Vô tình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có mặt trong những bước ngoặt đời tôi

Chơi với Trịnh Công Sơn, ở Huế, tôi luôn đứng sau nhiều người. Nhưng không hiểu sao, mỗi khi ngồi ngẫm lại chuyện mình tôi thấy thật lạ: trong những bước ngoặt đời tôi đều có Trịnh Công Sơn.

1. Sắp lại cuộc cờ:

Cuối tháng 4-1966, phong trào đấu tranh ở Huế cử tôi và Trần Duy Thọ lên Cao nguyên bàn biện pháp phối hợp với Phong trào ở Đà lạt (do anh Hồ Hữu Nhật cầm đầu). Làm việc xong, vào đêm 30 tháng 4, mấy người bạn Huế đang có mặt ở Đà Lạt rủ nhau đi dạo phố đêm. Xuất phát từ một biệt thự của chị Sâm (1) trên đường Trần Bình Trọng, vòng qua đồi Nhà thương để hướng lên phía phố. Ánh điện nhập nhòe trong sương mù mát dịu làm cho chúng tôi tách mình ra khỏi cái nóng bỏng của cuộc tranh đấu đang diễn ra suốt hai tháng qua ở miền Trung. Những người bạn Huế đêm ấy có linh mục Nguyễn Ngọc Lan, Trần Trọng Thức, Trịnh Công Sơn, chị Sâm (chủ biệt thự) và một ca sĩ mà sau này tôi được biết là Khánh Ly. Lúc ấy bài Tuổi đá buồn của Trịnh Công Sơn đang được ưa thích. Vừa đi Sơn vừa hát khe khẻ và bọn tôi hát theo. Cái hồn của bài nhạc gợi cho chúng tôi phải đề cập đến sự tàn bạo của cuộc chiến tranh của Mỹ đang diễn ra ở Việt Nam. Nhạc của Sơn nhưng vấn đề của bài nhạc là của cả thế hệ sống ở đô thị chúng tôi (theo cách nghĩ của tôi lúc ấy). Từ mùa hè 1965 chúng tôi đã theo khẩu hiệu trước Morin Huế “To be or not to be” (Sống hay là chết), “Không thể lấy tuổi trẻ Việt Nam làm củi đốt cho lò lửa chiến tranh”. Càng tranh đấu ở đô thị thì cuộc chiến càng diễn ra ác liệt ở nông thôn và rừng núi. Nói đến chuyện chiến tranh là nói đến sự bất lực của mình. Trịnh Công Sơn vừa đi vừa bảo chúng tôi: “Không ai hiểu được sự bất lực của chúng ta bằng chính chúng ta”. L.m.Nguyễn Ngọc Lan tiếp lời: “Bây giờ không còn con đường nào khác là con đường của Mặt trận Giải phóng”. Trịnh Công Sơn: “Có lẽ!”. Cho đến lúc đó tôi vẫn còn “thuần túy” là một sinh viên Phật tử, chưa hề có một tiếp xúc nào với cơ sở của Mặt trận Giải phóng. Nhưng không hiểu sao tôi cứ bị báo chí Sài Gòn và nhiều bạn bè nghi tôi là người của Mặt trận. Do đó mỗi khi nghe ai đề cập đến Mặt trận Giải phóng là tôi liền nghĩ họ nói để thăm dò tôi và tôi phản ứng lại bằng cách tảng lờ. Tuy nhiên, đêm hôm đó tôi không thể tảng lờ được trước nhận định của Nguyễn Ngọc Lan và Trịnh Công Sơn. Tôi không biểu đồng tình với hai người ấy nhưng hai chữ Mặt trận Giải phóng qua miệng hai người ấy đã ẩn sâu vào tâm trí tôi. Một ánh lửa lóe lên ở cuối đường hầm của cuộc đấu tranh đô thị. Mấy tháng sau Phong trào đấu tranh bị dìm trong biển máu. Theo một lá thư của Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi đã xóa tất cả những gì tôi đã có như xóa một bàn cờ để sắp và đánh lại. Tôi giả từ đô thị và mang dép cao-su đi theo con đường của Mặt trận Giải Phóng. Và rồi tôi cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường xuôi ngược Trường Sơn suốt 9 năm cho đến ngày cuộc chiến tranh được giải quyết đem thắng lợi về cho dân tộc Việt.

2. Từ rừng sâu đến liên hoan đám cưới:

Đời sống kháng chiến trong rừng rất bận rộn, không mấy ngày chúng tôi được nghỉ. Dọc đường hành quân men theo những suối nhỏ chúng tôi hay hát lâm nhâm trong miệng nhạc Trịnh Công Sơn, tiếng hát hòa cùng với tiếng suối trong veo. Một hôm tôi và Hoàng Phủ đi cải thiện gặp được cái mạch đầu tiên của nguồn Tả Trạch Sông Hương, một sự thú vị bất ngờ. Không bỏ lỡ cơ hội chúng tôi xúm lại vốc nước uống rồi dùng gai rừng viết tên Ngô Kha, Đinh Cường, Trịnh Công Sơn lên mấy chiếc lá đon và thả lá trôi theo dòng nước. Không hy vọng những chiếc lá ấy đến tay bạn, chỉ ước mong trên đường xuôi về biển lá trôi ngang qua thành phố có các bạn chúng tôi đang rộn ràng tranh đấu ở đó thôi. Nhớ nhau như thế cho nên ngay sau ngày thống nhất đất nước, chúng tôi rủ nhau về công tác ở hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế. Ngô Kha đã bị thủ tiêu trước ngày đất nước thống nhất, Đinh Cường, Hoàng Phủ, Bửu Chỉ có gia đình riêng, chỉ có Trịnh Công Sơn, Trần Vàng Sao, Trần Phá Nhạc, Lê Gành, Võ Quê và tôi “ăn cơm tập thể và ngủ giường tập thể”.  Đầu năm 1976, tôi lập gia đình, Trịnh Công Sơn có mặt trong đám hỏi và đám cưới của tôi. Hơn hai trăm bà con bạn bè đồng chí đồng sự đến phòng Khánh tiết trường Đồng Khánh (cũ) ăn bánh kẹo uống nước trà mừng tôi cưới vợ. Trịnh Công Sơn mang cây ghi-ta thùng đến hát mừng hạnh phúc của tôi và bắt nhịp cho các cô giáo Đồng Khánh - đồng nghiệp của vợ tôi, hát Nối Vòng Tay Lớn. Đám cưới mà không có áo cưới, không có tiệc ngồi tiệc đứng, chỉ có thơ và nhạc khiến cho tôi có cảm giác như một buổi liên hoan văn nghệ. Nhờ Trịnh Công Sơn mà cuộc liên hoan đám cưới “cách mạng” của tôi được bạn bè nhớ đời. Bây giờ mỗi lần giở xem lại những tấm ảnh đen trắng bác Lê Quang chụp Trịnh Công Sơn hát trong đám cưới, vợ chồng tôi không khỏi thốt lên “Đẹp quá!”. Những tấm ảnh ấy trở thành những hiện vật quý giá của gia đình chúng tôi ngày nay và của gia đình các con tôi sau nầy.

3. Tìm lại mình với Huế xưa:

Năm 1980, UNESCO phát Lời Kêu Gọi Cứu Vãn Huế. Huế được đánh giá là bài thờ đô thị tuyệt tác. Cố đô Huế rũ mình khỏi thân phận “phi sản xuất, ăn bám” để vươn lên và hình thành dần dần một trung tâm văn hóa du lịch Việt Nam. Khách du lịch trong và ngoài nước chú ý đến Huế. Vào khoảng các năm 1982-1983, Trịnh Công Sơn đưa nhiều nhạc sĩ Thành phố Hồ Chí Minh về thăm và hát ở quê mình. Tôi trở thành người hướng dẫn không chuyên cho các anh Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Phạm Trọng Cầu, Trần Long Ẩn, Trịnh Công Sơn...Tôi đã chuyền những hiểu biết Huế và sự nhiệt tình của tôi đến các anh. Các anh rất thích và tự nhận mình cũng là những người yêu Huế. Trịnh Công Sơn có nhận xét: “Chính mình là người Huế mà đến khi nghe Xuân nói mình mới biết”. Trịnh Công Sơn giục tôi phải viết những điều hiểu biết của tôi về Huế để cho mọi người đọc. Và không những Trịnh Công Sơn mà Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ cũng khuyến khích tôi như thế. Năm 1986, Hương Giang Cố Sự - cuốn sách đầu tiên chuyên đề Huế xưa của tôi ra đời do Bửu Chỉ vẽ bìa, tạp chí Sông Hương ấn hành trên 100.000 bản. Không ngờ cuốn sách nhỏ ấy đã đánh dấu một bước ngoặt của cuộc đời cầm bút của tôi. Từ ấy đến nay (2009) tôi đã có gần 50 đầu sách chuyên đề Huế xưa và hiện vẫn còn ăn khách ở thị trường sách du lịch ở Huế. Cái gợi ý mở hàng của Trịnh Công Sơn thật có giá trị.

Tôi tự hào thế hệ của tôi có Trịnh Công Sơn. Tôi quý trọng Sơn và tin tưởng Sơn. Cho nên những lời nói, những ý kiến của Sơn đã có ảnh hưởng đến tôi.

Ngày khánh thành khách sạn Sài Gòn Morin Huế (1998), Trịnh Công Sơn được mời làm khách danh dự. Cụ thân sinh tôi được mời với tư cách người làm việc cuối cùng của khách sạn nhà hàng Morin cũ (trước năm 1945) vẫn còn tại thế. Vô tình tôi chụp được một tấm ảnh thân sinh tôi ngồi với Trịnh Công Sơn trong Phòng trà. Không ngờ đó là tấm ảnh cuối cùng của thân sinh tôi. Ngày 24-3-2001, thân sinh tôi qua đời, và chì hơn một tuần sau, ngày 1-4-2001, Trịnh Công Sơn - bạn tôi, “giã từ cõi tạm”. Không thể một lần đeo hai băng tang. Cho nên miếng băng tang trên ngực áo tôi hôm nay một phần để nhớ cha một phần để tưởng niệm bạn - người đã vô tình có mặt trong nhiều bước ngoặt quan trọng của đời tôi.

Bên dòng Nhiêu Lộc, tháng 4.2001

 

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123