và Nghệ An. Ông đề nghị nhà vua cử Khâm sai đại thần Nguyễn Tri Phương đi Hải An để phối hợp với đội thuyền vừa được cử đi Thanh Hoá trấn áp bọn hải tặc. Nhưng rồi ông bị phạt bổng 6 tháng vì đã không tiên liệu được việc bọn hải tặc đột nhập vào vùng Hải Vân.

Tháng 5 nhuận, theo lệnh vua, Trần Tiễn Thành đệ trình bản tâu về việc tổ chức các kỳ thi võ của các triều đại Trung Quốc cổ và đề nghị mở các khoa thi vũ tiến sĩ thêm vào các kỳ thi vũ cử nhân đã có.

Tháng 8 năm Tự Đức thứ 19 (1866), sau khi bình định Hải An, Nguyễn Tri Phương được triệu về Kinh giữ chức Thượng thư bộ Binh, Trần Tiễn Thành được bổ sang bộ Công và ở đây, ông tiếp tục tham gia vào công tác quốc phòng, một cách gián tiếp song vẫn có quan hệ chặt chẽ với công tác này hơn các vị Thượng thư khác. Ông vẫn được cử làm Phó sứ cho Nguyễn Tri Phương trong công tác phòng thủ duyên hải vùng Kinh sư.

Sơ đồ các đồn lũy pháo đài phòng vệ đường sông từ cửa biển Thuận An lên Kinh đô Huế.

Chú thích: 1.Đồn phía bắc; 2. Bãi tắm của nhà vua; 3. Vọng lâu và Pháo đài; 4. Chướng ngại vật và pháo đài; 5.Pháo đài; 6. Cột cảnh báo; 7. Đồn phía nam; 8. Một dãy pháo đài; 9. Đồn Cồn Sơn; 10. Đồn Cây Dừa; 11. Đồn  Tân Hỷ, 12. Đại đồn Lộ Châu, 13.Chướng ngại vật; 14. Tiểu đồn Lộ Châu, 15. Đồn Nhất Hi Du, 16. Đồn Nhì Hi Du; 17. Đồn Phổ Lợi, 18. Đồn Hải Trình, 19. Đồn Qui Lai, 20. Đồn Nhất Thuận Hòa, 21. Đồn Nhì Thuận Hòa, 22. Đồn Đồn-Trung; 23. Cột báo động và Pháo đài Thuận Hòa, 24. Đồn Thủy Tú,  25. Đồn Triều Sơn thường gọi là Đại Đồn.

B. Barrages (Đập chắn) - C: Canal (Kênh, rạch) - Ch.: Chaussée (Mặt đường) - Mirador (Tháp canh). Những đường chấm chấm chỉ rõ đáy bùn, lộ ra lúc thủy triều rút. Sơ đồ này thiết lập hiện trạng năm 1889. (NĐX bổ sung theo BAVH,  số 2, Tháng  4- 6/1944, sau tr.108).

Sau khi mất hết Nam Kỳ và trấn áp được bọn Lê Văn Phụng ở Hải An, tình hình đất nước tương đối yên tĩnh.

Trần Tiễn Thành không có hoạt động nổi bật nào khác. Nhưng đến năm Tự Đức thứ 21 (1868), tàn dư quân Thái bình Thiên quốc ở Trung Hoa, ẩn náu trong vùng thượng du Bắc Kỳ, bắt đầu khủng bố các tỉnh Cao Bằng, Hải Ninh, Lạng Sơn và Thái Nguyên. Quân Cờ Đen và Cờ Vàng tàn phá vùng Tuyên Quang. Vùng Quảng Yên nơi bọn Lê Văn Phụng từng chiếm đóng nay lại rối loạn vì cuộc nổi dậy của tên Hoàng Tề liên tiếp với bọn hải tặc người Hoa. Tự Đức phải yêu cầu quân đội chính quy Trung Hoa chi viện để trấn áp bọn cướp người Hoa này, nhưng kết quả không tương xứng với chi phí phải tốn để cung phụng đội quân ngoại quốc ấy.

Trong khi đó, Nguyễn Tri Phương già yếu xin thôi chức trách Thượng thư bộ Binh và được hoán chuyển với Trần Tiễn Thành. Thế là Trần Tiễn Thành trở về với chức vụ cũ của mình.

Tháng 2 năm Tự Đức thứ 25 (1872), được nhà vua hỏi ý kiến cùng với Nguyễn Tri Phương về phương sách hoàn tất công cuộc bình định Bắc Kỳ, ông cùng Nguyễn Tri Phương dâng tập tâu được tất cả các thượng thư ký tên, trong đó có đoạn như sau:

“...Theo thánh chỉ, chúng thần mật nghị tình hình Bắc Kỳ hiện nay như sau: ở phía Bắc, bọn Thanh phỉ lan tràn như sóng, vùng Hải Dương đầy rẫy thuyền hải tặc, bọn Thanh phỉ lợi dụng để hoành hành. Vùng Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang và Thái Nguyên, bọn Thanh phỉ cũng cướp bóc, quấy phá luôn. Quan quân các đạo từ lâu ra sức đánh dẹp, nhưng vẫn chưa thấy báo tin thắng trận. Nhiều lần đã phái chiến thuyền đi Hải Dương phối hợp với tàu máy của Lôi tướng quân(8) dẹp giặc. Quan bộ Binh và các quan tỉnh cũng đã thuê thuyền lớn của người Thanh, nhưng chi phí rất lớn.

Trong lúc nhân dân đói kém, công quỹ thâm thủng, việc chưa giải quyết thật đáng lo âu, đúng như lời thánh dụ. Cho đến nay, các quan tỉnh toàn tốn công tốn của vô ích, chưa thấy công hiệu gì. Cần cử thêm người tài để hoàn thành công việc. Tuy nhiên chúng thần nhận thấy, theo tập tâu của thống đốc Hoàng Tá Viêm và nhị sư (commandant des troupes) Lê Tuấn, có 2000 quân tình nguyện mới tuyển và một số hương binh bắn giỏi tuyển từ các vùng biên giới; chúng thần xin dùng họ để dẹp yên, sau khi quân đội nhà Thanh đã rút. Theo thư phúc đáp của Phùng tướng quân (9) thì tướng quân đã lệnh cho Tuần phủ Quảng Tây về việc này và viên tuần phủ đang chờ lệnh rút quân, trong lúc hai vị Lưu, Trần (10) thống lĩnh đang giữ trong doanh trại số quân nhà Thanh còn đóng trên đất Thái Nguyên. Về phần mình, thống đốc Hoàng (11) đã định ngày thương thảo.

Về bọn cướp ở Hải Dương, thống đốc quân đội triều đình ở Hải An đã yêu cầu phó tướng Lôi thuê lính người Thanh cùng với thuyền của họ để cử đi Cẩm Giàng tham gia diệt giặc. Dù chi phí rất tốn kém, song không thể đình hoãn công việc đang thực hiện này.

Hơn nữa, theo các tập tâu gần đây, quân đội hoạt động ở vùng Thanh Lâm thắng to, lực lượng bọn phỉ bị tổn thất lớn, chứng tỏ quan quân đi dẹp giặc có chỗ thành công. Sau khi cân nhắc kỹ, chúng thần xin giao cho Thống đốc Hoàng Tá Viêm thương lượng với hai vị Lưu, Trần thống lĩnh và ra lệnh cho quân các đạo để tùy tình hình, bố trí quân ta và quân Thanh đi dẹp bọn thổ phỉ để tận diệt chúng sớm, không cho chúng lan tràn. Còn bọn hải tặc ở Hải Dương, xin cho nhị sư Lê Tuấn thương lượng với Thanh sứ Hoàng Tuấn Tích và Lôi phó tướng để phối hợp hoạt động của quân trên bộ, các chiến thuyền và thuyền thuê của người Thanh để nhanh chóng đánh dẹp, ngăn ngừa hậu hoạn về sau.

Vùng Hải Dương sông nước chằng chịt, các cửa biển không có bố phòng, nên rất khó đánh dẹp bọn giặc xuất hiện từ tứ phía. Vì vậy, cần xem xét kỹ các cửa biển và đường biển, ra lệnh ngầm cắm cọc ở các quãng hẹp để ngăn thuyền giặc, ở các quãng sông rộng các cửa biển rộng và sâu, cần bố trí tàu máy bay chiến thuyền, sẵn sàng tấn công. Quan bộ Binh và các quan tỉnh cần có biện pháp thích hợp để thực hiện kế hoạch này trong thời hạn chậm nhất là 1 tháng...”

Vì chi phí cho bọn lính đánh thuê người Thanh lên đến 3.380 lạng bạc mỗi tháng và chúng có vẻ muốn lợi dụng để kéo dài thời gian, tập tâu của Trần Tiễn Thành đề nghị nếu trong hạn một tháng, bọn lính đánh thuê ấy không dẹp yên bọn cướp ở vùng duyên hải nước ta thì ta thôi không còn dùng chúng nữa.

Nhưng đến năm Tự Đức thứ 26 (1873), vấn đề Bắc Kỳ trở nên phức tạp.

Một thương nhân người Pháp, Jean Dupuis vì muốn được tự do thông thương trên sông Hồng, đã xin Thống đốc Nam Kỳ là Đô đốc Dupré can thiệp. Triều đình giao cho Nguyễn Tri Phương giải quyết nội vụ, Nguyễn Tri Phương đã được cử đi kinh lý Bắc Kỳ năm ngoái. Đô đốc Dupre nghĩ đến việc mở con đường sông Hồng để xâm nhập Hoa nam, lợi dụng việc triều đình nhờ y dàn xếp vụ Jean Dupuis để cử Francis Garnier ra với 170 quân. Tàu của Garnier ghé lại Thuận An hai ngày để chờ các sứ thần của triều đình cùng đi ra Hà Nội. Nhưng chỉ vài ngày sau khi các quan từ Huế ra, quân của Francis Garnier bắn phá và chiếm thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương bị thương và bị bắt. Ở triều đình, người ta nhận thức được mức độ nghiêm trọng của tình hình.

Trần Tiễn Thành, Thượng thư bộ Binh, mới được giao thêm nhiệm vụ củng cố vùng duyên hải, bắt đầu tăng cường phòng thủ Thuận An, cửa ngõ Kinh đô.

Trước hết, ông xin tăng cường đạn dành cho binh lính ở các đồn và bắt họ thường xuyên tập bắn. Ông cũng xin cắm quanh các đồn những rào bảo vệ bằng chông tre củng cố hai phòng tuyến bằng xích sắt bảo vệ đường vào các cửa Thuận An và Tư Hiền(12) và hai đập chắn giữa các đồn Lộ Châu và Thuận Hoà. Ông cho chất đá tảng rất nặng lên các chiến thuyền (thuyền đồng phải có độ mớn nước khoảng 9 thước và thuyền tuần tiễu khoảng 7 thước) để bố trí chúng ở hai bên lòng sông, đối diện đồn Lộ Châu. Trong trường hợp có báo động ngoài biển, các thuyền này sẽ được đẩy ra chắn ngang lòng sông và dùng pháo trên đồn đánh đắm chúng. Sở dĩ cần có biện pháp này là vì hai dải cát ở hai đầu khúc sông trên vừa bị một trận lũ lụt gần đây xói lở.

Chúng ta biết sự kiện Bắc Kỳ đã được giải quyết bằng Hiệp ước 1874. Theo hiệp ước này, Pháp bằng lòng trả lại cho Việt Nam tất cả các tỉnh thành bị quân Francis Garnier chiếm đóng và thừa nhận nền độc lập của Việt Nam với điều kiện triều đình Việt Nam công nhận quyền tự do truyền đạo Thiên Chúa và quyền tự do thông thương của người phương Tây trên sông Hồng. Kinh sư không còn bị đe dọa và việc phòng thủ Thuận An trở nên thứ yếu. Trong suốt 9 năm còn lại, vị Thượng thư thậm chí không hoàn tất được việc thực hiện kế hoạch đã được chấp nhận từ năm Tự Đức thứ 27. Đó là kế hoạch xây một con đê chắn ngang sông ở mạn Lộ Châu, con đê gồm hai phần, chừa ở giữa lòng sông một khoảng rộng 10 trượng (40m).

Nhưng đến cuối năm Tự Đức thứ 34 (1881) tình hình Bắc Kỳ trở nên phức tạp. Hai thương nhân Pháp tên Courtin và Villeroi bị bọn Cờ Đen đóng ở Lào Cai ngăn không cho đi Vân Nam.

Sau khi xin phép Paris kết thúc vấn đề Bắc Kỳ bằng xâm lược quân sự, đầu năm sau, Thống đốc Le Myre de Villers cử ra Bắc một toán quân do Henri Rivière cầm đầu. Triều đình không thể làm gì để tăng cường phòng thủ Bắc Kỳ ngoài việc đôn đốc các quan văn võ kêu gọi văn thân và thân hào nhân sĩ tổ chức hương binh, song triều đình phải lo lắng cho số phận Thuận An. Ngay từ tháng giêng, Thượng thư bộ Binh yêu cầu tăng cường chiến lũy mới ở Lộ Châu và vào tháng 2 thay vì xây con đê chắn ngang sông đã dự kiến 9 năm về trước ông đề nghị kéo xuống lòng sông những thùng chứa đá tảng, xếp thành hai hàng theo hình nanh sấu (13) để khỏi ngăn dòng thủy triều. Các đồn Lộ Châu và Triều Sơn được tăng cường. Trên mặt đông bắc của thành Huế, người ta bố trí thêm những khẩu đại pháo chĩa nòng về phía sông Hương. Hơn 1.500 lính thợ được rút từ các công trường xây dựng về để huấn luyện quân sự. Pháo ở các đồn phía trước và sau Lộ Châu cũng được tăng cường.

Vào lúc đó, quân của Henri Rivière chiếm thành Hà Nội.

Sau thất bại này, tình hình càng đáng lo. Quan các tỉnh dâng sớ về triều đình xin tiếp tục chiến đấu. Người ta muốn tăng cường phòng thủ cửa Thuận An. Nhưng Cơ Mật viện và Thương Bạc nha dâng sớ trình bày ý kiến khác: “Trong tình hình hiện nay, chúng thần nhận thấy tiếp tục chiến đấu không phải là chính sách thích hợp: công cuộc phòng thủ duyên hải chưa được tổ chức đầy đủ; sửa sang thêm cũng không thể bảo đảm công hiệu mà còn bất lợi lớn là gây nghi ngờ cho người Pháp. Chúng thần xin đình chỉ việc xây  chiến lũy mới ở Thuận An và rút hết quân tăng cường về Kinh để cho tập luyện. Lực lượng vốn có của các đồn cũng phải được các quan có nhiệm vụ hải phòng cho tập luyện. Còn những biện pháp như chôn các thành đá tảng và chuẩn bị bè tre, cũng cần được bổ sung để gia tăng tiềm lực phòng thủ của ta và đề phòng việc xảy ra sau này”.

Tuy nhiên, quân Pháp ở Bắc Kỳ không dừng lại: Nam Định thất thủ tháng 2 năm Tự Đức thứ 36 (1883). Sau khi Henri Rivière bị quân Cờ Đen chiến đấu theo lệnh triều đình giết chết, tướng Bouet được cử sang thống lĩnh lực lượng viễn chinh ở Bắc Kỳ và đến Hải Phòng vào tháng 5 mang theo viện quân mới. Tướng Courbet, tư lệnh hải quân vùng Đông Hải, được giao nhiệm vụ hỗ trợ Bouet, trong lúc ông Harmand, sứ thần Pháp ở Băng Cốc, được chỉ định làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền. Pháp muốn kết thúc (số phận Việt Nam) và lãnh sự của triều đình ở Nam Kỳ là Nguyễn Thành Ý phải rút về Huế. Thượng thư bộ Binh dâng sớ (vào tháng sáu) xin tiếp tục việc xây chiến lũy mới ở Lộ Châu, việc này đã bị đình hoãn sau khi Hà Nội bị thất thủ.

Than ôi! Đó là cố gắng cuối cùng của Trần Tiễn Thành để bảo vệ Kinh sư chống lại cuộc tấn công mới của hạm đội Pháp vừa được tăng cường. Vua Tự Đức băng hà với cảm giác đau đớn là mình đã bị tình thế vượt qua, và một tháng sau, đô đốc Courbet chiếm đóng cửa Thuận An. Kinh sư trở thành nơi diễn ra nhiều vụ âm mưu, xung đột bè cánh; trong đó, như chúng ta đều biết, Trần Tiễn Thành bị hai bạn đồng liêu là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết loại trừ. Ông sẽ không còn sống lâu sau khi vua Tự Đức từ trần và Việt Nam phải thừa nhận sự bảo hộ của Pháp.

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123