Những ngày đầu tháng ba Trịnh Công Sơn

3 tháng 3-1978,

6 giờ. Đường ra Thạch Hãn sương mù dày đặc. Đường sương, ruộng sương, cầu sương, sông nước cũng sương. Xe bật đèn. Những con mắt vàng mở to trong sương sớm. Hai bên đường loáng thoáng bóng người rải sắn lát, chờ sương tan để nắng lên hong khô. Chiếc xe jeep không thể chạy nhanh, nhưng gió ngược cũng đủ làm tóc rối bù.

7 giờ. Sương mỏng dần. Bóng núi, bóng ruộng lại hiện ra. Những con đường nối liền những thành phố, thị trấn, quận lị, nơi nào cũng hao hao giống nhau trên đất nước nầy. Ra Thạch Hên thấy sương mường tượng con đường lên Tây Nguyên. Nhớ sương trên đường Bảo Lộc, Di Linh, Phi Nôm, Đơn Dương đi ngày còn trẻ. Sương tháng ba miền Trung, nhớ sương mỏng nhẹ nhàng mùa xuân đất Bắc. Con đường nầy, ruộng lúa, bóng núi này cũng phả vào hồn những tình cảm đoan trang, thanh thoát tựa  như có lần mở lòng mình đón nhận cái khí xuân trên con đường đi chùa Thầy, chùa Tây Phương rồi vụt thẳng lên Sơn Tây. Những con đường về miền Đông, miền Tây Nam Bộ cũng thế, duy chỉ có thiếu cái bóng núi chập chùng ở nơi đây.

7giờ 30’. Xe rẽ vào con đường đất đỏ sát hông chợ Quảng Trị. So với năm ngoái, năm nay chợ đã phình ra thêm một đoạn. Thực phẩm đầy ắp, xanh tươi. Người đứng, kẻ ngồi, đi đi lại lại. Xe vượt qua. Tiếng động nằm sau lưng. Phía trước đã thấy hiện ra một chấm đỏ lưng chừng trời, ở trên đồi cao. Đến gần, chấm đỏ biến thành lá cờ bay bay như bàn tay vẫy dẫn lối. Xin mời về phía này. Xe rẽ sang phải, leo dốc ngắn. Thêm dăm bảy lá cờ. Lên đến đầu dốc, một rừng cờ đỏ rực trên một rừng người đê đứng thành đội ngũ chỉnh tề như một khối bê-tông vững chắc. Trên từng tấm biểu ngữ ai cũng có thể đọc được: “Công tìrnh đại thủy nông Nam Sông Thạch Hãn”. Nghe như thơ. Ở những biểu ngữ khác: “Lễ xuất quân của sư đoàn Kiến Giang 1”. Trong quá trình kháng chiến chống xâm lược Mỹ, lịch sử của sư đoàn này dày như một thành trì bất khuất đầy chiến tích anh hùng. Và cuối cùng hai câu thơ động viên khí thế ra quân: “Xẻ núi ngăn sông xây dựng nước. Tuổi trẻ đua tài quyết lập công”. Hàng chữ kẻ to trên tấm biểu ngữ đỏ chói. Dòng chữ này được thu nhỏ lại trên những dãi giấy trắng trên mũ, trên nón của mỗi người công nhân, cán bộ như một  lời nhắc nhở.

9 giờ. Sau phần nghi thức, diễn văn, pháo nổ báo hiệu giờ kéo quân ra hiện trường. Nhạc nổi lên từ chiếc loa bắc trên cao. “Quảng Bình quê ta ơi”. Khối người rung rinh toả ra từng đại đội mang một tên riêng, kéo qua khán đài rồi chảy về một con đường đất đỏ, “Nếu ai hỏi vì sao quê hương chúng ta nhiều ngói mới...” Nếu ai hỏi vì sao...? Đã nhiều câu hỏi như thế mọc lên cùng với nỗi ngạc nhiên của nhân loại trong thời kỳ bom đạn Mỹ rải thảm nơi này. Trong mỗi tấc đất đều chằn chịt vết thương. Thiên nhiên cùng xóm làng đều nằm rạp xuống thành mặt phẳng, chỉ có con người đã bền vững đứng lên. Những con người ấy hôm nay lại có mặt ở nơi này để lao vào trận mới. Nếu ai hỏi vì sao? Có lẽ chẳng phải hỏi gì nhiều mà chỉ thử cố gắng có mặt ở những giờ phút này thì sẽ hiểu vì sao. Tôi không còn ngạc nhiên vì sao giờ ra quân lại cho chạy băng bài hát này thay vì một hành khúc mạnh mẽ hơn. Tiếng hát dìu dặt, tình sâu nghĩa nặng với đất này cứ đẩy tình cảm con người lên cao mãi như thủy triều dâng. Sức mạnh hóa ra cũng có trong sự đằm thắm của  tình yêu nữa. Đoàn người cứ trôi đi, trôi đi trong tiếng hát. Những khuôn mặt trai trẻ rám nắng, những khuôn mặt gái hồng da nâu, cứ mờ đi rồi sáng lại trước mặt. Thuốn dài, cuốc xẻng trên vai, xe cút kít thô sơ bánh gỗ. Đòn gânh, gióng và rỗ tre. Đầm đơn, đầm đôi cũ kỹ. Băng ca bằng tre  đan... Đại đội nào cũng chỉ được trang bị từng ấy. Trên công trường Nam Thạch Hãn năy còn có lực lượng cơ giới nữa, nhưng nhìn đoàn quân này ra trận, tôi càng thấy rõ quyết tâm dời non lấp biển của dân tộc ta. Đoàn quân chân đất khuôn mặt hiền từ nhưng thách đố. Mỗi bàn chân có năm ngón. Mười ngón chân bám chặt mặt đất như những câu móc bằng thép nguội. Không gì gỡ ra nổi. Những băn chân bỗng chốc dạy cho tôi biết vì sao mặt đất quê hương này không bao giờ mất được. Những ngón chân rễ cây đại ngàn đã cắm sâu vào lòng đất nước. Cái hình của mỗi bàn chân bỗng mang riêng vẻ đẹp của khối hình điêu khắc chưa gọt đẽo. Nó chắc nịch và mạnh khỏe như được lấy ra từ những khối đá nguyên thủy. Những bàn chân, những bắp chân. Những bàn tay, những bờ vai, những khuôn mặt. Những khuôn mặt của chị, của em, của người tình. Nếu có ai hỏi vì sao... Nhìn sang các bạn bên phải, mặt ai cũng thoâng vẻ trầm ngâm. Nhìn sang bên trâi bắt gặp một bâc đại diện xã, tuổi ngoài sáu mươi. Trên mũ bác cũng có băng giấy mang giòng chữ: “Xã ni ngăn sông xây dựng nuớc. Tuổi trẻ đua tài quyết lập công”. Có thể bác cảm thấy mình chưa già hoặc bác đang nhớ lại cái thời trẻ trung đã qua đi. Sau đôi kính, hai con mắt bác đẫm ướt sương mù. Buổi ra quân không phải ngậm ngùi đâu nhưng bởi lòng yêu thương nhau, yêu thương những con  người trước mặt đã khiến mỗi người không còn tự chủ nổi. Nếu ai hỏi vì sao... V sao anh va tôi và bác đại diện xã có thể khóc dễ dàng trước những điều đơn giản như thế? Đơn giản như từng bộ áo quần nâu, như những khí cụ thô sơ, như những bàn chân trần quyết không la mặt đất quê hương này. Đơn giản mà lẫm liệt bên trong mỗi lòng ngực thanh xuân một trái tim rực lửa tình yêu. Yêu người. Yêu đời. Và vì quá yêu con người nên mỗi bàn tay, bàn chân kia muốn nước phải reo nhanh trong ruộng lúa, muốn duới những mái nhà có những bữa cơm no.

10 giờ 30. Quanh hiện trường là đồi núi nhấp nhô. Những mặt hồ bất ngờ nằm lặng lẽ. Lau tháng ba chưa cao, màu trắng nhạt. Mặt trời hiện ra. Trời trong vắt. Mặt hồ có thêm trái tim hồng. Hơn bốn nghn người đứng theo đội hình ở thế tiến công. Từ đỉnh đồi rải xuống tận chân đồi. Dưới những chiếc nón con gái chỉ còn đôi mắt. Những tấm khăn ô vuông, hoặc màu trắng ngà đã che khuất phần mũi miệng. Những con mắt một mí, những con mắt hai mí. Những con mắt to ngơ ngác hiền từ. Những con mắt nhỏ khôn ngoan, tinh nghịch.

Bỗng từ các loa vang lên tiếng giờ xuất quân. Pháo nổ rầm rang. Xa hơn, các cột mìn nổ ầm náo nức. Đội hình xao động, rảo nhanh và biến thành tốc độ. Đội nữ gánh đất từ đồi cao lao xuống nhanh như những cánh hải âu vụt xuống mặt sông. Tiếng trống tùng, tùng tùng, tùng thúc giục. Tiếng còi rú như tiếng chim chiền chiện reo trong lúa. Rừng cuốc đưa lên bổ xuống nhịp nhàng. Xe cút kít lan nhanh lóc cóc trên mặt đất khập khểnh. Cờ đỏ bay lao xao như chào mừng. Đội văn công cất tiếng hát, tiếng đàn để đốc thúc bàn tay bàn chân. Đầm đơn đầm đôi rập ràng nện chặt bờ đập mới nhú. Tiếng đập nhịp nhàng đến độ muốn khơi dậy một tiếng giờ nên đã quen. Nước ứa ra ở đoạn thấp của con kênh dự trù. Một tốp nữ tát nước ra ngoài, đều tay như múa. Hiện trường bỗng chốc mang cái khí hậu của một sân khấu rộng rãi ngoăi trời. Màu đất đỏ non tươi làm nền cho một đại vũ khúc mang tên “Công trình đại thủy nông Nam Sông Thạch Hãn”. Nửa giờ đã trôi qua mà nhịp dộ của thao tác vẫn không thay đổi. Những đội hình di chuyển vẫn đang dệt chéo nhau bằng những vận tốc chóng mặt. Những tấm khăn che mặt  được bật xuống để thấm mồ hôi. Mầu non tươi của đất đỏ đã về đậu trên môi, má của đội nữ gánh đất. Mặt nào cũng bỗng đáng yêu, bỗng trở thành vẻ đẹp. Sức khỏe nào đang reo ca trong những cánh tay, bờ vai, thân người và đôi chân rắn chắc đó. Cái thế lực đã thắp cho đôi mắt sáng hơn và còn muốn truyền sang cho mọi người cùng khỏe. Cái thế lực tươi tắn của một đất nước ở buổi bình minh của công cuộc xây dựng. Đồi cao đã phải nhượng mình trước sức người để chẻ lòng mình ra thành kính dẫn nước.

4 tháng 3.

Qua hết công trường Lệ Ninh đến công trường Triệu Hải. Múi nối giữa Lệ Ninh và Triệu Hải do 150 sĩ quan học tập cải tạo làm. Các công trường nối liền nhau bằng đồi cao và đồng thấp. Hết Triệu Hải đến Hương Điền, rồi Bến Hải và kết thúc ở đầu mối là Công ty 6. Từ  xóm Đá đứng ở đầu mối này nhìn sang bín kia sông là công trường 186 do  bộ đội đảm nhiệm. Mỗi công trường mang một vẻ mặt khác nhau. Cái phong cách lao động tưởng chừng đơn điệu không ngờ lại đa dạng đến thế. Đứng ở Lệ Ninh nghe tiếng trống Ninh Châu, tiếng còi rú thúc giục bàn tay bàn chân không lơi nhịp khẩn trương. Qua Triệu Hải dốc lài xuống đồng thấp, cái tiết nhịp và bộ điệu con người đã khâc đi. Như một dòng nhạc chuyển điệu không ngừng, và cứ thế cái tiết tấu chung chuyển theo từ công trường này qua công trường khác. Dưới những nhác cuốc dưới những cái đầm đập đất đã loáng thoáng thấy cái hình thù của một con kênh sắp hiện. Đã nghe ra tiếng xôn xao của một dòng nước chảy qua. Đi qua sáu công trường giữa nắng cháy cũng là đi hết chiều dài của  on kênh. Đứng trước con kênh sắp đầu thai vì lợi ích của con người nhớ những kênh đào năm xưa. Những con kênh Bắc Trung Nam đã bao nhiêu lần để buộc đất phải chẻ lòng mình thành cành nhánh, nối liền mạch sống của đời. Trên những con kênh xưa ghe thuyền đã quen lối. Trên con kênh này, mai đây thuyền cũng sẽ về bến đậu. Có nhiều bờ kênh xưa đã mọc lên nhà cửa và đời sống thiết lập để con người cùng lớn lên và cùng vui buồn với tuổi con kênh. Đứng ở đầu mối công truờng, giòng sông  Thạch Hãn chạy quanh một eo đất có xóm nhad ở, thấy giòng sông vô tư và  hồn nhiên trên giòng mạch cũ. Giòng nước ấy chưa hề biết đến cái số phận mới mẻ mà con người sắp lựa chọn cho mình. Một cái đập sẽ được chắn ngang khúc sông ấy để chuyển giòng nước chảy về giữa  làng xóm nhà kia. Xóm nhà rồi sẽ được khôi phục ở vùng đất mới. Những nề nếp cũ đang được sắp xếp lại trong một trật tự khác phù  hợp với lợi ích chung của con người. Bên hông những công trường này, đằng sau những cánh đồi nhấp nhô trùng điệp là con đường tiếp liệu phục vụ sắt thép và xi măng cho toàn bộ công tìrnh. Con đường dài 12 cây số ấy là mạch máu chính để nuôi các công trường lớn nhanh và sớm hoàn thành nhiệm vụ. Cái vùng đất này đang thay da đổi thịt hằng ngày.

Năm sau trở lại nơi này chắc chắn sẽ không thể tm ra câi khuôn mặt cũ. Đào một con kênh, khơi một giòng nước là hoán đổi toàn bộ cục diện của thiên nhiên và đời sống của con người. Mai đây, con kênh sẽ góp mặt với đời làm giàu có thêm cái giòng họ kênh đào  trên khắp đất  nước. Các làng mạc mới cũng từ đó thành hình vá sẽ lớn lên. Con kênh này sẽ kêu gọi những con kênh khác ra đời. Kênh chị, kênh em sẽ mọc lên cùng khắp để góp phần lợi ích của mình cho những con người mới trong một thời đại mang tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Điểm đáng nói ở những công trường này, hoặc những công trường khác trên khắp đất nước, không chỉ là sự lợi ích đa dạng của con kênh về các mặt thủy lợi, thông điện, thủy sản, lâm sản .v.v. mà qua những công trường ấy, chúng ta dễ nhận ra cái triết lý sâu sắc của những sức người bền bỉ. Trong chiến tranh, dân ta ăn môn vót trên rừng để triết lý với giặc bằng cây sng. Giữa xây dựng này cũng những con người ấy triết lý với đồi cao, với đất cứng bằng cái cuốc cái đầm. Một thứ triết lý đơn giản mà đáng kính đáng yêu biết bao để làm nên sự sống.

Rời công trường, hnh ảnh một con kênh nước xanh như ngọc lại thoáng hiện trong trí óc rồi nhường chỗ cho một nỗi nhớ khôn nguôi những con người đang pha lẫn mồ hôi mình cùng với biết bao nhiêu điều kỳ lạ còn mọc lên nơi đây.

Trịnh Công Sơn
Tháng 3 năm 1978.
(Tập san Văn Nghệ, BTT, số 9/7.1978)

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123