Chương 1: Đời tư và thơ ấu

 

Tập san Đô thành hiếu cổ (BAVH), năm thứ 31, số 2 -Tháng tư- sáu năm1944, tr. 91 

Ngày 22 tháng 11 năm Gia Long thứ mười hai (14-12-1813), Trần Tiễn Thành sinh vào giờ Canh Thìn trong ngôi nhà của tổ phụ (trên mảnh đất nay có nhà thờ họ Trần), tại làng Minh Hương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Tên làng cũng đủ cho ta biết ông vốn người gốc Hoa. Ông tổ quê gốc ở Phúc Kiến (xã Ngọc Châu), huyện Chương Châu, phủ Long Khê, trốn chạy quân xâm lược Mãn Thanh sau khi nhà Minh sụp đổ, đã cùng những người tòng vong khác đến lập nghiệp ở đất làng Thanh Hà(1) để buôn bán. Cha của Trần Tiễn Thành tên Trần Triều Dục là thầy giáo làng. Mẹ ông tên Lâm Thị Phúc Châu, con gái ông Huấn đạo Lâm Nhật Thăng, người cùng làng, cũng là người gốc Hoa. Khi Trần Tiễn Thành ra đời, cha ông đã 37 tuổi và mẹ ông 28 tuổi. Người cha rất vui mừng vì có đứa con trai đầu lòng và đã tự tay chăm sóc đứa bé sơ sinh. Được 22 ngày, đứa bé bệnh nặng và cho rằng cháu chỉ qua khỏi nhờ người ông, lúc ấy đã ngoài 60 tuổi, hết lòng cầuTrời khấn Phật. Ngày đầy tháng người cha mở tiệc mời tất cả họ hàng và bằng hữu. Quan Thượng thư Trương Đăng Quế, lúc bấy giờ làm hành tẩu ở Nội các có trông thấy đứa bé và đoán tương lai cháu sẽ rất rạng rỡ. Nhưng trong khi chờ đợi, những năm đầu cắp sách, đứa bé lại tỏ ra chậm chạp, tối dạ khiến người cha, vốn là ông thầy đầu tiên, năm đứa trẻ lên tám, đã đổi tên cho là Dưỡng Độn (Độn có nghĩa là tối dạ). Năm lên chín, cha ông được bổ làm quan, giữ chức Hàn lâm viện điển bộ, do sự tiến cử của Trịnh Hoài Đức, lúc đó là Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ, cũng gốc người Minh Hương. Cha ông đi nhận chức ở Hà Nội, theo gia đình kể lại, ông thụ giáo một thầy học khác được gia đình nuôi riêng ở nhà để dạy ông. Năm ông 12 tuổi, cha ông trở về Kinh với cấp bậc Chủ sự ở bộ Lễ. Tục truyền một hôm, bực mình vì trò chậm hiểu, thầy giáo đã giận dữ đánh một roi khiến học trò ngất xỉu. Cha mẹ vội chạy đến, người ta lay mãi đứa bé vẫn không tỉnh lại. Lúc đó, thầy giáo sợ hãi vì hành động thô bạo của mình, lén lút chuẩn bị hành lý định trốn đi. Biết được, người cha vội trấn an: “Tôi biết rằng thầy đã đánh con tôi vì muốn cháu được nên người. Dù cháu có vì vậy mà thiệt mạng, xin thầy cứ yên tâm là không ai phiền trách gì thầy cả”. Tuy nhiên, đứa bé dần dần hồi tỉnh. Và mọi người kinh ngạc nhận thấy rằng, sau tai nạn ấy, đứa bé bỗng trở nên thông minh hơn, học mau tiến bộ, dễ dàng bù lại thời gian chậm trễ những năm qua.

Tháng 10 năm Minh Mạng thứ năm (10-1824); người cha được bổ làm Tri phủ Tân Bình ở Gia Định. Trước khi đi, cha thường gọi riêng con trai ra khuyên dạy. Một hôm, cha bảo: “Ta mất mẹ từ năm lên 10. Lúc ấy ta đã biết thức dậy từ canh năm để lo cơm nước cho cha. Còn con nay đã 12 tuổi, sao chưa biết làm gì đỡ đần cha mẹ? Con chỉ biết rong chơi như trẻ lên 5, lên 6 tuổi thôi sao?”

Đầu năm sau, cha lên đường cung chức, cùng với mẹ, gửi con lại cho người cô già, góa chồng, không con cái, nhà ở Chợ Dinh. Bà là con thứ 12 của ông cố Trần Dưỡng Độn. Lấy chồng người gốc Hoa ở cùng làng tên Ngô Triêu Hạo, bà sớm goá chồng và bằng công sức lao động của mình đã một mình gây dựng nên cơ nghiệp. Không có con, bà nuôi các cháu và đặc biệt yêu quý Dưỡng Độn. Trong thời gian cha mẹ ở Gia Định, Dưỡng Độn ở nhà bà cô tại Huế để đi học. Bà thường nhắc cháu chăm học, trau dồi phẩm hạnh và noi gương ông nội là Trần Sĩ Ích, làm quan dưới thời các chúa Nguyễn, là người rất được quý trọng về chính trực và hành động nhân từ.

Ngày 16 tháng 6 năm Minh Mạng thứ sáu (10-8-1825), cha ông mất ở Tân Bình năm 50 tuổi (đến 46 tuổi mới bắt đầu làm quan). Mẹ ông góa chồng năm 41 tuổi, ở Chợ Dinh (Gia Hội ngày nay), buôn bán nuôi 5 người con. Dưỡng Độn vẫn ở với bà cô.

Dưỡng Độn rất chăm học. Năm 17 tuổi, ông thường đến học ở nhà người dượng là Nguyễn Khoa Minh, Thượng thư bộ Lễ, quan Thượng thư nuôi thầy học ở nhà để dạy các con. Thầy giáo phục tài trí của người học trò, mới đổi tên cho là Thời Mẫn (Mẫn là thông minh).

Năm 21 tuổi, ông vào Quốc tử giám và nổi bật về tài làm phú.

Năm 23 tuổi, ông cưới vợ là trưởng nữ của Thượng thư bộ Lễ Lương Tiến Tường. Trong lúc ông ở lại nhà bà cô lo đèn sách, vợ ông thay ông chăm sóc mẹ.

Năm 25 tuổi, ông đậu Cử nhân thứ 14 ở khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1837) tại trường thi Huế, kỳ thi đó Hà Tôn Quyền làm chánh chủ khảo, Phan Thanh Giản làm phó. Năm sau, ông đậu Tiến sĩ thứ 5, Đệ tam giáp ở kỳ thi Đình (Điện thí), các quan chủ khảo là Phạm Hữu Tâm, Trương Đăng Quế, Hà Duy Phiên.

Tháng 10 năm ấy, ông bước vào hoạn lộ với chức Hàn lâm viện biên tu.

Năm Thiệu Trị thứ tư (1844), bà cô qua đời, Thời Mẫn phải xin nghỉ để đích thân lo tống táng người mà ông coi như dưỡng mẫu. Ba năm sau, vì không còn bà cô, mẹ ông phải rời Chợ Dinh về quê chăm nom nhà tự. Lúc đó Thời Mẫn làm Án sát sứ ở Thanh Hoá. Ông cưới nàng hầu thứ nhất Nguyễn thị vào khoảng thời gian ấy.

Năm Tự Đức thứ hai (1849), nhân chuyến đi ra Hà Nội vì công vụ, ông cưới người vợ thứ thứ hai là một thiếu nữ 17 tuổi tên Hoàng Thị Giám, cũng gốc người Minh Hương như ông. Người vợ này sinh cho ông hai người con, trưởng nam là Trần Tiễn Hối sau là Tổng đốc Nghệ An.

Tháng 4 năm Tự Đức thứ sáu (1853), để tỏ lòng khen ngợi sự trung tín của ông, vua ban cho ông tên Tiễn Thành (đi theo con đường thành tín). Từ đấy, người ta gọi ông theo tên ấy.

Ông thăng tiến nhanh trên hoạn lộ; năm 50 tuổi, ông là Binh bộ Thượng thư, thực tế là quan đầu triều. Năm Tự Đức thứ 22 (1869), nhân dịp lễ mừng lục tuần của Thái hậu, vua truy phong tước (?) Gia nghi đại phu thiêm sự phủ thiêm sự cho người cha quá cố của ông và phong cho mẹ ông, lúc ấy đã 84 tuổi, làm chánh tam phẩm thục nhân. Cũng năm ấy, vào tháng 7, vua Tự Đức trân trọng ban thuốc men và vải lụa quý cho ông và thân mẫu để tỏ ý khen ngợi lòng hiếu thảo, trung tín của ông.

Tháng 4 năm Tự Đức thứ 25 (1872, lúc ấy ông 60 tuổi), mẹ ông lâm bệnh, ông được phép ở lại làm việc tại phủ ban ngày, không cần vào chầu trong điện, và buổi tối được về nhà ở làng Minh Hương để chăm sóc mẹ. Vua còn ra lệnh cho y sĩ ở Thái y viện đến tận nhà ông chăm sóc cụ bà. Tháng 7, ông được phép tạm nghỉ việc công để dốc lòng phụng dưỡng mẹ già mà bệnh tình ngày càng nguy kịch.

Rốt cuộc, cụ bà qua đời ngày rằm tháng tám, hưởng thọ 87 tuổi. Vua ban cho Trần Tiễn Thành 500 quan để tống táng và cho nghỉ phép ba tháng. Vào tháng 11, sau khi chôn cất mẹ ở Sơn Dương, thuộc thượng phường làng Kim Long, huyện Hương Thuỷ, ông về phục chức Binh bộ Thượng thư. Ông mãn nguyện vì đã lo tròn bổn phận tối hậu đối với thân mẫu, là người ông thờ kính tôn sùng nhất sau đức vua. Nhưng suốt đời ông vẫn ân hận vì đã không có mặt trong giờ phút lâm chung của thân phụ, từ trần năm ông mới 13 tuổi, ông cũng không được thân đứng ra lo tang lễ. Có lúc, vào ngày giỗ, ông nhỏ những giọt nước mắt cay đắng và bảo các con: “Khi cha ta đi nhậm chức ở xa, ta còn ít tuổi không đi theo hầu hạ cha được, khi cha đau, ta không tự mình nếm thuốc; lúc linh cữu người từ Gia Định đưa về, người anh họ của ta lo việc tống táng, ta không có dịp nào tỏ được lòng hiếu kính đối với cha. Vì không trọn đạo làm con, nên mặc dù làm quan nhất phẩm, ta luôn luôn tự răn mình, mặc thì quần thô áo vải, ăn uống đạm bạc, các món ngon do đức vua ban cho hay thuộc viên dâng lên đều không nếm. Đau lòng vì cha không cùng hưởng phú quý, ta cũng không nguôi thương nhớ bà cô đã nuôi ta, ơn cúc dục cù lao sâu nặng, nên ta không dám tiếm dụng vinh hoa mà lẽ ra chính các người phải được đáp đền trong muôn một” (2)

Ông sống đời hàn sĩ, luôn luôn nghiêm khắc với bản thân, ân cần khoan thứ với mọi người. Ông đông con: 8 con trai và 15 con gái; phần lớn đã mệnh yểu khi còn ít tuổi. Ông thực sự vui thích khi chơi đùa với trẻ em. Trong lúc ông làm việc ở thư phòng, có khi các cháu nội ngoại leo lên đùi ông chơi. Mọi người chung quanh rất yêu mến ông. Một người thân cận với ông nay còn sống, đã 89 tuổi, thường cảm động nhắc lại những mẩu chuyện về ông. Vua Tự Đức cũng rất quý mến ông, thậm chí nhà vua còn miễn cho ông việc bái lạy theo nghi lễ. Vua bảo ông: “Khanh hãy tận trung sao cho nước nhà được an khang, thịnh vượng, còn các thủ tục nhỏ nhặt, ta không nỡ nhìn khanh phải tuân thủ”. Vua Tự Đức vốn là người hay chữ nên rất quý ông về tài văn chương và rất thích các bài thơ hoạ của ông khi vua xướng thơ cho quần thần.

Năm Tự Đức thứ 32 (1879), sau khi được phong Văn Minh điện Đại học sĩ, trụ cột thứ hai của vương quốc, cha mẹ và tổ phụ của ông được truy phong. Năm Tự Đức thứ 35, ông được phép về quê làm lễ phần huỳnh, đó là vinh dự tột bậc mà người con dâng lên tổ phụ khi đã đạt đến đỉnh cao danh vọng.

Cũng trong tháng đó, nhân kỷ niệm lần thứ 62 ngày sinh của ông, vua Tứ Đức ban cho ông một bài thơ có lời đề tặng, tất cả đều là thủ bút của vua, thêu trên lụa vàng, cùng với một chiếc đại triều tứ linh bào (triều phục thêu long, lân, qui, phụng), một cây linh thọ trượng, cùng nhiều gấm vóc, kim tiền, ngân tiền, chén uống rượu bằng ngọc, bình và các vật dụng gốm sứ khác. Đó là nhà vua khen thưởng các đức tốt của người tôi trung con hiếu ở ông vậy.

         

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2009
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123