Ngô Kha -Trịnh Công Sơn từ tình bạn đến tình nước

Ở đâu, vào giai đoạn nào của cuộc đời, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có nhiều bạn. Bạn của Trịnh Công Sơn chịu ảnh hưởng của anh và ngược lại, anh cũng không thể không chịu ảnh hưởng của bạn anh. Không thể hiểu cặn kẽ cuộc đời sáng tác của Trịnh Công Sơn nếu không hiểu những người bạn tâm giao trong những hoàn cảnh đặc biệt của anh.

Sau sự kiện tết Mậu thân 1968, người ta không hiểu vì sao từ lập trường phản chiến chung chung trong Ca Khúc Da Vàng nhạc của Trịnh Công Sơn bỗng hào hùng dần lên và hướng đến kêu gọi giải phóng dân tộc qua các tập Kinh Việt Nam, Ta Phải Thấy Mặt Trời. Những người gần anh trong giai đoạn đó giải thích rằng :“Sở dĩ có sự thay đổi ấy vì Trịnh Công Sơn đã chịu ảnh hưởng từ cuộc sống và thơ văn của các bạn đang hoạt động yêu nước lúc ấy, đặc biệt là với Ngô Kha - người bạn và có thời cũng là em rể của anh”. 

Vậy Ngô Kha là ai? Ngô Kha đã ảnh hưởng đến Trịnh Công Sơn như thế nào?

1. Ngô Kha (1935)(1) xuất thân trong gia đình họ Ngô - một trong những họ khai canh của lăng Thế Lại thượng (2). Anh đỗ đầu khóa Đại học Sư phạm Cấp tốc (1958-1959) môn Việt Văn nên được bổ về dạy trường Quốc Học Huế. Vừa đi dạy, anh vừa làm thơ, vừa ghi danh học Cử nhân Luật.

Năm 1961 Ngô Kha xuất bản tập thơ đầu tay Hoa Cô Độc do Nhà in Đại học ấn hành gồm 18 bài thơ tự do. Tác giả tự giới thiệu:

Tôi kẻ điên / thế kỷ nầy thác loạn

Người về đâu / xin mượn ánh gương soi

Giữa cô đơn / chiếu rọi cuộc đời

Tôi là bóng / bên ngoài ảo ảnh

Thân bé nhỏ / giữa trời hoang dông bão

Sống lạc loài /phố thị xôn xao

Muốn yêu đời chẳng có ngọt ngào

Tình vốn đẹp nhân tình đắng xót

Đau đớn mãi / tuổi đời vàng vọt

Chết chóc nhiều / bi lụy khóc than

Mảnh khăn tang chưa phải áo ngự hàn

Làm ấm linh hồn độc ác.

( Điên, Hoa Cô Độc, Huế 1961, tr. 44)

Lúc ấy thơ Huế còn đang nặng phong cách thơ mới thời Tiền chiến, “Hoa Cô Độc” là một cái mốc chuyển hướng sang thơ hiện đại theo trường phái tự do của Thanh Tâm Tuyền – tác giả “Tôi Không Còn Cô Độc”, của Nhóm Sáng Tạo (Sài Gn). Đầu những năm sáu mươi, triết học hiện sinh của J.P.Sartre, của Albert Camus bắt đầu làm quen với giới trí thức nhân văn Huế. Do đó trong đời sống thơ Ngô Kha cũng có một chút hơi hám “chán nản nhiều về cuộc đời”, “thấy đời mình dài bằng cô độc”. Nhưng khác với ý thức hiện sinh trong bạn bè anh (Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu Ý, Nguyễn Nguyên Phương ...), Ngô Kha muốn phản kháng (révolter) lại cuộc đời bằng hành động. Anh chăm chỉ học Luật, qua năm 1962 anh lấy thêm được bằng Cử nhân Luật khoa. Trong năm nầy Trịnh Công Sơn vào học Sư phạm Qui Nhơn. Hai năm sau Trịnh Công Sơn ra trường Sư phạm tìh Ng Kha bị bắt văo học trường sĩ quan Thủ Đức. Năm 1965 Ngô Kha ra trường mang lon chuẩn úy, được người anh là tướng Ngô Du xin giữ lại làm Tùy viên báo chí tại Vùng I Chiến thuật của quân đội Cộng hoà, khỏi phải cầm súng ra trận. Trong những năm nầy, miền Trung liên tiếp diễn ra các cuộc đấu tranh ở đô thị, Ngô Kha làm tùy viên báo chí đóng góp với phong trào nhiều tin tức bí mật trong nội bộ Chính quyền Vùng I Chiến thuật. Ngô Kha đặt mối quan hệ với anh em Phong trào từ đó. Mùa hè năm 1966, miền Trung nổ ra cuộc đấu tranh chống Mỹ Thiệu Kỳ, Sinh viên Đại học Huế thành lập Đoàn Sinh Viên Quyết Tử, đi học quân sự để chuẩn bị tự vệ trước các cuộc đàn áp của Mỹ Thiệu Kỳ. Từ Bộ chỉ huy Vùng I Chiến thuật tại Đà Nẵng, Ngô Kha lái xe chạy ra Huế. Anh kêu gọi binh lính sĩ quan quân đội Cộng hoà đang nghỉ phép ở Huế hay vì một lý do nào đó đang có mặt tại Huế tập họp thành một chiến đoàn để chống lại quân đội dưới quyền của Thiệu Kỳ. Nhân có Trung úy Nguyễn Đại Thức nổ súng bắn tướng Huỳnh Văn Cao khi Cao đại diện cho Thiệu Kỳ đến Mang Cá (Bộ Chỉ huy Sư đoàn Một bộ Binh) bằng máy bay trực thăng, đạn của Thức không trúng mục tiêu, lính Mỹ trên trực thăng “phản kích” bắn Thức chết ngay tại chỗ, Ngô Kha liền lấy tên Nguyễn Đại Thức đặt cho chiến đoàn mới thành lập của anh. Cùng với Đoàn Sinh viên Quyết tử Huế, Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức với khăn quàng cổ màu tím Huế đã có một ảnh hưởng lớn đến Phong trào vũ trang chống Mỹ Thiệu Kỳ của nhân dân “Trung nguyên trung phần” mùa hè năm 1966. Vào những ngày nửa tháng 6.1966, Thiệu Kỳ cho quân đổ bộ xuống Đà Nẵng rồi tiến ra phía bắc để đàn áp Phong trào đấu tranh ở Huế, Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức đê chiến đấu rất anh dũng cầm chân quân đội Thiệu Kỳ tại chân đèo Hải Vân trong nhiều ngày để cho đồng bào Huế đủ thời gian chuẩn bị đối phó. Sau khi Phong trào đấu tranh bị dìm trong biển máu, Ngô Kha bị bắt, một số bạn bè của anh thoât ly. Đáng lẽ Ngô Kha bị tử hình, may nhờ có sự can thiệp của tướng Ngô Du nên anh chỉ bị tù và bị đưa ra giam ngoài đảo Phú Quốc thôi. Mãn hạn tù về Huế, Ngô Kha trở lại dạy ở trường Quốc Học, trường Hàm Nghi và dạy thêm ở các trường tư thục Nguyễn Du, Hưng Đạo để có thêm ảnh hưởng trong giới trẻ. Thời gian nầy Ngô Kha chơi thân với Trịnh Công Sơn hơn trước và bắt đầu có ý định làm em rể Trịnh Công Sơn.

Năm 1969 Ngô Kha cho ra đời “Ngụ Ngôn Của Người Mất Trí” (Trường ca), cuối năm 1969, anh cho đăng trên tập san Đất Nước (số tháng 12/1969) “Trường Ca Hoà Bnh”. Năm 1970, Thiệu Kỳ thực hiện Chiến dịch Phượng Hoàng rất gay gắt. Trịnh Công Sơn, Thái Ngọc San, Bửu Ý... đi trốn lính ở Đà Lạt Lâm Đồng sợ bi bắt phải hạ sơn về Sài Gòn rồi ra Huế cùng với Ngô Kha, Lí Khắc Cầm, Chu Sơn, Trần Viết Ngạc... gây lại Phong trào đấu tranh bằng tờ Tự Quyết. Một thời gian tờ Tự Quyết bị tịch thu. Với sự đỡ đầu từ xa của Thành ủy Huế, phong trào đấu tranh thành lập Mặt trận Văn hoá Dân tộc miền Trung và bầu Ngô Kha làm Chủ tịch. Ngô Kha cho ra đời hai số tập san Mặt trận Văn hoá Dân tộc miền Trung (1972) rất bề thế.

Trong những năm nầy Ngô Kha tranh đấu rất hăng say. Vào lớp dạy học cũng như tham dự các cuộc hội thảo, hay những lần xuống đường mít-tin, biểu tình đi quyền tự quyết dân tộc, đòi hòa bình, hòa hợp dân tộc... Ngô Kha diễn thuyết, đọc thơ tranh đấu không biết mệt mỏi. Chính quyền Thiệu Kỳ doạ bắt anh hoài. Năm 1971, anh bị bắt thật, học sinh sinh viên đấu tranh buộc chính quyền phải thả anh ra. Ra khỏi tù anh lại đấu tranh. Đầu năm 1973, ký kết Hiệp định Paris, anh chưa kịp mừng đất nước hoà bình thì lại bị bắt. Phong trào sinh viên học sinh lại đấu tranh đòi thả anh, nhưng lần nầy kẻ thù đã đem anh đi mất tích. Mãi về sau bạn bè đồng chí của anh mới biết anh đã bị thủ tiêu vào khoảng năm 1973. Sau ngày đất nước hoà bình (1983), anh được truy tặng Liệt sĩ. 

Năm 1991, đúng ba mươi năm sau ngày tập thơ đầu tiên của anh ra đời (1961-1991), Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế và bạn bè của anh đê sưu tập thơ của anh in thành tập “Thơ Ngô Kha” gồm có “Hoa Cô Độc”, “Ngụ Ngôn Của Người Mất Trí”, “Trường Ca Hoà Bình”. Trong “Thơ Ngô Kha” có Thay Lời Ngỏ của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tranh phụ bản Chân dung Ng Kha của Rừng, tranh Tưởng nhớ của Trịnh Công Sơn, và tranh Nơi yên nghỉ của nhà thơ của Trịnh Cung.

2. Như trên đã đề cập, trong thời gian trốn lính sau năm 1968, hầu như trong cuộc sống của Trịnh Công Sơn luôn có Ngô Kha. Mối quan hệ Trịnh Công Sơn và Ngô Kha trong thời gian nầy ở trên mức bạn bè và có ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn. Chỉ cần đặt cạnh nhau tên những tác phẩm của Ngô Kha và Trịnh Công Sơn sáng tác trong thời kỳ ấy người ta có thể thấy ngay được điều đó:

Ngô Kha có Ngụ Ngôn của người mất trí

Trịnh Công Sơn có Tình ca người mất trí

Ngô Kha có Trường ca Hoà Bình, Mai Có Hòa Bình

Trịnh Công Sơn có Trên cánh Đồng Hoà Bnh

Từ sau khi ra tập san Tự Quyết cho đến lúc thành lập Mặt trận Văn hoá Dân tộc miền Trung quan điểm chính trị của Ngô Kha thể hiện rõ trong mấy điểm:

a) Lên án cuộc chiến tranh do chính quyền Sài Gòn đang tiến hành. Năm 1971, người Mỹ thực hiện Việt Nam Hoá chiến tranh, thử đưa lính Cộng hòa lên Mặt trận Hạ Lào (Lam Sơn 719) chết thay cho lính Mỹ. Khi đội quân Cộng Hoà rút khỏi mặt trận, Ngô Kha mở đầu bài thơ Cho Những Người Nằm Xuống rằng:

Người về từ Kampuchia Khe Sanh hay Hạ Lào

   mùa nầy gió đông bắc tây nam

  ở bên nầy Trường Sơn

  nắng ải buồn như ngọn nến gầy

  bên kia Trường Sơn,

  mưa đan dày quanh vùng chiến lược

  cỏ ở đồi Lao Bảo giờ đã cao bằng đầu người

 nghe chiến trường anh em đổ nhiều máu

 và nước mắt cũng rưới thật nhiều ở hậu phương

 dưới túp lều người mẹ xanh xao đón gió nồm

  nghe nói ngoài công viên trồng thật nhiều phướng

 để thay thế những cây nêu buổi đầu xuân

 dư luận từ mặt trận Khe Sanh đưa về

 người chỉ huy thiết giáp tiền phương

 chống lệnh đổ quân xuống vùng tử địa”

 (Trường Ca Hoà Bình, Thơ Ngô Kha, HVHNT  TTH, Huế 1991, tr. 97)

b) Đấu tranh cho hoà bình: Ng Kha quan niệm không phải “chắp tay nguyện cầu” cho “bồ câu trắng hiện” (hòa bình) mà phải “chống lệnh” hành quân như người chỉ huy thiết giáp nêu trên. Anh kêu gọi sinh viên học sinh bãi khoá xuống đường:

“Hãy vùng dậy/ phá ngục tù bom đạn

hãy hiên ngang/ xoá bỏ căm thù

hãy cùng ta/ chấm dứt cảnh máu xương”

(Trường ca hoà bình, Sđd, tr.67)

Xoá bỏ hận thù, tạo điều kiện cho hoà hợp dân tộc:

“Con đã thấy một ngày trọng đại,

trên mặt người thụ hận cũng chìm sâu”

(Trường ca hoà bình, Sđd, tr.66)

Để đạt mục đích cuối cùng là thống nhất đất nước:

“Ta đồng hành tiến bước

ca lên bài Việt Nam thống nhất”

... Ta đi từ Nam Quan đến Cà Mau

từ Cửu Long, Hương Giang ra tới Hồng Hà

Phú Quốc, Côn Lôn, Bà Vì, Côn Đảo

Từ Huế, Sài Gòn ra Thái Bình, Hà Nội

Ta cất lời vang dưới bầu trời”.

(Trường ca hoà Bình, Sđd, tr.67)

Trong thi ca Ngô Kha viết hình tượng bóng bẩy như thế, nhưng khi viết chính luận trong Tư quyết số 1 (8.1970), anh nói thẳng:

“... Hơn bao giờ hết, quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam phải được tôn trọng. Ngoại bang phải ngưng nhúng tay xen vào nội bộ Việt Nam.

Hỡi những người con yêu dấu của đất nước Việt Nam, chúng ta không những chỉ kêu gọi mà chúng ta còn cần phải đấu tranh triệt để quyền tự quyết thiêng liêng của dân tộc đau khổ của chúng ta được thực hiện.

Chân lý dân tộc sáng tỏ như ban ngày, rõ ràng minh bạch, đích xác như hai với hai là bốn. Chân lý đó là sức mạnh, một sức mạnh có sức vô địch ghê gớm, vì nó là Sự thật, là Chính nghĩa...”

Quan điểm chính trị của Ngô Kha đã ảnh hưởng đến Trịnh Công Sơn. Xem các tập Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời có rất nhiều ca từ mang âm hưởng hào hùng của thơ Ngô Kha vừa nêu trên. Quan điểm chính trị của Trịnh Công Sơn đến đây không còn “trung lập” chung chung nữa mà đứng hẳn về phía dân tộc. Phụ khác cho Tình ca người mất trí, Trịnh Công Sơn lên án Mỹ thả bom miền Bắc sát hại người Việt Nam:

“Tôi mất trong chiến trnah này

Bao nhiêu, bao nhiêu người tình

Người tình của tôi lớn lên

Từ ngày miền Bắc dấu bom”

(Theo hồi ức của Dương Đình Vinh)

Thay vì kêu khóc, dày xéo với nỗi bất lực trước cuộc chiến, Trịnh Công Sơn kêu gọi đấu tranh cách mạng:

“Còn sống xin các anh quyết còn cách mạng

Đời ta ta lo/ Xin xếp vũ khí

Bàn tay không tiến lên

Đã qua bao năm hy sinh thịt xương

Nay ta quyết phải sống

Toàn nước chiến đấu

Ta bền vững một lòng với nhau”

(Trịnh Công Sơn, Ta phải thấy mặt trời, Nhân bản 1969, tr.12)

hoặc:

“Chính chúng ta phải nói hoà bình

khi tim người rực lửa cầu mong

Chính chúng ta phải có mọi quyền

Đứng lên đòi thống nhất quê hương”

(Trịnh Công Sơn, Chính chúng ta phải nói, Ta phải thấy mặt trời)

 

Hưởng ứng cuộc đấu tranh quyền tự quyết, đòi hoà bình của sinh viên học sinh Huế, lúc 8 giờ 40 phút ngày 9.5.1971, Đại đức Thích Chơn Thể (tên thật là Nguyễn Vinh), tăng sĩ thuộc chùa Tường Vân (Huế) đã tự thiêu đòi hoà bình tại Quảng trường Quách Thị Trang (trước trường Hai Bà Trưng ngày nay). Trong thư của Đại đức Thích Chơn Thể để lại có đoạn viết: “... Dân tộc chúng tôi đã chết chóc quá nhiều. Máu dân Việt đã chảy thành sông, xương dân Việt đã chất thành núi. Vậy trước giờ chết của tôi, tôi kêu gọi các ngài: 1. Rút quân ra khỏi Việt Nam; 2. Trả lại quyền tự do cho dân Việt tự lo liệu để sớm hoà bình thống nhất đất nước. Vậy hôm nay tôi đốt thân này để kêu gọi hoà bình thật sự do người Việt Nam lo liệu lấy, cùng yêu cầu nhân dân và đồng bào Mỹ hãy kêu gọi chồng, con trở về xứ sở...”

(Trích thư đề ngày 9.5.1971 của Đại đức Thích Chơn Thể gởi Tổng thống Mỹ và các nhà lãnh đạo Mỹ)

Cùng với ngọn lửa Thích Chơn Thể, hai vạn đồng bào và sinh viên học sinh Huế xuống đường đấu tranh đòi hoà bình, lên án cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Trong đoàn người xuống đường đó có đôi bạn Ngô Kha – Trịnh Công Sơn. Từ đó, mỗi lần đi ngang qua trường Đồng Khánh (cũ) Trịnh Công Sơn lại nhớ đến ngọn lửa Thích Chơn Thể. Trịnh Công Sơn đã viết một bài nhạc về Ngọn lửa Thích Chơn Thể để góp thêm lửa cho phong trào tranh đấu cho hoà bình độc lập. Bài Ngọn lửa Thích Chơn Thể chưa được in, nhưng có nhiều người từng tham gia phong trào lúc ấy còn thuộc và vẫn hát một cách say sưa. Hoạ sĩ Dương Đình Vinh đã hát cho tôi nghe và tôi xin ghi lại ca từ bài hát ấy sau đây:

Ngọn lửa Thích Chơn Thể

“Chiều nay qua công viên nơi anh ngồi

Cỏ hôm nào đã xanh tươi

Chiều nay qua công viên tôi đứng lại

Nhớ anh buổi sáng lửa ngời

Trên công viên chiều nay

Đèn thôi giăng và cờ thôi bay

Nhưng sao trong tim tôi vẫn tràn đầy

Bóng dáng người ngồi

Ô hay người về

Ô hay người đã về

Hiện về thân chim câu

Có mừng bay lao xao

Về đậu trong tim đồng bào

Rồi đây trên quê hương đã vắng người

Lửa vẫn còn cháy quanh đây

Lửa thiên nơi quê hương không biết mỏi

Đấu tranh dựng nước từng ngày.

Đấu tranh cho hoà bình, cho quyền tự quyết của dân tộc là một việc chính đáng, là chân lý – nói như Ngô Kha là “Sức mạnh, một sức mạnh có sức vô địch ghê gớm, vì nó là Sự thật là Chính nghĩa...”. Trịnh Công Sơn tin vào chính nghĩa, vững tin chính nghĩa sẽ chiến thắng:

“Nơi đây tôi chờ/ Nơi kia anh chờ

Trong căn nhà nhỏ/ Mẹ cũng ngồi chờ

Anh lính ngồi chờ trên đồi hoang vu

Người tù ngồi chờ/ Bóng tối mịt mù.

... Chờ tin mừng/ sông chờ núi cũng chờ mong

Chờ trên vừng trán mẹ thắp lên bình minh

Chờ khô nước mắt/ Chờ đá reo ca

Chờ áo cơm nuôi những trẻ mồ côi không nhà

Chờ ngày Việt Nam thống nhất

Cho những tình thương vỡ bờ”

(Trịnh Công Sơn, Chờ nhìn quê hương sáng chói, Kinh Việt Nam)

Vì quá khao khát, đợi chờ nên có lúc anh tưởng như ngày ấy đã tới.

“Ta đã thấy gì trong đêm nay?

Cờ bay trăm ngọn cờ bay

Rừng núi loan tin đến mọi miền

Gió hoà bình bay về muôn hướng

Ngày vui con nước trôi nhanh

Nhịp sống bao la xoá bỏ hận thù”

(Trịnh Công Sơn, Ta đã thấy gì đêm nay, Kinh Việt Nam)

Và dân tộc Việt Nam cùng vui ngày đoàn kết, thống nhất:

“Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà...”

(Trịnh Công Sơn, Nối vòng tay lớn, KinH Việt Nam)

“Từ Trung Nam Bắc/ Chờ mong nung đốt

Những bó đuốc reo vui tự do

Đường đi đến những nơi lao tù

Ngày mai sẽ xây trường hay họp chợ

Dân ta về cày bừa đủ áo cơm no”

(Trịnh Công Sơn, Huế - Sài Gòn - Hà Nội, Ta phải thấy mặt trời)

Hết bi quan với “Ca khúc da vàng”, Trịnh Công Sơn lạc quan với “Kinh Việt Nam”, “Ta phải thấy mặt trời”. Dự phóng đất nước hoà bình thống nhất, Ngô Kha và Trịnh Công Sơn đã đặt ra hơi sớm, ít nhất là trên 5 năm. Ngô Kha phải trả giá cho dự phóng sớm ấy bằng chính sinh mạng của mình. Ngô Kha bị thủ tiêu là một sự đau đớn, mất mát lớn đối với Trịnh Công Sơn. Bởi thế nhiều lần Trịnh Công Sơn tâm sự: “Mỗi lần mình cảm thấy hạnh phúc sống trong hoà bình độc lập thì mình lại tiếc cho Ngô Kha quá!” Các anh đã đấu tranh rồi chờ đợi ngày hoà bình thống nhất cả năm sáu năm trước năm 1975. Cho nên không phải vô cớ mà ngay sau phút tướng Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện để cho Việt Nam thống nhất mà ít tốn thêm máu xương. Trịnh Công Sơn đã có mặt ở đài phát thanh Sài Gòn để cùng bạn bè yêu nước hát bài Nối vòng tay lớn, Huế - Sài Gòn - Hà Nội mà anh đã soạn và hát cho đồng bào nghe từ nhiều năm trước. Và nếu không nghiên cứu kỹ tình bạn giữa Ngô Kha và Trịnh Công Sơn với sự chuyển biến tư tưởng tích cực của Trịnh Công Sơn từ cuối năm 1968 thì không thể giải thích được sự phấn đấu vượt qua chính mình để đi vào thực tế cách mạng sau tháng 5.1975. Trong thành công của Trịnh Công Sơn có phần đóng góp tinh thần đặt biệt hết sức tế nhị của Ngô Kha.

(1) Có sách viết Ngô Kha sinh ngày 2.3.1937.

(2) Thế Lại Thượng là một làng cổ của thành phố Huế, nay thuộc phường Phú Hiệp, thành phố Huế.

 
Thư viện sách
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2003
NXB: NXB Văn học
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2004
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2010
NXB: Thuận Hóa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Năm: 2007
NXB: Thuận Hóa
123