Chuyện tình và thơ tình xứ Huê (1) Nguyễn Hữu Ba Mối tình thầm kín
Sau ngày thống nhất đất nước được mấy tháng, có một phụ nữ miền Bắc đến Tỳ Bà Trang (bên trái cửa Thượng Tứ ) hỏi thăm nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba. Nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba vào thường trú tại TP Hồ Chí Minh từ lâu, nên không có ai tiếp bà. Người phụ nữ duyên dáng, nét mặt thanh tú, khoảng trên sáu mươi tuổi, nhưng vẫn trẻ, không có dáng vẻ gì là một bà mệnh phụ cả. Bà tha thiết muốn gặp “anh Ba”. “Gặp để nói một chuyện quan trọng trong giây phút thôi”. Được người giữ nhà cho địa chỉ, bà đã vào thẳng đường Nguyễn Văn Trỗi, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh để “nói chuyện quan trọng ấy”. Về sau, có lần tôi hỏi nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba “Bà người miền Bắc đó là ai ? và “ Câu chuyên quan trọng ấy là gì ?”. Nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba đáp một cách dè dặt

-“Đó là một người bạn của chú[1] lúc chú đang ở Am Sầu Đông trong Thành Quảng Trị. Chuyện hơn ba mươi năm rồi, nói lại làm gì thêm phiền”.

Lúc tôi hỏi, nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba đang bị bệnh nên tôi không tiện lục vấn thêm nữa để  tránh gây phiền cho ông. 

Vừa rồi nhân ngồi cùng xe với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Vấn [2] trên đường đi thăm đám tang một đồng chí hồi chiến tranh, tôi được nghe anh Vấn bật mí cho biết người đàn bà đó là ai và “chuyện quan trọng” người đàn bà bạn cũ của nghệ sĩ Nguyễn Hữu đã nói với ông là gì. 

Anh Vấn kể:

-” Lúc đó tôi mới chín mười tuổi được chú Ba cho đi theo làm tiểu đồng. Chú có một ngôi nhà tranh nhỏ trong tỉnh thành Quảng Trị mang tên là Am Sầu Đông. Nhà các quan các cụ ở địa phương vây chung quanh, vui lắm. Với ngón đàn của “cậu Ba lé”, cái am tranh thu hút được khá đông  những người yêu mến nghệ thuật ở Quảng Trị và những người đi qua Quảng Trị như các gánh hát, các đoàn ca Huế. Một trong những người để lại những kỷ niệm sâu sắc đối với nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba lúc ấy là cô Diệu Thanh.

Cô Thanh là một nghệ sĩ ngâm thơ rất hay. Có thể so sánh cô với chị Tôn Nữ Hỷ Khương con gái cụ Ưng Bình Thúc Giạ ngày nay. Nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba lúc ấy có biệt hiệu Đạo Tâm. Tuy là nghệ sĩ nhưng ông sống như một nhà tu, không một chút vướng bận vật chất. Cô Diệu Thanh và Đạo Tâm kính phục nhau về nghệ thuật, sống gần nhau mà không hề đề cập đến chuyện tình cảm yêu đương. Giai đoạn nầy nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba hoạt động nghệ thuật hăng say nhất. Ngoài chuyện hoà đàn, sáng tác nhạc ông còn vẽ và đặc biệt còn làm thơ. Những bài nhạc nổi tiếng một thời của ông như Lửa rừng đêm,Thu khói lửa, Sám hối, Xuân Xuân, Quãng đường mai, Tiếng hát quân nam, Anh dương trời nam, Tiến và sách Bài đàn tranh, Nguyễn Hữu Ba đã soạn trong giai đoạn nầy. Suốt ngày “chàng và nàng “ đánh đàn và ngâm thơ với nhau. Sau Hiệp định Genève 1954, cô Diệu Thanh về sống ở miền Bắc, nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba lập Tỳ Bà Trang ở Huế tiếp tục hoạt động quốc nhạc và dạy nhạc tại các trường Nguyễn Tri Phương, trường nữ Trung học Đồng Khánh, Quốc Học (Huế) và trường Quốc gia âm nhạc Huế và Quốc gia âm nhạc Sài Gòn. Ngoài Tỳ Bà Trang tại Huế, ông thành lập Viện Tỳ Bà tại Sài Gòn. Sau năm 1975, cô Diệu Thanh vào Thành phố Hồ Chí Minh thăm ông và nói với ông một việc quan trọng là :

-“ Cho đến nay Diệu Thanh vẫn sống độc thân !”.

Hôm gặp lại Diệu Thanh, nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba cũng báo cho  cô biết  những sự kiện quan trọng trong đời ông trong thời gian ông đứt liên lạc với cô:

-“ Mãi đến năm  bốn mươi sáu tuổi, tôi mới lập gia đình và đã có ba đứa con. Các cháu đều tốt nghiệp trường nhạc và đều là nghệ sĩ chơi xuất sắc các cây đàn dân tộc!”.

Gặp nhau rồi lại xa nhau vĩnh viễn, hai ông bà rất bịn rịn. Khi ấy mọi người mới biết được giữa ông và cô Diệu Thanh đã vương vấn nhau nhưng vì hoạt động nghệ thuật trong giai đoạn cách mạng đang sục sôi nên hai người chưa tỏ tình được với nhau. Trong lúc đó thực dân Pháp lại nghi ông hoạt động cho Việt Minh, chúng tìm mọi cách hạn chế hoạt động nghệ thuật của ông. Ông đã trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần dữ dội”.

Anh Vấn đọc một bài thơ của nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba làm trong giai đoạn khủng hoảng ấy:

Ta chán ta rồi vũ trụ ơi

Đời như nấm mộ nuốt thây người

Sống qua cái chết bao lần khóc

Tính lại cơn mê mấy trận cười

Sự nghiệp lung linh  thân chớm tạ

Nhân tình trắc ẩn lệ hồ vơi

Lắm khi muốn đạp tan trời đất

Cho hả lòng ta hận cảnh đời.

Ghi lại chuyện nầy tôi không có ý giới thiệu tài làm thơ của nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba. Nếu thơ ông cũng hay như nhạc và tài sử dụng các cây đàn dân tộc của ông thì người yêu thơ Việt Nam đã biết. Chuyện nghệ sĩ Nguyễn Hữu Ba làm thơ là một minh chứng cho vai trò của thơ trong đời sống tinh thần của người nghệ sĩ: Khi có tâm sự, người ta không thể diễn đạt được bằng văn, bằng nhạc hay hoạ thì người ta gủi gắm cả vào trong thơ. 

Huế 1990

                            

 

 

 



 

 

 

 
 
Các bài Giữ hồn cho Huế khác
Các bài Bài mới viết
Các bài Giữ hồn cho Huế