Quý trọng Trịnh Công Sơn, hãy viết đúng về anh

So với nhiều người ở Huế, tôi không phải là bạn thân của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhưng là người cùng quê, cùng lứa tuổi, cùng hoạt động văn nghệ, cùng tham gia phong trào đấu tranh ở đô thị nên tôi biết nhiều “chuyện đời” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà gần đây một số báo chí viết chưa đúng lắm. Để góp phần thực hiện một tiểu sử hoàn chỉnh của Trịnh Công Sơn- người nhạc sĩ được nhiều người quý trọng, tôi xin cung cấp mấy thông tin sau.

1. Trịnh Công Sơn không phải là người hoạt động văn nghệ phản chiến đầu tiên.

Cuối năm 1965 đầu năm 1966, trong giới sinh viên Huế-Sài Gòn đã xuất hiện các bài thơ phản chiến, kêu gọi hòa bình được phổ nhạc và rất được ưa thích như Tôi Ước Mơ, Kẻ Thù Ta, Để Lại Cho Em, Nhân Danh, Bi Hài Kịch... đặc biệt là tập thơ Vùng Tủi Nhục của Thái Luân. Khi phong trào tranh đấu bị đàn áp dữ dội, một số bạn bè của Trịnh Công Sơn bị bắt (Bửu Tôn), bị truy nã (Ngô Kha) và đi thoát ly (Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân) thì những bài thơ phổ nhạc ấy cũng đi vào “bí mật”. Những sự kiện tranh đấu đó đã tác động rất mạnh đến tình cảm Trịnh Công Sơn. Từ năm 1966, những bài nhạc phản chiến (“Ca Khc Da Văng”) của Trịnh Công Sơn soạn từ 1964, 1965 được phổ biến rộng và dần dà xem anh như “vị hoàng tử” của nhạc phản chiến.

Vào những năm 1960, Trịnh Công Sơn có một người bạn rất thân. Đó là Ngô Kha - nhà giáo thi sĩ bị bắt lính thành sĩ quan VN Cộng hoà. Trong mùa tranh đấu 1966, Ngô Kha là linh hồn của chiến đoàn Nguyễn Đại Thức - một tổ chức quân lính VNCH ly khai đánh nhau với quân Thiệu-Kỳ rất quyết liệt ở đèo Hải Vân. Sau đó, nếu Trịnh Công Sơn là người trốn lính thì Ngô Kha là người lính trốn và ngay sau đó Ngô Kha bị bắt. Hai người trốn lính và lính trốn này rất thân nhau và chịu ảnh hưởng của nhau. Sau khi mãn hạn tù Ngô Kha về làm thơ, làm tập san Tự Quyết kêu gọi hòa bình, thành lập Mặt trận Văn hóa dân tộc miền Trung. Trịnh Công Sơn có “Kinh Việt Nam”, “Nối Vòng Tay Lớn”, “Huế-Sài Gòn-Hà Nội” .v.v. Về sau, Ngô Kha bị chính quyền Sài Gòn thủ tiêu (1973), Trịnh Công Sơn hết sức đau đớn. Từ lập trường chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình một cách chung chung, Trịnh Công Sơn chuyển qua có khuynh hướng nghiêng về phía tranh đấu cách mạng, do một phần chịu ảnh hưởng của Ngô Kha.

2. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không phải là người hát rong

Trịnh Công Sơn có nói: “Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những tình cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo”. Người ta dựa vào câu nói này mà bảo Trịnh Công Sơn là người hát rong. Hát rong là người đi hát dạo để kiếm sống (xẩm chợ), như người hò vè Thất thủ kinh đô mà Huy Cận đã gặp ở phố cửa Đông Ba, hay những người mù ca Huế mà Eugène Lebris đã gặp và viết trong tập san Đô Thành Hiếu Cổ (BAVH). “Người hát rong” của Trịnh Công Sơn không mang cái nghĩa cũ ấy.

Cùng làm nhạc phản chiến với Trịnh Công Sơn lúc ấy, trên thế giới có Bob Dylan và Joan Baez. Cái cách vừa sáng tác (thơ, phổ nhạc và nhạc thơ) vừa cầm đàn đi biểu diễn trước đám đông đó, trên thế giới gọi là du ca. Người ta không nói du hát mà là du ca. Những bài du ca thường chưa hoàn chỉnh, còn nặng chất thơ. Du ca không có mục đích đi xin tiền mà là đi vận động kêu gọi cho một mục đích cao cả nào đó. Trịnh Công Sơn đích thực là một du ca cho ước vọng hòa bình. Sở dĩ Trịnh Cng Sơn không muốn dùng chữ du ca vì anh sợ nhầm với “phong trào” du ca do Nguyễn Đức Quang đứng đầu bên cạnh phong trào tranh đấu năm 1966. Theo tôi, du ca của Trịnh Công Sơn là tiền thân của phong trào Hát Cho Đồng Bào Tôi nghe rất thịnh hành vào những năm trước ngày thống nhất đất nước (30-4-1975).

3. Cần xem lại một số thông tin có liên quan đến cuộc đời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Từ nhiều nguồn khác nhau, gần một tháng qua, báo chí đã cung cấp cho bạn đọc nhiều thông tin về đời tư và đời nghệ sĩ của Trịnh Công Sơn rất thú vị. Tuy nhiên, do viết trong lúc thương tiếc, ngập tràn xúc động nên không khỏi có những chi tiết thiếu căn cứ.

Tôi đơn cử một sự việc mà tôi biết rất rõ. Một tờ báo ở TP.HCM có đăng tấm ảnh một người con trai Việt Nam chụp chung với một người đàn ông và một cô con gái phương Tây với lời chú thích:

 “Trịnh Công Sơn chụp chung với Charlie Chaplin (vua hề Charlot) và con gái ông - Geraldine Chaplin - tại khách sạn Morin (Huế) năm 1959 khi Sơn 20 tuổi”.

Nếu đúng như thế thì tấm ảnh sẽ “gây bất ngờ” thật. Nhưng theo tôi - một người quen biết gia đình Morin hiện nay ở Pháp và là soạn giả của tập sách nhỏ “100 năm khách sạn Sài Gòn Morin Huế (1901-2001)” - thì lời chú thích trên không phù hợp với sự thật lịch sử:

- Từ năm 1957, Ngô Đình Cẩn đã buộc ông Nguyễn Văn Yến phải giao khách sạn Morin lại cho ông Cẩn để ông ta cho Nhà nước VNCH lúc đó thuê làm trường Đại học Huế. Vì vậy, đến 1959 làm gì còn khách sạn Morin để đón khách Charlie Chaplin?

- Theo ông Nguyễn Đắc Vy (thân sinh của tôi, làm việc tại khách sạn Morin từ năm 1930 đến năm 1945) và nhà văn Thanh Tịnh (hướng dẫn viên du lịch nỗi tiếng ở Huế trước 1945) thì Charlie Chaplin có đến Huế một lần trước năm 1943. Năm ấy, Trịnh Công Sơn mới năm tuổi ta nên không thể là cậu thanh niên đẹp trai, mặc veston trịnh trọng đứng bên cạnh Charlie Chaplin như trong ảnh được.

- Trong niên biểu của Charlie Chaplin (1889-1977), vào năm 1959, không hề thấy có chi tiết nào chứng tỏ “Charlot” có đến Việt Nam cả.

Như vậy, người con trai trong tấm ảnh trên có phải là Trịnh Công Sơn không, hai người Tây phương trong ảnh có phải là cha con vua hề Charlot không, ảnh chụp năm nào, ở đâu... là những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu mới có thể chú thích một cách đúng đắn được (1).

Chuyện chú thích tấm ảnh vừa đề cập chỉ là một thông tin nhỏ về cuộc “đời chung” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tôi nghĩ còn rất nhiều thông tin có liên quan đến tiểu sử (đời chung và đời riêng) của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng cần phải xem lại khi có điều kiện thuận tiện.

Trịnh Công Sơn được đánh giá cao, được ngưỡng mộ, được xem như một trong những thần tượng của âm nhạc Việt Nam chính vì anh là Trịnh Công Sơn. Quý trọng, thương yêu anh thì nên viết đúng về anh. Mà muốn viết đúng thì phải có tài liệu chính xác, phải đặt anh trong chính hoàn cảnh của anh đã sống qua. Nếu không thì “yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau”

 TP Hồ Chí Minh, 26-4-2001

Vì sự quý trọng nên cần sửa lại cho đúng

Vừa qua, anh Bửu Ý mua hộ tôi cuốn sách quý Trịnh Công Sơn, một người thi ca một cõi đi về do các anh Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha và Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn, Nxb Âm Nhạc và Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây, Hà Nội, 5.2001 xuất bản.

Trong nỗi thương tiếc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, hơn tháng nay tôi có ý chờ cuốn sách nầy cho nên khi sách đến tay tôi đọc ngay và hết sức thú vị.

Cuốn sách được thực hiện tại Hà Nội, tôi không có cơ hội góp bài cho công trình của nhóm biên soạn. Với tư cách một người Huế biết chút đỉnh về thời trẻ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tôi xin làm “thầy cò” hộ các anh (chứ không phải cho các tác giả) một số chi tiết được viết trong sách mà tôi cho là chưa thật chính xác sau đây:

1. Một vài chú thích ảnh cần đính chính: Trịnh Công Sơn, một người thi ca một cõi đi về...in một sưu tập ảnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gồm 8 trang rất giá trị. Chỉ tiếc sách đăng ảnh ông Hồ Du Khuê gặp vua hề Charlot năm 1936 với chú thích nhầm là “Trịnh Công Sơn, vua hề Charlot, Huế 1959” (tr. ảnh thứ ba). Trang ảnh thứ tư, in ảnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với em gái Trịnh Vĩnh Thúy mà lại chú thích là “Khánh Ly - Trịnh Công Sơn, 1967”.  

2.  Sáu mươi hai năm“làm kiếp con người” của Trịnh Công Sơn rất rõ ràng. Mặc dù chưa ai công bố một tiểu sử đầy đủ nào của nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng 62 năm “làm kiếp con người” của anh thì gia đình và bạn bè anh đều biết rất rõ. Cho nên nhiều bạn đọc ở Huế rất tiếc khi thấy trong sách Trịnh Công Sơn, một người thi ca một cõi đi về có đoạn viết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:” Sinh ...tại Ban Mê Thuột, nhưng lớn lên ở quê nhà, thành phố Huế, trong tĩnh lặng ngôi chùa Hiếu Quang, nơi gia đình gởi ông vào vì nghèo và dường như nhìn thấy nơi bản thể ông căn nghiệp tu hành” (tr. 415).  Năm 1955, gia đnh qui y cho Trịnh Cng Sơn tại chùa Phổ Quang ở gần nhà thờ họ Trịnh tại dốc Bến Ngự, chứ khng phải chùa Hiếu Quang. Gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đều qui y theo Phật, nhưng suốt cuộc đời nhạc sĩ chưa bao giờ anh bị “gởi vào chùa vì gia đình nghèo cả”. Quý trọng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không nên gán cho anh những gì chưa từng xảy ra với anh. 

Tại trang 350 cuốn sách quí có viết :”Từ năm 1956 trở đi, trong vòng chừng 10 năm, Trịnh Công Sơn  là nhạc sĩ phản chiến duy nhất ở “miền Nam”. Như chúng ta đã biết cho đến năm 1959 Trịnh Công Sơn mới có bài hát đầu tiên ra đời mang tên Ướt mi và sau đó là một loạt nhạc tình chứ Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ phản chiến duy nhất ở miền Nam sớm như thế được. Có lẽ tác giả muốn viết từ năm 1966 trở đi chăng?  

Tại trang 418, sách viết: “Bản nhạc đầu tiên viết năm 1957 là Thương một người sau đó là Mưa hồng, là Diễm xưa viết sau mối tình đổ vỡ với Diễm, Hạ trắng cho người em gái của Diễm...” .Như trên đã viết, bài hát đầu tiên là Ướt mi ra đời năm 1959, cho nên năm 1957 không thể có bài Thương nhớ một người. Đối với Bích Diễm, Trịnh Công Sơn (và nhiều chàng trai cùng lứa tuổi) rất mê và Bích Diễm cũng có cảm tình riêng với Trịnh Công Sơn nhưng hai người chưa có một lời hẹn biển thề non nào để rồi sau đó đổ vỡ. Không nên hư cấu những thông tin mang tính lịch sử của một nhân vật văn hoá. Thông tin đăng trên báo mà chưa chính xác còn phải viết lại cho đúng. Thông tin trong sách sai mà không đính chính thì cái sai đó sẽ được nhân rộng và sẽ vô cùng tai hại về sau. 

3. Nên khai thác chuyện tình của các nghệ sĩ theo hướng nào?

Trong cuốn sách quí có kể một Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn sau đây:

Đấy là một buổi tối đẹp trời, tiệc cưới đã được bày trên một cái bàn ở ngoài sân cỏ. Trên bàn thắp nến. Thanh Thúy mặc áo đầm trắng nhảy tung tăng trên thềm. Trịnh Công Sơn rất vui nói với Trịnh Cung và Đinh Cường:” Nhí nhảnh như một con chim”. Tiệc đến nửa chừng thì nến tắt. Hai người bạn nhắm mắt lại để Sơn đeo nhẫn cho cô dâu (đấy là chiếc nhẫn mà Trịnh Cung và Đinh Cường góp tiền mua chung để mừng lễ cưới của bạn. Một giọt nước nóng bỏng rơi xuống lưng bàn tay làm Sơn suýt co tay lại.Đấy chính là giọt lệ của Thanh Thúy.[...] Đêm hôm đó, Trịnh Cung và Đinh Cường đưa cô dâu chú rể về phòng tân hôn là phòng riêng của Thanh Thúy. Đến cửa phòng thì hai anh quay về. Nhưng đi được một quãng khá xa thì họ chợt nghe tiếng giày lóc cóc đuổi theo sau lưng mình. Hai người ngoảnh lại nhìn, hóa ra người đuổi theo lại chính là chú rể Trịnh Công Sơn ! Sơn vừa thở hổn hễn vừa thanh minh:” Bỗng dưng ở lại một mình với một người đàn bà trước mặt, mình hoảng quá, không biết làm gì, đành bỏ chạy cho khoẻ.” (tr. 62-63).

Tôi được biết câu “chuyện lạ trong tình sử” nầy đã được đăng trên báo hồi sinh thời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vốn rất hiền từ,  nhưng khi đọc “chuyện lạ” nầy anh rất giận. Anh dùng những lời lẽ ít khi dùng để tỏ sự bất bình đối với người kể và người viết chuyện ấy. Không ngờ sau khi anh qua đời nó lại được “tái bản” với tất cả tính “khám phá” mới. Nếu quả thật Trịnh Công Sơn có một đám cưới như thế thì cái ông nhạc sĩ nầy tỏ ra quá ba-lơn trong việc hôn nhân. Rồi từ “sự thật” ấy người ta sẽ “nghiên cứu” suy diễn ra biết bao vấn đề phức tạp khác mà người viết không thể thấy hết được.

Sự thật mối quan hệ tình cảm giữa Trịnh Công Sơn với Thanh Thúy Tàu như thế nào, hoạ sĩ Đinh Cường là người trong cuộc đã viết rằng:

”Sơn có những cuộc si tình kỳ lạ. Kỷ niệm si tình đáng nhớ nhất là không biết Sơn mua chiếc nhẫn bằng platine bạc lúc nào, đeo ở ngón tay. Đêm đó, sau khi nhảy xong - thường là với Dung và Thanh Thúy Tàu (vì cô lai Tàu, và để phân biệt với ca sĩ Thanh Thúy). Sơn nói là có món quà tặng Thúy, chốc nữa về sẽ trao. Khi ra khỏi cửa phòng trà, giữa khuya, đi một đoạn đường Tự Do, thì Sơn nói Thanh Thúy nhắm mắt lại. Sơn lấy chiếc nhẫn đeo vào ngón tay đeo nhẫn cưới của Thanh Thúy, làm Thanh Thúy cảm động, bỏ chạy tới trước, chiếc robe trắng tung bay trong phố khuya. ...Đêm trên phố khuya ấy là một kỷ niệm đẹp.” (Đinh Cường, Tình bạn hồi sinh cơn hôn mê, tr.10)

Từ chuyện si tình (rất bình thường đối với các nghệ sĩ) tặng một chiếc nhẫn có sẵn diễn ra sau một buổi nhảy đầm, trên đường về giữa phố khuya dựng thành chuyện một đám cưới có tiệc cưới, có nến, có áo cưới, có cô dâu, có khách mời (Đinh Cường, Trịnh Cung), có quà cưới của bạn, có phòng cho đêm tân hôn...Một chuyện đẹp sao lại biến thành một chuyện ba-lơn ?

Nhân đây tôi xin có một ý kiến nhỏ: Xưa nay, ở phương Đông cũng như phương Tây, các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ ... người nào cũng có một khối chuyện tình. Nhưng người ta thường nhắc đến những chuyện tình đã có ảnh hưởng đến các tác phẩm. Nhắc đến những chuyện tình đó để hiểu tác phẩm sâu sắc hơn chứ không có nghĩa để khai thác đời tư của các nghệ sĩ. Những chuyện tình dù lâm ly ác liệt đến đâu mà không liên quan gì đến tác phẩm thì người ta vẫn phải tránh. Cuộc đới nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng như nhà thơ Xuân Diệu trước đây “yêu rất nhiều nhưng nhận chẳng được bao nhiêu”. Trịnh Công Sơn dự định cưới vợ nhiều lần nhưng vì “số mệnh” anh chưa cưới ai. Vì thế không nên gán cho anh đã từng có một đám cưới, nghĩa là đã từng có vợ.

Huế, 6.2001


(1) Theo bài nhà văn Thạch Lam phỏng vấn Charlie Chaplin đăng trên báo Phong Hoá, số 185 ra ngày 1.5.1936, thì Charlie Chaplin đến Việt Nam vào năm 1936. Tấm ảnh người thanh niên Việt Nam chụp chung với Charlie Chaplin là ông Hồ Du Quê làm việc ở Kho Bạc Huế. Trích lại của Sâm Thương và Lê Minh Quốc đăng trên báo Thanh Niên (Số 117, ra ngày 16.5.2001).

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123