Chương 2: Công vụ - công tác hành chánh

 

Trần Tiễn Thành đậu Cử nhân mùa thu năm Minh Mạng thứ 18 (1837), đậu Tiến sĩ vào mùa xuân năm sau, vào tháng 10, ông bước vào hoạn lộ năm 26 tuổi với chức Hàn lâm viện biên tu. Năm sau, ông được giao tham gia biên tập bộ Khâm định bội văn trích yếu tập vận, rồi trông coi việc khắc bản gỗ tập sách ấy, sau đó làm Hành tẩu tại Cơ Mật viện. Sau nhiều lần thăng giáng, đến Thiệu Trị nguyên niên (1841), ông giữ chức Viên ngoại lang ở bộ Lại, vẫn kiêm chức Hành tẩu tại Cơ Mật viện.

Tháng 5 năm Thiệu Trị thứ ba (1843), ông tham gia chấm thi Hội, với tư cách đồng khảo (co-examinateur). Sau đó, hiếm có khoa thi Hương thi Hội nào mà ông không tham gia chấm thi, bởi ông là một Tiến sĩ nổi danh về tài văn học. Năm Thiệu Trị thứ 3, ông được phong thự Lang trung bộ Binh và năm sau được chính thức. Năm Thiệu Trị thứ năm (1845), ông làm Án sát sứ Thanh Hoá và giữ chức này đến năm Tự Đức thứ 6 (1853), ông cũng được phong thự Thái bộc tự khanh, làm việc tại bộ Hộ. Tháng 8 năm Tự Đức thứ 2, được chính thức Thái bộc tự khanh, ông tham gia sứ bộ sang Trung Quốc xin sắc phong, với tư cách Đệ nhất phó sứ, hữu Thị lang bộ Lễ. Chánh sứ lúc bấy giờ là Phan Huy Vịnh. Ông ra Hà Nội chuẩn bị lên đường. Nhưng rồi việc cử sứ bộ phải hoãn lại và Trần Tiễn Thành quay về chức vụ cũ ở bộ Hộ.

Sau khi giữ chức Bố chánh sứ ở Gia Định sáu tháng, ông trở về Kinh với chức thự tả Thị lang bộ Công, kiêm lo công việc ở Nội các, năm (Tự Đức) thứ sáu, ông được chính thức. Trong thời gian làm việc ở Nội các, ông thường tham gia các công việc tập hợp và nghiên cứu văn học theo lệnh vua(3). Muốn tạo thuận lợi cho việc phổ biến sách chữ Hán trong nước, ông xin vua Tự Đức cho in thành nhiều bản các bộ sách Tứ thư đại toànNgũ kinh đại toàn để phân phát cho các cơ quan và học viện (tập tâu ngày 8 tháng 4 năm Tự Đức thứ 6).

*

*       *

Thời gian này, ông cũng được giao các công tác quân sự. Tháng 7 năm Tự Đức thứ 8, ông được bổ đi Quảng Ngãi giữ chức Tán lý quân vụ để giúp Tổng thống (commandant en chef) là Trần Tri đàn áp cuộc nổi dậy của Thượng Đá Vách (Thạch Bích). Ông cùng Trần Tri xin viện quân gồm 2000 kinh binh và xin cử Chưởng vệ Chu Phúc Minh và Chỉ huy sứ Đào Trí đi dẹp loạn ở hai sách Minh Long và Suối Tử. Lúc đầu, vì không tiên liệu được cuộc tấn công của quân Thượng, ông bị phạt bổng 6 tháng. Nhưng chỉ một tháng sau, ông lại được tha.

Sau khi khuất phục được quân nổi loạn, Trần Tri và Trần Tiễn Thành gởi tập tâu về triều báo cáo kết quả các cuộc hành quân và việc tổ chức bố phòng ở biên giới. Quân Thượng trả tự do cho 27 người Kinh và trả lại 30 trâu bò bị chúng cướp mang đi. Binh lính ở kinh sư và các tỉnh đã tham gia hành quân được rút về. Người ta thành lập hai cơ lính dõng gồm khoảng một nghìn hương binh tuyển trong dân chúng quanh vùng, số lính dõng này có nhiệm vụ phối hợp với binh lính của tỉnh để phòng chống quân sơn cước xâm nhập.

Tháng 12, Trần Tiễn Thành trở về Kinh tiếp tục làm việc ở Nội các và tháng Giêng năm sau, ông được thăng một bậc do thành tích ở Quảng Ngãi.

Tháng ba năm Tự Đức thứ 9 (1856), do hoạt động quân sự của ông thời gian gần đây, vua bổ ông về bộ Binh, giữ chức hữu Tham tri, đồng thời ông được giao nhiệm vụ Nhật giảng thần ở viện Kinh diên.

Tháng tám (10-1856) tàu Pháp Le Catinat bắn phá Đà Nẵng. Người ta tưởng hạm đội của Đô đốc Rigault de Genouilly sắp mở cuộc tấn công qui mô lớn. Với tư cách Tham tri bộ Binh, Trần Tiễn Thành tích cực tham gia tổ chức việc phòng thủ các cửa biển Đà Nẵng và Thuận An.

Trong chương sau, ta sẽ thấy đóng góp của ông trong công tác quốc phòng. Ở đây, xin hiến một nét thú vị về khía cạnh văn học của công cuộc phòng thủ ấy, không phải không có ý nghĩa hài hước.

Ngày 16 tháng 5 nhuận năm Tự Đức thứ 10 (1857), 8 tháng sau cuộc tấn công của tàu Le Catinat, khoảng một năm trước cuộc tấn công của hạm đội Rigault de Genouilly, nhà vua làm mười bài thơ về cửa biển Thuận An, các bài thơ ấy dĩ nhiên nói về đồn lũy kiên cố, đại pháo công hiệu và lực lượng binh lính hùng hậu, dũng cảm. Trần Tiễn Thành cùng các quan lại khác họa lại và đề cao lực lượng của ta. Ông cũng họa lại một bài thơ dài của Tự Đức về cuộc duyệt binh lớn của nhà vua từ Quan Hải đài, trên thành Trấn Hải. Tự Đức đặc biệt ưa thích những cuộc xướng họa như vậy với các cận thần và trong một thời kỳ đặc biệt khó khăn, Trần Tiễn Thành vừa cố gắng chu toàn trách nhiệm vừa trổ tài thơ phú, trong đó có lúc không ngại dùng cả những tứ thơ mạnh mẽ của con nhà võ, để đẹp lòng chúa thượng.

Sau khi thành Gia Định bị Pháp chiếm, tháng giêng năm Tự Đức thứ 12 (tháng 2-1859), với tư cách Tham tri bộ Binh, Trần Tiễn Thành tham gia Tham biện cơ mật sự vụ và tháng ba năm đó, Tự Đức nhận thấy năng lực của ông trong công tác phòng thủ bờ biển nên miễn cho ông công việc ở Cơ Mật viện và bộ Binh để giao ông đặc trách về phòng thủ Thuận An. Tháng 9, ông được thăng Thượng thư bộ Công, song vẫn tiếp tục phụ trách việc phòng thủ các cửa biển ở Kinh thành. Tháng 6 năm Tự Đức thứ 15 (1862), vì các cơ sở phòng thủ duyên hải đã hoàn tất, Trần Tiễn Thành được bổ làm Thượng thư bộ Hộ, kiêm quản Khâm thiên giám sự vụ, tuy nhiên vẫn phụ trách phòng thủ Duyên Hải. Lúc đó, ông được sung Cơ Mật viện đại thần. Tháng 9, ông chuyển sang làm Thượng thư bộ Binh thay Trương Đăng Quế được miễn công tác này vì tuổi già sức yếu.

Tháng 9 năm Tự Đức thứ 17 (1864), ông được giao kiêm quản Tập Hiền viện và Tổng lý đại thần, phụ trách công xưởng Dương Xuân. Tháng 10, nhân dịp Vạn thọ đại khánh (sinh nhật vua), ông được trả lại hai cấp, trước đây ông bị giáng bốn cấp vì thương lượng thất bại với các sứ thần Pháp và Tây Ban Nha.

Tháng 2 năm Tự Đức thứ 18 (1865), ông được thưởng chiếc Kim khánh hạng hai với bốn chữ liêm, bình, cần, cán. Tháng giêng năm đó ông lại bị giáng một cấp vì đương kim Binh bộ Thượng thư, ông đã không phát hiện được đứa con trai của Đinh Đạo, cháu nội của Hồng Bảo (bị kết án vì mưu phản), được nuôi tại nhà phò mã Nguyễn Đình Tứ. Tháng 5, cũng như các đại thần khác trong triều, ông bị giáng hai cấp vì lầm lẫn khi chọn một quan viên ở cấp viên ngoại.

Tháng 6, với tư cách Thượng thư bộ Binh, ông được cử đi Hải An, nơi quân đội triều đình dưới quyền Nguyễn Tri Phương đang tiếp tục đàn áp bọn Lê Văn Phụng. Tháng 7, đi qua Hải Dương, ông chứng kiến nạn đói lớn và ra lệnh cho chính quyền địa phương xuất 3000 hộc thóc từ kho của tỉnh cấp cho dân ghèo. Ông đến Hải An gần như đúng vào lúc quân đội nhà vua chiếm lại được thành Hải Ninh. Tháng 8, ông về Kinh báo cáo công tác, đồng thời xin tiếp tục việc đào con kênh nối liền Thanh Hoá và Nghệ An. Tuy nhiên, sau chuyến công tác này, Trần Tiễn Thành bị giáng một cấp vì đã không ngăn ngừa được hành động vô kỷ luật của các Đề đốc Hoàng Thành và Tôn Thất Đính, hai người này đã cáo bệnh bỏ ngũ về Kinh mà không có phép.

Tháng 10, cùng các bạn đồng liêu, ông được thăng trở lại một cấp, rồi hai cấp, nhân dịp dâng trình báo cáo về địa lý phong thuỷ vị trí lăng Tự Đức (Vạn niên cơ) và nhân dịp tiết Vạn thọ. Nhưng cũng trong tháng đó, cùng với các bạn đồng liêu, ông lại bị giáng hai cấp vì đã khinh suất không chú ý đến bản mật báo của nguyên Tổng đốc Nghệ An là Vũ Trọng Bình về tình hình giáo dân.

Sau khi bình định vùng Hải An và chiếm lại được Cao Bằng từ tay bọn phản loạn, nhà vua khen thưởng các quan có công, đặc cách phong Trần Tiễn Thành làm thự Hiệp biện Đại học sĩ và cho ông giữ nguyên các chức vụ cũ. Như thế ông trở thành quan đầu triều (tương đương với Thủ tướng - ĐDA). Tháng 8, ông được cử cùng với Thượng thư bộ Công là Nguyễn Văn Phong, tham gia điều tra vụ Đoàn Trưng(4). Võ hiển Đại học sĩ Nguyễn Tri Phương đang thống lĩnh quân đội triều đình ở Hải An, được gọi về Kinh giữ chức Thượng thư bộ Binh, phụ trách Hải phòng sứ, Trần Tiễn Thành được chuyển sang bộ Công, đồng thời giữ chức Hải phòng phó sứ, kiêm Quốc sử quán tổng tài và vẫn giữ các chức vụ kiêm nhiệm khác của ông.

Sau nhiều lần bị giáng do các lỗi công vụ nhỏ và lại được thăng qua nhiều dịp khác nhau, vào tháng 2 năm Tự Đức thứ 21 (1868), sau khi được cử vào Sài Gòn thương lượng việc ký một hiệp ước mới với Súy phù Pháp thất bại, ông bị giáng làm tả Tham tri bộ Công, tuy nhiên vẫn đảm nhiệm công việc Thượng thư. Không còn sự kiện gì đáng lưu ý trong thời gian ông ở bộ này, ngoại trừ việc ông được thăng trở lại Thượng thư chính thức vào tháng 9, sau lễ tứ tuần đại khánh của nhà vua, vào năm Tự Đức thứ 21 (1868).

Tháng 12, Nguyễn Tri Phương vì tuổi già sức yếu không còn đảm nhiệm nổi chức trách nặng nề ở bộ Binh, được chuyển đổi với Trần Tiễn Thành và như thế, trong thực tế Trần Tiễn Thành trở lại là quan đầu triều.

Tháng 11 năm Tự Đức thứ 22 (1869), ông cùng các bạn đồng liêu dâng sớ trách vua Tự Đức, khuyên nhà vua không nên đi săn bắn nhiều trong lúc tình hình đất nước khó khăn. Nhà vua chịu nghe, nhìn nhận sai lầm của mình và hứa nghe theo lời khuyên của các cận thần.

Tháng 3 năm Tự Đức thứ 23 (1870), sứ thần Tây Ban Nha đến Huế trao quốc thư của nữ hoàng về việc lập lãnh sự quán. Trần Tiễn Thành được giao cùng các đồng sự thương lượng với sứ thần để có sự trợ giúp của Tây Ban Nha. Sau cuộc thương thuyết thất bại, ông bị cách lưu. Nhưng đầu năm sau, ông lại được đặc cách thăng thự Hiệp biện Đại học sĩ, trước đây ông đã bị mất chức này.

Sau khi thân mẫu ông qua đời ngày rằm tháng 8 năm Tự Đức thứ 25 (1872), đầu năm sau, nhà vua thăng ông lên Hiệp biện Đại học sĩ chính thức và khuyên ông “luôn luôn đi theo con đường thành tín” như tên gọi của ông (Tiến Thành) và tiếp tục là “tôi trung con hiếu”. Ông rơi luỵ cảm tạ vì sự ân cần ban ơn của nhà vua.

Tháng 10, ông lại được giao chức Hải phòng sứ. Tháng 3 năm Tự Đức thứ 27 (1874), ông được thăng thự Văn minh điện Đại học sĩ, nhờ có công tiến dẫn Nguyễn Văn Tường, nguyên Bang biện huyện Thành Hoá ở Quảng Trị. Trong chuyến công tác vào Sài Gòn năm Tự Đức thứ 20, Trần Tiễn Thành đã xin cho Nguyễn Văn Tường đi theo vì ông đánh giá cao sự khôn ngoan của Tường. Sau đó, Nguyễn Văn Tường được cử ra Bắc Kỳ cùng Hoàng Kế Viêm dẹp loạn. Khoảng cuối năm Tự Đức thứ 26 (1873), nhờ dâng kế hoạch lấy lại các tỉnh Nam Kỳ, Nguyễn Văn Tường được đặc cách thăng Hình bộ Thượng thư, sung Cơ Mật viện thần. Lúc đó Trần Tiễn Thành được khen thưởng vì đã có công tiến dẫn lên vua một bầy tôi quý báu đến thế, mà tài năng hẳn đã mai một nếu không có sự phát hiện của ông.

Vào thời kỳ ấy, khi Nam Kỳ đã vĩnh viễn bị Pháp chiếm, chính phủ Pháp lại đang đe doạ can thiệp ở Bắc Kỳ, trách nhiệm quan đầu triều (tương tự Thủ tướng - ĐDA) và Thượng thư bộ Binh đặc biệt nặng nề. Song Trần Tiễn Thành cố gắng làm những gì có thể làm được, và nhà vua nói chung là hài lòng về công tác của ông.

Tháng 5 năm Tự Đức thứ 28 (1875), thậm chí ông còn được thưởng kỷ lục vì đã tổ chức tốt công tác phòng thủ cửa Thuận An. Nhưng cứ nhìn vào con số đáng sợ những lần ông bị phạt bổng và giáng chức trong những năm cuối triều Tự Đức, có thể thấy nhà vua ngày càng căng thẳng, lo âu vì diễn biến tình hình ngày một xấu đi. Tuy nhiên, vào tháng giêng năm Tự Đức thứ 31 (1878), năm 66 tuổi, Trần Tiễn Thành được chính thức phong Văn minh điện Đại học sĩ với lời châu phê: “Mặc dù, thời gian gần đây, vì tuổi già sức yếu, nên không khỏi ảnh hưởng đến hoạt động của ngươi, và mặc dù ngươi không đáp ứng đầy đủ lòng sở cậy ở ngươi, song tuổi càng cao lòng trung thành không lay chuyển của ngươi càng vững chắc, đồng thời tâm hồn cao cả và tầm nhìn khoáng đạt cho phép ngươi dám quyết định nhiều điều trọng đại

Tháng giêng năm Tự Đức thứ 36 (1883), vì tuổi cao không còn đủ sức gánh vác có hiệu quả chức trách Thượng thư bộ Binh, ông được Tham tri Lê Hữu Tá tạm thay quyền, và chỉ còn quản lý Binh bộ sự vụ. Tháng 12 năm đó, Tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Thuyết được cử phụ tá cho ông ở bộ Binh, trong lúc Lê Hữu Tá chuyển sang bộ Công. Năm sau, chính do đề nghị của ông, Tôn Thất Thuyết được sung Cơ Mật viện.

Nhưng sức khoẻ ông ngày càng suy yếu. Ông bị ho nhiều và mắc bệnh lỵ mãn tính. Kể từ tháng 12 năm Tự Đức thứ 35 (1882), ông nhiều lần phải xin nghỉ phép trị bệnh. Nhưng nhà vua chỉ cho phép ông nghỉ hưu ở tư dinh, có quan Thái y viện chăm nom. Mà không cho ông nghỉ hẳn, buộc ông phải tiếp tục tham gia chính sự vào lúc tình hình đất nước đang khó khăn gay gắt.

Sau khi chiếm Hà Nội, quân của Henri Rivière chiếm Nam Định vào tháng 2 năm Tự Đức thứ 36 (1883). Ở triều đình, người ta lo điều tệ hại nhất xảy ra. Thượng thư bộ Binh cho tăng cường phòng thủ Thuận An và Tư Hiền để bảo vệ Kinh sư. Nhưng đúng vào lúc ấy, vua Tự Đức băng hà ngày 16 tháng 6, và Trần Tiễn Thành sẽ không sống thêm nhiều ngày nữa, sau cái chết của vị vua mà ông đã tận trung phụng sự đến hơi thở cuối cùng, đúng với khí tiết nhà Nho.

         

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123