Về hiện tượng âm nhạc Trịnh Công Sơn

Trong việc phân chia các thời kỳ lịch sử tân nhạc Việt Nam người ta hay đề cập đến hai chữ “Tiền chiến”. Trong cách thế ấy, chúng tôi thuộc thế hệ trưởng thành thời “hậu chiến”. Thế hệ “hậu chiến” ấy ở Huế có nhiều người đã thành danh, đặc biệt nhất là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Trịnh Công Sơn đến giữa chúng tôi lặng lẽ như bao bạn bè cùng lứa tuổi khác. Các thần tượng của tuổi trẻ đã xa Huế đi kháng chiến và tập kết ở bên kia bờ Bến Hải. Chúng tôi bơ vơ làm thân “hậu chiến”. Trong hoàn cảnh bơ vơ ấy mỗi người với trình độ và tài năng khác nhau, tự tìm cho mình một con đường. Người theo triết học hiện sinh, người theo Mác, kẻ theo Phật, và cũng không hiếm người chạy theo tình. Thế rồi khi người Mỹ trực tiếp can thiệp vào Việt Nam, cuộc chiến mới lên ngôi, ý thức dân tộc trổi dậy. Tất cả những con đường nhỏ của cá nhân quy về đại lộ dân tộc. Hằng ngày nhìn cảnh quân đội Mỹ đổ bộ vào bến phà Tòa Khâm, súng đạn chất hành núi bên bờ sông Hương, chúng tôi cảm thấy bất lực trước cuộc chiến. Nỗi đau của dân tộc ngấm vào tuổi trẻ của chúng tôi. Chúng tôi không thể nói thẳng ý tưởng của mình trong hoàn cảnh chính trị đang tiếp tay cho người Mỹ làm chiến tranh ở Việt Nam. Với những cách thế khác nhau, thì người “chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện”, người bãi khóa, xuống đường đương đầu với vòi rồng lựu đạn cay, kẻ vùi đầu vào đống sách cũ để tìm đường “về nguồn”. Riêng Trịnh Công Sơn gởi nỗi lòng mình vào những giai điệu lãng đãng hồn nhiên mà buổi đầu nhiều người nghe hay nhưng chưa ai dám nghĩ đó là những tín hiệu của một thiên tài.

Trịnh Công Sơn trưởng thành thời “hậu chiến” đứng đầu bản nhạc phản chiến. Và không chỉ có nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn là vị hoàng tử của nhạc tình (Tình yêu đôi lứa, tình nước, tình người, thân phận làm người). Sự xuất hiện của âm nhạc Trịnh Công Sơn tạo thành một hiện tượng âm nhạc rất hiếm có. Tôi thích nghe nhạc nhưng không sành nên không dám bình luận gì về âm nhạc của Sơn. Bài viết ngắn này chỉ ghi lại những ấn tượng khó quên trong tâm trí tôi suốt mấy chục năm qua mà thôi.

Sau 1975, lần đầu tiên gặp tôi ở Hà Nội, thầy Đào Duy Anh hỏi ngay:

- Nầy, anh cho tôi biết “Tuyệt tình cốc” ở đâu và Trịnh Công Sơn là người như thế nào?

Tôi hết sức ngạc nhiên. Miền Nam có bao nhiêu chuyện đấu tranh mà sao thầy Đào Duy Anh không hỏi mà lại đi hỏi tôi chuyện ấy? Tôi nghĩ những chuyện ấy rất riêng tư của bọn tôi và nó cũng đã đi vào dĩ vãng hàng chục năm rồi, tại sao Thầy ở tận cái Thủ đô Hà Nội xa xôi ngăn cách với miền Nam này lại có thể biết được và bây giờ đem ra hỏi tôi. Hơn nữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là loại nhạc phản chiến, ở chiến trường và miền Bắc xã hội chủ nghĩa có ai biết và có ai dám hát đâu, thế tại sao Thầy biết? Không dấu được sự ngạc nhiên tôi hỏi:

- Dạ thưa từ nguồn nào mà Thầy biết cái tên “Tuyệt tình cốc” với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vậy?

Thầy Đào Duy Anh vui vẻ nói ngay:

- Tôi đọc bài Thế Uyên viết trên báo Bách Khoa ở Sài Gòn cách đây đã lâu! Và đã nghe hết mấy cuốn băng cassette nhạc Trịnh Công Sơn của bà con ở Sài Gòn gởi ra. Nhưng đến bây giờ tôi mới gặp được anh là người trong cuộc và là bạn Trịnh Công Sơn!

Tôi đi kháng chiến từ mùa hè năm 1966, tôi chưa đọc số Bách Khoa mà thầy Đào Duy Anh đã đọc. Nhưng nhắc đến Thế Uyên thì tôi nhớ ngay. Hồi cuối năm 1965 (hay đầu năm 1966 gì đó), chúng tôi có một đêm gặp mặt trong ngôi nhà tranh (mệnh danh là “Tuyệt tình cốc”) của anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan ở gần chợ Xép, gồm có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà văn Sài Gòn Thế Uyên, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Thanh Xuân (nhà báo Hải Nam này nay), Trần Quang Long và một vài người nữa mà tôi không còn nhớ tên. Đêm đó chúng tôi nói về những bế tắc của tuổi trẻ trước cuộc chiến. Quan điểm của chúng tôi là lên án Mỹ. Thế Uyên biện giải đây là cuộc chiến tranh của hai phe “quốc cộng”. Trịnh Công Sơn phát biểu bằng cách hát bài “Đàn Bò vào Thành phố” (tức Du Mục), “Tuổi đá buồn”... Không rõ Thế Uyên phản ảnh trên báo Bách Khoa nội dung đêm gặp mặt đó như thế nào chứ thực sự thì lúc đó tất cả những người có mặt đều nói rõ lập trường của mình. Sau đêm gặp mặt ở mái nhà tranh “Tuyệt tình cốc” Thế Uyên trở lại Sài Gòn, còn chúng tôi phần lớn đi theo Mặt trận giải phóng, Trịnh Công Sơn xê dịch giữa hai bên. Chuyện cũ hiện lên trong tâm trí tôi và tôi đáp lời Thầy Đào:

- Trịnh Công Sơn là bạn con, con người anh như nhạc của anh mà Thầy đã nghe!

Thầy Đào Duy Anh hạ một câu:

- Cái anh Trịnh Công Sơn này lạ thật, anh ta muốn ôm hết những mâu thuẫn và khát vọng của đất nước vào mình.

Tôi không ngờ Thầy Đào Duy Anh khái quát tư tưởng trong âm nhạc của bạn tôi đến như thế.

Sau ngày thống nhất đất nước, cùng với hàng hóa tiêu dùng của miền Nam, các băng nhạc của Trịnh Công Sơn bắt đầu xâm nhập giới trí thức miền Bắc. Đứng trên lầu 51 Trần Hưng Đạo (Hà Nội) - Cơ quan Văn nghệ miền Nam, tôi nghe vang vọng từ phía Nhà xuất bản Văn Học một gia đình nào đó mở Gia Tài Của Mẹ, Nối Vòng Tay Lớn...của Trịnh Công Sơn. Tiếng nhạc phát ra từ một cuốn băng cũ nghe eo éo rất khó chịu nhưng vẫn được quay lui quay tới hoài. Người ta thích nghe những giai điệu khác lạ nên bất chấp kỹ thuật cũ kỹ.

Ở Huế, sau ngày thống nhất đất nước âm nhạc cách mạng rất thịnh hành. Đó là cái bề nổi, còn cái phần chìm thì ca khúc Trịnh Công Sơn và ca nhạc mà có thời bị đặt cho cái tên là “nhạc vàng” vẫn tồn tại. Bà mẹ vợ của tôi, chồng bị bệnh nằm một chỗ đã nhiều năm, một tay nuôi 8 đứa con dại. Mùa hè năm 1975, cậu con trai thứ hai lại bị mất tích trên đường theo bộ đội vào giải phóng Sài Gòn. Bà hết sức đau khổ. Hằng ngày đứng nấu cơm rữa chén phục vụ gia đình bà tự an ủi mình với “Cỏ xót xa đưa”. Bà mẹ đẻ của tôi ở Đà Lạt, hơn nửa đời người vất vả nuôi con, cuối đời rất sùng đạo Phật. Bà thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn vì bà cho rằng nhạc Trịnh Công Sơn có hơi hám “cát bụi giải thoát”. Biết Trịnh Công Sơn ở Huế thiếu rượu, nhân về thăm tôi bà làm một thẩu rượu dâu ôm về Huế tặng Sơn. Sau năm 1975, xe đò chật như nêm mà mẹ tôi ôm một thẩu rượu chạy qua gần tám trăm cây số để về Huế tặng Sơn không phải là một chuyện dễ. Nếu không quý mến Sơn một bà già trên 65 tuổi không thể làm được việc đó.

Người ta nói âm nhạc Trịnh Công Sơn chỉ thích hợp với tuổi trẻ. Các bà mẹ tôi không còn trẻ nữa mà cũng thích nhạc Trịnh Công Sơn. Các bà thích không phải vì tuổi còn yêu mà chính là nhạc Sơn đã nói hộ các bà về thân phận của kiếp người sống trong cõi tạm. Các bà mẹ tôi thích nhạc Trịnh Công Sơn khi chưa biết Trịnh Công Sơn là ai cả. Cũng giống như các em bé trên miền núi huyện Hướng Hóa (Quảng Bình) vào những đêm trăng quây quần giữa sân hát vang “Em sẽ là mùa xuân của mẹ, em sẽ là màu nắng của cha...”, các em không biết tác giả bài ca ấy là ai. Các em cũng không cần biết tác giả làm gì. Các em chỉ cần biết lời của bài ca đó chính là ước mơ của các em.

Trong ca từ của Trịnh Công Sơn rất khó tìm được một địa danh, nhân danh Huế. Nhưng đặc điểm của văn hóa Huế đã ăn sâu vào tâm hồn Sơn, các giai điệu trong nhạc Sơn xuất phát từ giọng cổ, từ âm giai ngũ cung lơ lớ của ca nhạc truyền thống Huế cho nên người Huế không sợ sai khi bảo rằng Trịnh Công Sơn là thiên tài âm nhạc của Huế. Giáo sư Tiến sĩ Cao Huy Thuần dạy Đại học Amiens (Pháp) khẳng định rằng: “Trong nghề ca hát ở Việt Nam, chưa có ai nâng lời nhạc lên đến mức thơ như Trịnh Công Sơn. Nếu Sơn không xuất thân từ Huế, chưa chắc Sơn đã thi sĩ như vậy. Sơn là giọt máu của Huế”. Bởi thế sau ngày thành lập, cách đây gần mười lăm năm, Hội Người Yêu Huế tại Pháp đã tổ chức vận động cho Huế bằng cách mời Thanh Hải và Kim Chính trình diễn mấy đêm nhạc Trịnh Công Sơn tại Paris. Kết quả thu được rất mỹ mãn.

Nhà tôi bên bờ một nhánh sông Hương, bị bao vây bởi ba bốn quán cà-phê. Không ngày nào tôi không nghe nhạc Trịnh Công Sơn. Điều này làm cho tôi suy nghĩ mãi là tại sao người ta nghe nhạc Trịnh Công Sơn suốt ngày mà không biết chán. Ban ngày ngồi uống cà-phê nghe những bản nhạc ấy, tối lại ở các tụ điểm âm nhạc, các ca sĩ lại hát những bản nhạc ấy họ lại mua vé đi nghe. Khi nghe giới thiệu sắp đến tiết mục ca khúc Trịnh Công Sơn tất cả đều háo hức chờ đợi để vỗ tay. Hiện tượng này rất giống như khán giả Hát Bội ngày xưa vậy. Người ta đã biết tuồng tích, thuộc lòng các loại hát Khách, hát Nam thế mà trời tối nghe trống giục vẫn thu xếp việc nhà cầm theo cái quạt giấy đi xem. Đối với ca Huế, Cải Lương, Chèo cũng vậy. Người ta đã thuộc, thuộc đến nỗi có thể nhảy lên sân khấu diễn được như thế mà vẫn chen nhau đi xem, di xem không chán. Phải chăng một số ca khúc Trịnh Công Sơn cũng đã trở thành dân ca hiện đại?

Tất cả những điều đó ám ảnh tâm trí ti. Do đâu, yếu tố gì, hoàn cảnh nào mà các ca khúc Trịnh Công Sơn lại có độ bền vững, một sức lan tỏa rộng khắp, vượt lên thời gian và hoàn cảnh như thế? Người ta hát nhạc Trịnh Công Sơn không phải vì tác giả. Giờ đây Trịnh Công Sơn đã vĩnh biệt cuộc đời, hiện tượng âm nhạc Trịnh Công Sơn vẫn còn đó. Ai sẽ giải tỏa giùm tôi nỗi ám ảnh ấy?      

Bên sông Nhiêu Lộc, 4.2001

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123