Tâm tình một người nghiên cứu Huế với nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn là một thiên tài âm nhạc, một nhân vật văn hoá lớn của Việt Nam thế kỷ XX. Cuộc đời anh thuộc về lịch sử dân tộc, không của riêng ai. Lịch sử thì rất cứng đầu, những gì không thực thì không bao giờ tồn tại. Chỉ có một vần đề những người yêu mến anh suy tính là: “Chuyện gì đó liên quan đến anh hôm nay đã nên viết ra hay chưa? Nếu viết ra chưa tiện thì hãy để đó chứ không nên viết khác”. Bởi vì viết khác là làm nhiễu thông tin, sẽ có người cải chính đâm ra phiền. Viết khác có nghĩa là cố tình viết sai sự thực để minh họa cho một ý tưởng cá nhân nào đó khác với chuyện muốn viết sự thực nhưng do trình độ, do thiếu thông tin nên viết chưa tới. Những gì viết chưa tới mà được người biết chuyện giúp thông tin để viết cho tới thì quý hóa vô cùng. Nên hoan nghinh.

Từ sau ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “trở về với cát bụi” (1-4-2001), có một số phương tiện truyền thông trong và ngoài nước đưa nhiều tin tức liên quan đến thời gian nhạc sĩ Trịnh Công Sơn công tác tại quê nhà Thừa Thiên Huế sau ngày thống nhất đất nước (30-4-1975), không đúng với sự thực. Sự “không đúng” ấy đã gây ra nhiều ngộ nhận đáng tiếc. Ngộ nhận ngay cả với một số người thân nhất của Sơn. Tôi không có đủ thời gian và phương tiện để kê ra đây hết những thông tin sai sự thực và những ngộ nhận đáng tiếc đã xảy ra. Trong hoàn cảnh công tác của mình lúc ấy và mối quan hệ bạn bè với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi chỉ có thể kể một số chuyện để góp phần “ni lại cho rõ” những thông tin sai sự thực mà nhiều người muốn biết sự thực.

1. Chuyện bắt đầu từ Hà Nội

Tháng 5 năm 1975, đi chữa bệnh ở nước ngoài về, trước khi trở lại Huế tôi và một số anh em sinh viên học sinh từng đã tham gia các Phong trào đấu tranh ở các đô thị miền Nam, được đến thăm nhà thơ Tố Hữu tại nhà riêng của ông trên đường Phan Đình Phùng. Ông Tố Hữu biết tôi có quan hệ bạn bè với các nhạc sĩ Phạm Duy, Trịnh Công Sơn nên đã dặn tôi:

- “Em vào Sài Gòn nói với các anh Phạm Duy, Trịnh Công Sơn hãy cứ ở đó chứ đừng đi đâu cả. Đất nước thống nhất rồi, nói với anh Phạm Duy tiếp tục sáng tác đi. Lấy khúc đầu (kháng chiến) nối với khúc đuôi (hoà bình), để khúc giữa qua một bên !” [1]

Giữa tháng 5-1975 tôi vào Huế rồi đi Đà Lạt thăm mẹ tôi. Nhân thể tôi ghé vào Sài Gòn thì được biết anh Phạm Duy đã đi rồi, còn anh Trịnh Công Sơn thì đã tham gia công tác với “anh em Phong trào” Sài Gòn ngay khi chính quyền Sài Gòn vừa đầu hàng quân đội Giải phóng. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vô tình đã thực hiện đúng với sự mong muốn của ông Tố Hữu. Tuy nhiên, qua những bạn bè vừa đi chữa bệnh ở miền Bắc về cho biết : “Đối với lãnh đạo thì không có vấn đề gì, nhưng có nhiều “anh em Phong trào” ở Sài Gòn không thích quan điểm lập trường chung chung của Trịnh Công Sơn trước đây”. Trước khi đi thoát ly kháng chiến, tôi xuất thân trong Phong trào Phật giáo nên quan điểm lập trường của tôi cũng chung chung thế thôi. Sau khi đi kháng chiến đụng đầu với địch, nếu không dứt khoát chuyện địch ta thì khó có thể thắng được đối phương hùng mạnh như thế nên tôi phải thay đổi. Với kinh nghiệm bản thân, tôi hiểu hoàn cảnh của Trịnh Công Sơn. Khi có điều kiện đi vào thực tế, tôi tin là Trịnh Công Sơn sẽ tự xác định được chỗ đứng của mình. Cho dù “nhận thức cách mạng” của tôi và Trịnh Công Sơn lúc ấy có một độ chênh như thế, nhưng trong ý nghĩ của tôi vẫn không có bất cứ một sự phân biệt nào đối với Sơn.

2. “Công” nhiều hơn “tội” (nếu có).

Trước ngày thống nhất đất nước nhiều sinh viên Huế bị đánh bật khỏi Huế, hoặc bị địch bắt đưa vào giam ở các tỉnh phía Nam hoặc bị đưa ra đảo cầm tù. Sau ngày giải phóng, những người có trách nhiệm với Phong trào sinh viên học sinh Huế đánh điện mời anh em về Huế. Hai người về trước là hoa sĩ Bửu Chỉ và sinh viên Luật Nguyễn Duy Hiền. Có lẽ do tác động của anh Nguyễn Khoa Điềm (Phó ban Tuyên giáo Thành ủy Huế) và Hoàng Phủ Ngọc Tường (Trưởng ty Thông tin Văn hoá Quảng Trị vừa về công tác ở Huế) nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng được mời về Huế để lập Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế. Như thế Trịnh Công Sơn thoát được cái “không khí nghi kỵ” ở Sài Gòn thời gian sau tháng 5-1975.

Rồi một hôm...đi ngang qua trường Đại học Sư phạm, tôi thấy mặt trước trường treo một tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: “Hạ bệ Phạm Duy-Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn”. Tôi hơi bất ngờ nhưng rồi tôi cũng hiểu được. Tôi nghĩ ngay đến mối quan hệ giữa một số anh em Phong trào ở Đại học Sư phạm với những người mà sau nầy gọi là “các ông Ba mươi” ở Sài Gòn. Tôi hiểu được chuyện quá khích đó một phần nhờ vào những hiểu biết Phong trào Vệ binh đỏ của Trung Quốc mà tôi đã thu thập được trong thời gian nằm chữa bệnh ở Quế Lâm. Khẩu hiệu tranh đấu treo lên thì rất dễ nhưng lấy xuống thì cả một vấn đề. Tôi cũng như nhiều người bạn yêu quý Trịnh Công Sơn khác thấy việc sinh viên Đại học Sư phạm Huế đặt thái độ chính trị của Trịnh Công Sơn ngang với Phạm Duy và Hoàng Thi Thơ là không đúng với thực tế nhưng không ai dám lên tiếng bảo vệ. Bản thân tôi tuy là Đảng viên nhưng lý lịch quan hệ lung tung, nếu phát biểu “ngoài luồng” là bị qui là “xét lại” ngay. Vì thế có nhiều người đến Hội Văn nghệ than phiền với tôi về tấm banderole nêu trên, tôi vẫn ngậm câm. Trịnh Công Sơn rất buồn, không ngờ anh về quê hương lại bị giội một gáo nước lạnh như thế.

Một buổi tối tôi được mời toạ đàm tại Hội Văn Nghệ để trả lời câu hỏi “Trịnh Công Sơn có công hay có tội ?” Cuộc toạ đàm hôm ấy tôi còn nhớ rõ có Lê Khắc Cầm (đại diện cho cơ sở trí thức ở Huế), Trần Viết Ngạc (Phụ trách giáo dục), Trần Hoàn (Trưởng ty TTVH), Thanh Hải, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân (các cây bút chủ chốt của Hội Văn Nghệ vừa ở chiến khu về), và một vài người nữa tôi không còn nhớ tên...Tôi không nhớ những ai đã phát biểu lên án và những ai đã bảo vệ cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tôi chỉ nhớ anh em đề cập đến “tội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là anh đã làm nhạc phản chiến một cách chung chung, không phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng dân tộc (bài “Gia Tài Của Mẹ” với câu Hai mươi năm nội chiến từng ngày), thậm chí anh còn làm nhạc ca ngợi địch (bài “Cho Một Người Nằm Xuống thương tiếc Đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tử trận)...Nhiều người phát biểu biện hộ cho Trịnh Công Sơn:“Đúng là Trịnh Công Sơn đã làm nhiều bản nhạc phản chiến, anh được mệnh danh là người làm nhạc phản chiến số 1 thời ấy giống như Bob Dylan, Joan Baez ở bên Mỹ. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tự do, anh theo đuổi chủ nghĩa nhân bản chung chung khác chúng ta. Nhưng anh làm nhạc trong vùng tạm chiếm, người nghe nhạc phản chiến của anh là lính Cộng hoà. Rất nhiều lính của Thiệu đã bỏ ngũ vì nghe bản nhạc Người con gái da vàng của anh. Chẳng có người lính cách mạng nào bỏ ngũ vì nghe nhạc của Trịnh Công Sơn cả. Cũng như ngày xưa bên Trung Quốc, Trương Lương thổi sáo đâu phải để cho quân mình buông kiếm! Đâu phải tự dưng chính quyền Thiệu ra lịnh trịch thu những bài hát của Sơn”. Để minh hoạ cho ý tưởng đó, một anh nào đó (hình như anh Trần Viết Ngạc hay anh Lê Khắc Cầm gì đó tôi không nhớ) lấy trong cặp ra một xấp báo Sài Gòn xuất bản trước tháng 5-1975 có đăng lịnh của Thiệu cấm phổ biến nhạc Trịnh Công Sơn, lịnh cấm mang số 33 ngày 8-2-1969. Xấp tư liệu có sức thuyết phục lớn đối với những người tham dự toạ đàm. Trong không khí dễ cảm thông đó, hình như anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đã kể : “Hồi ở trên rừng khi nghe Trịnh Công Sơn sáng tác bài Cho một người nằm xuống thương tiếc Đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tôi rất tiếc cho Sơn. Sau nầy được biết, trong những năm tháng Sơn trốn lính căng thẳng, Lưu Kim Cương đã tận tình che chở cho Sơn, chính vì cái ơn ấy mà Sơn đã viết băi ấy. Ta nên thông cảm cho hoàn cảnh đặc biệt của một người nghệ sĩ”. Kể “tội” xong, anh em nói đến “công” của Sơn. Trịnh Công Sơn đã cùng với Ngô Kha làm báo Tự Quyết, Mặt Trận Văn Hoá Dân Tộc Miền Trung – do cơ sở của Thành úy Huế tổ chức. Sơn sáng tác nhiều bài nhạc kêu gọi hoà bình hoà hợp dân tộc thống nhất đất nước theo chủ trương của Mặt trận Giải phóng như các bài Huế-Sài Gòn-Hà Nội, Nối Vòng Tay Lớn, Ngọn Lửa Thích Chơn Thể... Những bài nhạc nầy có ảnh hưởng tốt đối với các phong trào đấu tranh yêu nước ở các đô thị miền Nam trước ngày đất nước thống nhất.

Kết luận của cuộc toạ đàm là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc chưa có hoàn cảnh quan hệ với Cách mạng thì có một quan điểm yêu nước chung chung, Sau khi quan hệ với cơ sở cách mạng (trong đó có Ngô Kha), quan điểm lập trường của Trịnh Công Sơn trong giai đoạn cuối của cuộc đấu tranh yêu nước đứng hẳn về phía Cách mạng. Như thế “công” của Trịnh Công Sơn lớn hơn ‘tội” của anh (nếu có).

Sau cuộc toạ đàm tổ chức giao cho anh Hoàng Phủ Ngọc Tường- bạn thân của Trịnh Công Sơn, trao đổi với Trịnh Công Sơn viết tự nhận xét mình. Đây là một hình thức kiểm điểm cán bộ - một sinh hoạt thường xuyên của tổ chức cách mạng. Cho đến lúc ấy tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tự kiểm điểm không biết bao nhiều lần. Những bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường bị viết lại. Chính vì thế mà có người muốn được thông qua đã viết quá về những khuyết nhược điểm của mình để cho xong việc. Với kinh nghiệm ấy anh Tường đã khuyên Trịnh Công Sơn nên làm lẹ đi. Trịnh Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt nầy cho nên có ý trách anh Tường “đã ép Trịnh Công Sơn”. Về sau có người khai thác chuyện nầy gây cho quần chúng yêu mến Trịnh Công Sơn ở trong nước và ngoài nước suốt một thời gian dài hiểu lầm anh Tường đến nỗi những người hiểu anh Tường phải đứng ra “làm chứng” cho anh Tường mới dập tắt được sự hiểu lầm ấy.

Tôi không nhớ tấm banderole treo trước Đại học Sư phạm được lấy xuống trước hay sau khi có cuộc toạ đàm “Trịnh Công Sơn có công hay có tội”. Nhưng dù sao hai sự kiện ấy cũng có quan hệ với nhau. Nhờ sự đánh giá của cuộc tọa đàm, dư luận trong các cơ quan tư tưởng chính trị (văn hoá văn nghệ) yên tâm về người nhạc sĩ đã có ảnh hưởng lớn trong quần chúng trước tháng 5-1975 ở miền Nam.

3. Trịnh Công Sơn cũng là một người viết ký hay.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được biên chế vào hội Văn Nghệ Thừa Thiên Huế. Được sống hoà đồng, được lĩnh mọi tiêu chuẩn về vật chất giống như anh em văn nghệ, với cán bộ kháng chiến, Trịnh Công Sơn rất vui. Đặc biệt những người ái mộ anh không còn e dè gì trước mọi người để đến chơi với anh ở gian nhà đầy kỷ niệm 11/3 Nguyễn Trường Tộ.

Trước và sau Tềt Bính Thn 1976 - cái tết giải phóng đầu tiên, thành phố Huế rộn ràng chuẩn bị “chiến dịch” truy quét văn hoá phẩm “dâm ô” và “phản động”. Nhiều cuộc toạ đàm, hội họp thảo luận ráo riết về các nội dung “dâm ô” và “phản động”. Những anh em trí thức ở Huế am hiểu văn học vùng tạm chiếm được mời tham luận hay phát biểu về hai nội dung trên. Trong sổ tay của tôi còn ghi một đoạn ghi chép sau đây:

“Họp tối 9-2-1976 tại Thành ủy Huế.

Chủ đề: Quét sạch xuất bản phẩm phản động và dâm ô.

Thành phần tham sự có 31 người, trong đó có Trần Hoàn (TTVH tỉnh TTH); Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Đắc Xuân (Tuyên huấn Thành phố), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ, Võ Quê, Tô Nhuận Vỹ, Lê Khắc Cầm (Hội Văn Nghệ Tỉnh), Bửu Nam (Sinh viên Đại học), Nguyễn Văn Bổn (tức Tần Hoài Dạ Vũ, Trường học)...

Phát biểu của Trịnh Công Sơn: “Văn hoá là nhu cầu của tinh thần, không thể xoá sạch được. Muốn xoá sạch phải có cái khác thay thế, còn không thì không thể xóa được. Phải “chống” và “xây dựng” song hành. Ta phải có văn hoá của ta: Đó là một thứ văn hoá “có thực”chứ không phải thứ văn hoá “dựng đứng”. Nói về những thứ ta chống phải nói như thế nào, nói không khéo lại mắc phải khuyết điểm tuyên truyền cho ngưới ta tìm đọc. Văn hoá phẩm “đồi trụy” dễ xoá chứ nói “phản động” thì khó hơn. Địch sử dụng Tivi, Radio, sách báo... Ta chống thì cũng phải qua các cửa ngõ đó. Phải có kế hoạch và liên tục”.

Hơn hai mươi sáu năm sau (1976-2002), đọc lại mấy dòng ghi chép ý kiến của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong cuốn sổ tay cũ, tôi hết sức thú vị. Nếu Trịnh Công Sơn không có một quan điểm chính trị đúng đắn, không có một trình độ văn hoá cao, không có một tình cảm yêu cuộc sống mới chân thành, không được tự do tư tưởng, không tin mình, không dũng cảm thì làm sao anh có thể phát ra được những ý kiến chí lý đến như thế giữa một cuộc họp mang tinh tư tưởng chính trị như thế ?

Sau tháng 5-1975, hơi nhạc của Trịnh Công Sơn chưa nhập được với nhịp điệu của cuộc sống mới nên nhạc mới của anh chưa hay. Nhiều người tiếc cho anh đã làm những bài ca ngợi lao động sản xuất như bài nói về một cô gái nông thôn: “Gánh, gánh,gánh, gánh rau về chợ”. Một người làm tình ca mang tính triết lý trừu tượng nổi tiếng làm sao mới đầu hôm sáng mai có thể chuyển mạch qua sáng tác theo “hiện thực xã hội chủ nghĩa” được ? Bản thân tôi cho đến lúc ấy đã trải qua hàng chục năm tranh đấu và kháng chiến mà cũng chưa có được một câu thơ nào ca ngợi sản xuất cả ! (Về sản xuất tôi chỉ viết truyện và ký thôi) .Cho nên lúc ấy nghe Trịnh Công Sơn trình bày những “sáng tác mới” phục vụ sản xuất của anh, tôi vừa phục anh vừa quý anh. Phục là anh đã chịu khó dấn thân vào thực tế, viết phục vụ chính trị của đất nước vừa hoà bình độc lập. Chất nhạc vẫn là nhạc Trịnh Công Sơn, không lẫn vào đâu được, chỉ phần lời hơi thô thiển xa lạ với ca từ vốn có của anh thôi. Quý anh là một nhạc sĩ nổi tiếng như thế mà vẫn không tự kiêu tự mãn với quá khứ của mình mà chịu cùng anh em bạn bè dấn thân vào cuộc sống mới, sáng tác để góp một cái gì mừng đất nước hoà bình độc lập. Tôi không rõ các anh Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán...sau ngày tiếp quản Hà Nội (1955) có “chịu chơi” như Trịnh Công Sơn sau 5-1975 không ?

Trịnh Công Sơn biết “nhạc mới” của mnh chưa hay, anh phục vụ văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa bằng những bút ký. Sau mỗi lần đi thực tế ở Bnh Trị Thiên, anh luôn có một ghi chép hay bút ký rất thú vị. Sau lần đi thực tế công trường xây dựng thủy lợi Nam Thạch Hãn anh có bút ký Nam Thạch Hãn Những Ngày Đầu Tháng Ba (Văn Nghệ BBT, số 9/năm 1978), đi chuyến tàu thống nhất đầu tiên anh có ghi chép và cả một bài nhạc nữa. Có lẽ đây là một bài viết không thể thiếu trong lịch sử phục hồi đường sắt sau ngày nước nhà thống nhất. Trịnh Công Sơn đã tham dự Trại sáng tác Cồn Hến[2].. Dự trại sáng tác mà Trịnh Công Sơn không viết nhạc mà lại viết ký. Rất tiếc các báo chí của Trung ương lúc ấy còn quá thiên về chính trị nên những bài viết của anh chỉ đăng trên báo chí địa phương và đoàn thể như Văn Nghệ Thừa Thiên Huế, Văn Nghệ Bình Trị Thiên, Đứng Dậy...Do đó không có nhiều người được đọc ghi chép, bút ký vào thời ấy của anh. Tôi rất quý anh nên tôi còn giữ được một số bài viết của anh trong giai đoạn nầy. Hồi trước ngày giỗ đầu của Trịnh Công Sơn (1-4-2002) tôi đã sao các bài viết ấy + nhạc phẩm kèm theo các bài viết gởi tặng nhà phê bình văn học Đặng Tiến ở Pháp và Hội quán Hội Ngộ ở Thành phố Hồ Chí Minh [3];

Xin trích lời của bài hát:

Con Đường Mùa Xuân:

1. Đường đã tới Bắc Nam (hm..hm) nay lại gặp nhau

Bao (...) nhiêu (...) con người là bao yêu dấu

Đường đã nối chuyến xe (ĩ...e) hai miền chạy mau

Con sông reo mừng cười dưới chân cầu

Trên quê hương xuân vinh quang đất nước xanh lại mấy lần

Một rừng cờ tươi như son đang vẫy tay chào nắng lên

Hà Nội tươi sáng mắt nhìn miền Nam trái tim chồi non

Đường trăm năm đến trong (hm..hm) một ngày

Một ngày chúng ta tới

Chào toàn thế giới nầy

Đường đã tới nước ta là một từ đây

Bước chân vững vàng về tương lai mới

Toàn thế giới sâng lên một mặt trời thôi

Nơi đây anh hùng là những con người.

2. Đường đã tới có trong (hm..hm) tiếng cười trẻ thơ

Bao nhiêu hy vọng màu xanh như lá

Đường đã tới có trong những đời tự do

Bao nhiêu xuân hồng rực rỡ đi về

Nghe trong ta xuân bao la, vĩnh viễn không còn xuân chờ

Từng cuộc đời, vươn tay xa, gieo xuống những mùa ấm no

Ngày mai tiếng hát lên từ, hạt cơm trắng không buồn lo

Miền đất hứa, chúng ta (á...a) đang về

Vội vàng bước chân nhé,

Nhịp nhàng sức thi đua.

Đường đã tới, có trong độc lập tự do

Bao nhiêu con người dựng xây khai phá

Đường sẽ tới, có trên (hm...hm) khắp miền gần xa

Long lanh ánh đèn, lộng lẫy phố nhà.

(Văn Nghệ Thừa Thiên Huế, số 1 Tháng ba /1976, tr.70-71)

4. Đi cải tạo hay đi sản xuất tự túc?

Tôi không rõ căn cứ vào tài liệu nào mà có người (kể cả một người thân nào đó của Trịnh Công Sơn nói trên đài VOA) bảo rằng sau tháng 5-1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã bị đi cải tạo ở Thừa Thiên Huế. Nhiều bạn bè của tôi rất có uy tín, rất được tín nhiệm ngày nay hồi ấy cũng đã từng bị đi cải tạo một thời gian. Không riêng gì những người có dính một chút với “ngụy quân ngụy quyền” phải đi cải tạo, hồi còn chiến tranh, nhiều cán bộ đảng viên cách mạng hẵn hoi chỉ vì một câu nói bị hiểu lầm cũng đã phải mang ba-lô vào trại sản xuất kia mà. Cho nên hối ấy, nếu không được Thành ủy Huế và các anh chị em trong Phong trào hiểu Trịnh Công Sơn, Trịnh Công Sơn (với những cái “tội” nêu trên) có bị đi cải tạo ít tuần cũng là chuyện bình thường. May mắn là chuyện ấy không hề xảy ra đối với anh. Các hoạ sĩ Đinh Cường (hiện ở Virginia, Mỹ), hoạ sĩ Tôn Thất Văn (hiện ở Thành phố HCM), nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà dịch thuật Bửu Ý, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đang sống ở Huế) rất thân thiết với Trịnh Công Sơn đều khẳng định không có chuyện ấy. Thế mà có người viết:

Vùng kinh tế mới – nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bị đày dưới hình thức lao động cải tạo nằm ngay biên giới của tỉnh Quảng Trị. Những ngày lụt nước ngập ngang ngực, ngày nào cũng có người bị chết hoặc bị thương do mìn nổ. Ở đó, một gia đình nông dân có con gái ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, cho ông mượn trâu để cày bừa...” (Hoàng Dược Thảo, Những sự thật nên viết ra về một thiên tài âm nhạc vừa năm xuống, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn... tài liệu lấy trên Internet, tr. 2/7).

Nhưng vì sao lại có dư luận ấy ? Theo tôi, trừ những người cố tình xuyên tạc sự thực để bôi nhọ Việt Nam sau tháng 5-1975, có lẽ người ta đã hiểu nhầm việc đi lao động sản xuất tự túc là đi cải tạo chăng ? Nếu quan niệm đi tham gia lao động sản xuất tự túc là đi cải tạo thì cả Đảng bộ và chính quyền Thừa Thiên Huế lúc ấy đều bị đi cải tạo cả. Thời ấy có ông bà thủ trưởng xuống tận người gác cửa cơ quan nào không đi lao động sản xuất sắn khoai để tự túc một phần lương thực đâu ? Đầu năm 1977, tôi vừa có con đầu lòng, phải đi Bnh Điền sản xuất tự túc, chiều về ngồi trong trại nhớ con không cầm được nước mắt. Nhưng nào tôi có xin miễn được đâu ! Đi sản xuất rất vất vả, nhiều nữ giáo viên không biết đi xe đạp, phải nhờ chồng “thồ đi thồ về”. Nếu chồng không ‘thồ” được thì phải đi bộ từ bốn năm giờ sáng. Chiều về phải tám chín giờ tối mới lết được đến nhà. Chuyện bắt cả bộ máy nhà nươc, sinh viên học sinh, giáo viên...bỏ việc chuyên môn, bỏ việc dạy và học đi phá rừng cuốc rẫy, đào lề đường để trồng khoai sắn sản xuất tự túc là một chủ trương sai lầm [4]. Bây giờ nhớ lại chuyện ấy không ai không chê trách. Nhưng nói chuyện đi sản xuất tự túc là đi lao động cải tạo là hoàn toàn xuyên tạc. Đối với anh em văn nghệ sĩ lúc ấy đi sản xuất tự túc như một cuộc đi chơi. Sắn khoai thu hoạch được không đủ bù vào tiền mua gạo, thức ăn mang theo và tiền mua xăng ô-tô đi sản xuất. Đó là chưa nói đến việc các văn nghệ sĩ không biết làm nông, mùa nắng gây cháy rừng, mùa mưa gây xói mòn sạt lỡ đất đai rất tai hại. Chính nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cùng với các nhà văn nhà thơ Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế (sau năm 1977 là Bình Trị Thiên) đã gây ra vụ cháy rừng thông trong khu vực lăng Minh Mạng. Nếu không nhờ dân và cán bộ đến dập tắt đám cháy kịp thời thì có thể tiêu luôn khu lăng Minh Mạng. May lúc đó xã hội chưa xem trọng di tích văn hoá nên báo chí cho là chuyện bình thường, không một tiếng phê bình. Do đó anh em văn nghệ xem chuyện cháy ấy như một kỷ niệm hồn nhiên của mình. Sau nhiều lần đi sản xuất tự túc, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã khoe với Mai (tức ca sĩ Khánh Ly) trong một lá thư gởi sang Mỹ rằng: “Anh kể cho Mai nghe, bây giờ anh giỏi hơn Mai nhiều. Anh biết trồng khoai, trồng sắn và cấy lúa”. Có điều Trịnh Công Sơn không kể với Khánh Ly là lần đầu đi trồng sắn anh đã gặm cái đầu hom sắn xuống đất nên những cái hom ấy chết khô chứ không mọc được. Ôi còn biết bao chuyện buồn cười trong cái buổi đầu “xây dựng xã hội chủ nghĩa” ở cái đất Cố đô Huế ấy.

Mà lạ thật, cuộc sống thiếu thốn mọi bề, nhưng tôi thấy Trịnh Công Sơn rất vui. Vì ai cũng thiếu thốn cả chứ có như “kẻ ăn không hết người lần không ra” như bây giờ đâu! Tôi còn giữ được mấy tấm ảnh Trịnh Công Sơn chụp hồi đầu năm 1976, trông anh khoẻ và đẹp lắm. Anh sống một mình ở gian nhà cũ 11/3 Nguyễn Trường Tộ, nhưng ít khi anh phải ngủ một mình. Không có Ngụy Ngữ thì có Trần Phá Nhạc, không có Tôn Thất Văn thì có Đinh Cường, không có Bửu Ý thì có Định Giang, không có Đặng Ngọc Vịnh thì có Lữ Quỳnh hay một anh chàng Hà Nội nào đó mến mộ Trịnh Công Sơn đi qua Huế ghé thăm anh chơi...Một số bạn mới ái mộ anh cũng thường đến ở với anh như Mạnh Đạt (nhạc sĩ), Vinh Nguyễn (nhà thơ)... Những người mới có gia đnh như Hoàng Phủ Ngọc Tường, như tôi (NĐX) thì ít khi đến ngủ với anh, thay vào đó là chúng tôi hay mời anh về nhà ăn cơm. Đi ăn cơm khách nhưng Trịnh Công Sơn không thích ăn mà chỉ thích có một xị “quốc lũi” hay xị rượu trắng Phủ Cam cay cay là thích nhất. Những lúc anh em đi Hà Nội kiếm mua được một chai Vốt-ca của Liên-xô thì quý hoá vô cùng.

5. Quê hương chỉ là “Một cõi đi về”

Có thể nói trước ngày đất nước thống nhất hàng chục năm Trịnh Công Sơn đã là một nhạc sĩ rất nổi tiếng. Dù anh phải đi trốn lính, đi tham gia Phong trào tranh đấu hay núp dưới bóng mẹ ở nhà, bao giờ anh cũng được bạn bè và gia đình chăm sóc miếng cơm manh áo hết sức chu đáo. Sau tháng 5-1975, anh được mời về Huế tham gia công tác ở Hội Văn Nghệ, mừng gặp lại bạn bè cũ, mừng đất nước hoà bình thống nhất, vui thì có vui nhưng thật sự đó là một giai đoạn thử thách ghê gớm đối với đời sống của anh. Với lương tháng 64 đồng là cao so với cân bộ [5] nhưng đối với Trịnh Công Sơn, số tiền ấy không đủ để mua thuốc hút và mua rượu cho ba mươi ngày. Bởi thế mỗi tháng thân mẫu anh phải gởi thêm cho anh một chỉ vàng và một vài ký-lô thịt bò thưng[6] hay thịt Răm-bông. Sau mỗi lần nhận quà của mẹ, nhà Trịnh Công Sơn liên tiếp có những “tiệc” rượu nhỏ. Tiệc cho đến hôm tiệt hết quà của mẹ gởi mới thôi. Người anh càng ngày càng gầy rộc đi. Bởi thế mỗi năm có đến mấy bận Trịnh Công Sơn phải xin phép vào Thành phố Hồ Chí Minh thăm mẹ. Nói đúng hơn là thăm mẹ để được mẹ bồi dưỡng lấy lại sức khoẻ. Nhiều lần Trịnh Công Sơn vào ở nín trong Thành phố hàng mấy chục ngày, nhân đó anh tiếp xúc với bạn bè, văn nghệ sĩ của Thành phố. Anh gặp lại Phạm Trọng Cầu, Trần Long Ẩn, và quen thêm Hoàng Hiệp, Nguyễn Quang Sâng .v.v. Qua bạn bè, anh biết lãnh đạo của Thành phố cũng có người mến mộ anh. Biết hoàn cảnh của Trịnh Công Sơn ở Huế có nhiều “bất tiện”, vào ra xe cộ khó khăn, anh em gợi ý Trịnh Cng Sơn nên xin chuyển công tác vào Thành phố Hồ Chí Minh, anh em sẽ giúp xin lãnh đạo Thành phố chấp nhận anh. Ý kiến đó phù hợp với sự mong muốn của gia đình Trịnh Cng Sơn và có lẽ cũng “phù hợp” với ý muốn trả Trịnh Công Sơn lại cho miền Nam của một số người ở Bình Trị Thiên. Vào giữa năm 1978, tôi không nhớ vào tháng nào, Trịnh Công Sơn về Huế làm hồ sơ chuyển công tác. Nghe tin đó chúng tôi hết sức tiếc, nhưng cũng nhận thấy như thế là hợp lý, Trịnh Công Sơn không thể kéo dài cuộc sống bấp bênh “ăn ít uống nhiều” ở gian nhà nhiều kỷ niệm trước nhà thờ Phủ Cam lâu hơn nữa. Và, thân mẫu của anh cũng không thể rút ruột kéo dài tình trạng phải gởi cho con trai làm công tác cách mạng ở Huế mỗi tháng một chỉ vàng mãi được. Lúc bấy giờ khan hiếm gạo nên quán hàng bán rượu cất từ sắn tươi. Nhiều khi người ta còn bỏ cả thuốc rầy vào rượu để tăng nồng độ của rượu. Tôi đã chứng kiến một vài lần Trịnh Công Sơn uống rượu sắn với Dương Toàn Thắng (em ruột của nhạc sĩ Mạnh Đạt) và ói mửa ra mật xanh mật vàng ngay tại chỗ. Không rõ có phải vì uống rượu độc hại mà sau đó không lâu Dương Toàn Thắng chết vì xơ gan cổ trướng không!

Trịnh Công Sơn vào Nam, giao gian nhà kỷ niệm lại cho vợ chồng anh chị Hoàng Phủ Ngọc Tường-Lâm Thị Mỹ Dạ. Không ngờ sau đó một năm (1979), anh chị Tường Dạ lại giao gian nhà đó lại cho vợ chồng tôi (theo đề nghị của nhà văn Thanh Tịnh) để chị Dạ đi Hà Nội học ở trường viết văn Nguyễn Du, anh Tường bồng bế các con vào tá túc trên mảnh đất của gia đình ở Cầu Sơn quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Ch Minh [7]. Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức cách mạng tiêu biểu, có quá trình tham gia kháng chiến của tỉnh Bình Trị Thiên mà cũng ra đi. Điều đó chứng tỏ lúc ấy có một cái dịch “chất xám của Bình Trị Thiên” chảy vào miền Nam. Trước và sau thời điểm Trịnh Công Sơn chuyển công tác (1978), nhóm thanh niên Quảng Nam công tác ở Thành đoàn Huế trước và sau ngày Giải phóng chuyển vào Đà Nẵng (Lê Công Cơ, Nguyễn Thanh Minh, Huỳnh Phước....), một số hoạ sĩ bỏ nhiệm sở vào Nam hành nghề tự do như Đinh Cường, Hồ Hoàng Đài, Tôn Thất Văn...một số cây bút năng động của Huế như Trần Phá Nhạc, Lữ Quỳnh, Tần Hoài Dạ Vũ (Nguyễn Văn Bổn)...cũng không ở được phải vào Nam. Vào Nam thất nghiệp có người phải ra nằm ngoài bến xe Miền Đông để bán sách dạo, có người đạp xích-lô nuôi vợ con. Một số bác sĩ làm việc ở Bệnh viện Huế quen biết chúng tôi vào Biên Hoà tỉnh Đồng Nai. Một số cán bộ từ Hà Nội, Quảng Bình ở không nổi cũng xin đi (Trần Công Tấn, Lê Bá Sinh...). Nhiều người thấy bạn bè của tôi “nam tiến” cả, họ ngạc nhiên hỏi tôi: “Ủa, ông chưa đi à?” Sự thật ở Huế tôi cũng xấc bất xang bang chứ có được gì đâu, nhưng ngặt vì tôi là người nghiên cứu Huế bỏ Huế mà đi thì lấy gì mà nghiên cứu nên phải ở lại cho đến ngày nay. Nhắc lại vài dòng như thế để thấy việc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở lại miền Nam năm 1978 là một tất yếu. Không có cách nào khác hơn.

Cũng có người nói nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phải rời quê hương lúc ấy vì anh không đủ sức chống đỡ với những thế lực kèn cựa anh. Chuyện kèn cựa tài năng ở đâu và thời nào chẳng có! Chuyện ấy nhắm mắt nói cũng đúng. Mà khi Trịnh Công Sơn đã vào Thành phố Hồ Chí Minh rồi những kẻ kèn cựa tài năng với anh có buông tha anh đâu ! Và, cho mãi đến khi tôi nhớ và viết lại những dòng nầy phải chăng chuyện kèn cựa với Trịnh Công Sơn đã hết? Nếu hết chuyện kèn cựa thì có lẽ ông Nguyễn Văn Quang – Bí thư Thành ủy Huế hiện nay (2002) đã có thể thực hiện được lời hứa với báo chí “dành một con đường ở Huế đặt tên Trịnh Công Sơn” và dành một nơi làm “Một cõi đi về” cho Trịnh Công Sơn ở Huế rồi ! Nếu hết chuyện kèn cựa thì có lẽ không còn có người tuyên bố xanh rờn rằng:“Ca khúc mà như của Trịnh Công Sơn thì một ngày mình có thể làm đến mười bài !” Có nghĩa là cả sự nghiệp hơn 600 ca khúc của Trịnh Công Sơn con “người nhạc sĩ” có câu tuyên bố xanh rờn ấy chỉ làm trong 60 ngày (hai tháng) là xong tất! Những người được nghe câu tuyên bố trên cầu nguyện cho mình được sống đến ngày “tác phẩm của cả đời người” của ông “nhạc sĩ tài ba” trên ra đời để xem sao.

Khoảng năm 1982, Trịnh Công Sơn đưa một đoàn nhạc sĩ Thành phố Hồ Chí Minh về thăm Huế. Tôi hướng dẫn đoàn đi chơi và tối về ở lại tại Biệt thự 11 Lý Thường Kiệt. Các anh Phạm Trọng Cầu, Hoàng Hiệp, Trần Long Ẩn và chính Trịnh Công Sơn hát cho tôi nghe những bài hát mới của Trịnh Công Sơn như Huyền Thoại Mẹ,Vẫn Có Em Bên Đời, Em Nông Trường Anh Ra Biên Giới, Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên...Tôi hết sức xúc động. Nếu Trịnh Công Sơn không có những cảm xúc mạnh về cuộc sống mới thì không bao giờ anh có thể viết được những bài hát cách mạng như thế. Bà mẹ trong Huyền Thoại Mẹ giống như những bà mẹ đã nuôi tôi ở vùng Truồi, Nước Ngọt hồi chiến tranh. Nhạc cách mạng mà vẫn rất triết lý như thường:

Mẹ là gió uốn quanh / Trên đời con thầm lặng

Trong câu hát thanh bình / Mẹ làm gió mong manh

Mẹ là nước chứa chan / Trôi dùm con phiền muộn

Cho đời mãi trong lành / Mẹ chìm dưới gian nan.”

Trịnh Công Sơn tập cho tôi hát hai bài Huyền Thoại MẹVẫn Có Em Bên Đời.... Hát những câu: “Em bây giờ quen sương nắng, tóc trên vai vấn vương bụi hồng....Từ trên đất nầy những con người mới mọc lên tựa tia nắng giữa chân trời” làm cho tôi nhớ lại hình ảnh những cô gái trên công trường Nam Thạch Hãn mà Trịnh Công Sơn đã ghi lại trong bút ký nêu trên. Đoạn cuối bút ký ấy Trịnh Công Sơn viết:

Rời công trường (Nam Thạch Hãn), hình ảnh một con kinh nước xanh như ngọc lại thoáng hiện trong trí óc rồi nhường chỗ cho một nỗi nhớ khôn nguôi những con người đang pha lẫn mồ hôi mình cùng với đất. Với sức người như thế biết bao nhiêu điều kỳ lạ còn mọc lên nơi đây” (T/c đã dẫn tr.20).

Trịnh Công Sơn thấy những cô gái trên công trường Nam Thạch Hãn ở Quảng Trị vào những ngày đầu xây dựng đất nước, những cô thanh niên xung phong trên nông trường Dương Minh Xuân đã trải qua thử thách bộc lộ được vẽ đẹp mới của mình. Vẽ đẹp ấy đã làm cho cảm xúc của Trịnh Công Sơn chín muồi, anh không cần phải viết bút ký nữa mà đưa ngay vào nhạc.

Vào cuối những năm bảy mươi đầu những năm tám mươi tôi phải sống trong một hoàn cảnh hết sức bức xúc. Nhiều người thân trong gia đình tôi và gia đình bà xã tôi, nhiều người bạn của tôi mới gặp lại nhau sau tháng 5-1975, rùng rùng đi làm hồ sơ xin bảo lảnh ra nước ngoài hoặc âm thầm cởi sóng bể vượt biên. Một ông cậu của vợ tôi bảo tôi: “Ở xứ mình bây giờ cái cột đèn ra đi được nó cũng ra đi!” Tôi biết thế nhưng không nói năng được gì. Để khỏi phiền, tôi giả lơ và tìm cách lẫn tránh để khỏi bị nghi kỵ. Thơ văn, bút mực của tôi không có nghĩa lý gì đối với cái “dịch vượt biên” ấy. Bất ngờ sau đó tôi được nghe bài Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên của Trịnh Công Sơn với câu: “Em ra đi nơi nầy vẫn thế”. Trịnh Công Sơn thay mặt cho tất cả những người ở trong nước thuộc thế hệ tôi gởi đến những người ra đi lời khẳng định chỗ đứng của mình trong lòng dân tộc hồi ấy. Các bạn tôi ở nước ngoài phản ứng dữ dội. Và cho đến ngày nay nhiều người ở nước ngoài đã thích hát bài Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên nhưng vẫn lên án Trịnh Công Sơn. Các trang Web của những lực lượng thù địch với Việt Nam vẫn còn nóng với những bài phê phán Trịnh Công Sơn “theo Việt Cộng”. Có lần tôi hỏi Trịnh Công Sơn: “Ông có biết người ta lên án ông đã sáng tác bài hát Em Còn Nhớ ...không?” Sơn cười tùm tỉm: “Mình biết lắm. Qua Paris có lúc mình phải đi trốn. Qua Canada họ đến chỗ mình hát quậy tơi bời. Nhưng mình làm sao sống khác hơn, viết khác hơn!” Thời bài hát ấy ra đời tôi đang say sưa nghiên cứu Huế nên không theo dõi “thời sự sáng tác thơ nhạc” lúc ấy nên không rõ có nhạc sĩ nào, nhà thơ nhà văn nào có tác phẩm “chống vượt biên” và có tác dụng như bài hát trên của Trịnh Công Sơn không? Một giáo sư Đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh bảo tôi rằng:

-“Chỉ riêng cái thành tích Trịnh Công Sơn viết những bài hát Huyền Thoại Mẹ, Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, Vẫn Có Em Bên Đời, Em Là Hoa Hồng Nhỏ...ra đời vào những năm tám mươi khó khăn ấy cũng đủ trao cho tác giả những giải thưởng văn học nghệ thuật cao nhất rồi! Nhưng... Nói theo kiểu Trịnh Công Sơn: "Thôi kệ.

Nhiều người bạn của tôi và cũng là bạn của Trịnh Công Sơn ngày ấy ra đi bây giờ về thăm nhà gặp tôi thừa nhận rằng: “Lúc đó mà Việt Nam cởi mở như thế nầy thì chẳng có mấy ai phải ra đi. Trịnh Công Sơn và các ông xác định được chỗ đứng của mình trong hoàn cảnh khó khăn lúc ấy là rất giỏi, rất đúng”. Theo tôi, chuyện đúng hay sai để cho lịch sử viết. Đối với tôi anh em bây giờ gặp lại nhau trong cảnh hoà bình độc lập như thế nầy là quí lắm rồi. Xem chuyện cũ như những kỷ niệm, ai viết được gì thì cứ viết và viết cho trung thực để cho con cháu của bọn mình sau nầy đọc chơi. Còn chuyện “đi hay ở” của Trịnh Công Sơn, có lần tôi hỏi anh và anh tâm sự với tôi: “Thú thật, mình xa cái đất nước nầy mình chịu không nổi và cũng không sáng tác được ông à! Bọn mình mà sống sướng chưa chắc đã làm được như đã làm! Mình sáng tác trong hoàn cảnh khó khăn, trong lúc vui buồn với đất nước. Sống sướng về vật chất chưa chắc đã sáng tác được. Sống mà không sáng tác được làm sao sống ông? Các em mình chúng đi hết rồi. Nếu mình bị bắt ra nước ngoài chắc mình phải vượt biên ngược về thôi!”

Từ sau ngày đất nước thống nhất (5-1975) trải qua những năm “bao cấp” khó khăn cho đến ngày có chính sách đổi mới hội nhập, Trịnh Công Sơn đã có cùng hơi thở với đất nước. Như thế đã đủ tiêu chuẩn để vinh danh anh rồi. Sau nầy thực tế cuộc sống diễn ra không đúng với suy nghĩ của anh, anh lại có những trăn trở mới, có những sáng tác mới. Đó là chuyện dễ hiểu đối với một nghệ sĩ sống với tư duy độc lập của mình.

Giai đoạn cuối đời Trịnh Công Sơn sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều người hiểu Trịnh Công Sơn hơn tôi, cho nên tôi xin kết thúc bài viết nầy với một câu: “Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vĩ đại vì anh đã đem hết tài năng, sự sống suốt đời anh phụng sự quốc gia dân tộc.”


Chú thích:

[1] Sau nầy được anh Chế Lan Viên cho biết: Gặp Giâo sư Trần Văn Khê, ông Tố Hữu cũng dặn như thế. ( Xem Hồi ký Lá rụng về cội của Chế Lan Viên, T/c Sông Hương số 21- tháng 9 và 10-1986, tr. 5)

[2] Dự Trại sáng tác Cồn Hến, Hoàng Phủ Ngọc Tường hoan thành Bút ký Rất Nhiều Ánh Lửa rất hay

[3] Xem thêm các Phụ lục ở cuối sách

[4] Trong một cuộc họp tại Thành ủy Huế lúc ấy tôi đã phê phán chuyện nầy. Tôi cũng đã được một bài học: “Đảng viên phải nói theo Nghị quyết. Nói không đúng với Nghi quyết sản xuất tự túc là khuyết điểm, phải kiểm điểm.” Tôi không kiểm điểm nhưng may mắn cũng không hề bị kỷ luật gì. Nhiều cán bộ công tác ở Văn phòng Thành ủy Huế lúc đó, ngày nay vẫn còn nhớ chuyện nầy.

[5] Lúc đó lương tháng của tôi chỉ có 58 đồng. ”

[6] Theo Vinh Nguyễn (người được TCS cho ở chung nhà) cho biết thân mẫu của Trịnh Công Sơn có dặn rằng: “Mỗi lần ăn lấy ra hai cục bỏ trong chén và hấp khi cơm sôi. Khi ăn xé nhỏ và có muốn thêm gia vị thì tùy...

[7] Ở Cầu Sơn được một năm, anh Tường cảm thấy “Cầu Sơn rớt xuống cơn sầu” nên đến tháng 6 năm 1980, lại dọn ra Huế, gia đình tôi chuyển về 16 Lý Thường Kiệt, gian nhà nhiều kỷ niệm của Trịnh Công Sơn lại giao lại cho anh chị Tường Dạ.

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123