Nhà máy nước Vạn Niên - trăm năm dòng nước sạch
Trước khi bị ngưòi Pháp đô hộ, từ vua chúa cho đến bá tánh thứ dân đều sống bằng các nguồn nước mưa, nước suối, nước hồ, nước sông, và đặc biệt là nguồn nước giếng. Do đó cái giếng biểu hiện của sự sống. Cái giếng rất thiêng liêng. Nhà cửa dinh thự, đền đài có thể bị triệt hạ, đốt phá nhưng không ai được lấp giếng. Ở đâu thấy có giếng cổ cho biết ở đó có con người đã sống qua. Nghiên cứu các giếng cổ người ta có thể biết tầng lớp người nào đã từng sống ở đó. Các nguồn nước thiên nhiên nầy tùy thuộc vào trời đất nên không bảo đảm vệ sinh, không ổn định.

Đến trước và sau ngày thất thủ Kinh đô (7-1885), người Pháp đặt nền đô hộ lên Kinh đô Huế, do yêu cầu dùng nước sạch (eau potable) của người phương Tây, dù muốn dù không chính quyền Bảo hộ cũng phải xây dựng một nhà máy nước. Phải có nước máy để phục vụ đời sống của người Pháp đến làm việc tại Tòa Khâm sứ, Tòa Công sứ và các công sở trực thuộc tại khu phố Tây (Quartier Européen), phục vụ quân đội Pháp tại khu Nhượng Ðịa (Concession Francaise) Mang Cá, phục vụ cho Triều đình Huế do người Pháp bảo hộ trong Kinh Thành Huế và phục vụ cho đô thị Huế vừa mới ra đời. Đến đầu thế kỷ XX lại cần có nước máy để phục vụ Nhà thương Huế, phục vụ phát triển du lịch Huế. Nhưng cho mãi đến năm 1909 nhà máy nước Huế mới được xây dựng ở Vạn Niên. Tính đến nay nhà máy nước Huế - nay là Công-ty Cấp thoát nước Thừa Thiên Huế - vừa đến tuổi một trăm (1909-2009).

Nhà máy nước Vạn Niên. Ảnh của Eberhardt, Guide de l'Annam, 1914, tr. 107

Sở dĩ có sự chậm trễ như thế vì các cơ quan chức năng của Pháp lúc ấy phải khảo sát nhu cầu dùng nước của người Pháp và người Việt, phải bàn thảo nghiên cứu nơi đặt nhà máy và đặc biệt phải chọn lựa cho được kiểu dáng kiến trúc làm sao cho hài hòa với cảnh quan của Kinh đô Huế hồi đàu thế kỷ XX. Sau nhiều cuộc bàn thảo, chọn lựa và đưa ra đấu thầu, bản thiết kế kiến trúc nhà máy của kiên trúc sư Bossard được chấp nhận và nhà thầu Francois Lyard trúng thầu xây dựng.

Nhà máy được hoàn thành (đợt 1) vào năm 1911. Theo những bản sao tư liệu gốc do Kỷ sư Bùi Hữu Lân[1] mới tìm giúp cho Công-ty Cấp thoát nước Huế thì Nhà máy nước đầu tiên được nhà thầu Francois Lyard thi công với tổng cộng số tiền xây cất được quyết toán vào tháng 6.1912 là 116.571, 65 frans do Khâm sứ Trung kỳ Mahé duyệt.

Theo Thạc sĩ Ph. Eberhardt (người Phổ, Prussien) tác giả Guide de l'Annam, cho biết: Người ta lấy nước sông Hương dẫn vào chứa trong một cái phòng đào sâu dưới đất gần một hệ thống máy bơm. Rồi giống như cách mà lúc ấy người ta vừa làm ở ngoại ô Paris, nước sẽ được lọc sạch bằng cát. Diện tích bề mặt của bộ lọc cát ước khoảng 1400 mét vuông. Mỗi giờ một mét vuông lọc được 100 lít. Mỗi ngày nhà máy nước cung cấp cho Huế chừng 2.500 mét khối nước sạch. Số nước nầy dành cho các máy nước công cộng và các cơ sở đặc biệt được ưu tiên dùng nước. Hệ thống máy bơm được thiết kế thành ba nhóm độc lập với nhau, hai trong ba cái đó cùng vận hành một lúc. Với công suất bình thường mỗi phút bơm được 40 lít nước từ cốt 0 lên cốt 44 - nơi có hồ chứa.

Con số công suất lúc ban đầu là 2500m3 nước thô/ngày, so với hôm nay, nhà máy nước Huế mỗi đêm ngày sản xuất được 120.000m3,  thật là nhỏ nhoi. Xưa chỉ bằng 1/ 48 của  nay. Tuy nhiên sự ra đời của nhà máy nước Huế cách đây đứng 100 năm thật có ý nghĩa. Ý nghĩa trước hết là lần đầu tiên người dân Cố đô được dùng nước máy, được hưởng cái văn minh của Tây phương. Nhưng dù sao chuyện đó cũng nằm trong tình hình chung của Huế hồi đầu thế kỷ: người Huế bắt đầu hút thuốc Tây, uống thuốc Tây, uống rượu Tây, đọc sách Tây, mặc đồ Tây v.v...Ngoài ý nghĩa người dân Huế được dùng nước sạch (dù mới chỉ một bộ phận nhỏ), nhà máy nước Vạn Niên còn mở ra một truyền thống thiết kế xây dựng các công trình của phương Tây trong thành phố có cảnh quan phương Đông - Việt Nam góp phần gìn giữ thành phố Huế di sản thế giới hôm nay.

Lúc còn ngồi trên ghế nhà trường Quốc Học, lần đàu tiên được đi thăm lăng Tự Đức, đồi Vọng Cảnh, tôi thấy trên bờ sông Hưong bên tay phải có một cái đình tứ giác, với hai tầng mái dựng giữa vườn hoa cây cảnh hài hòa đẹp mắt. Đặc biệt nhất là ở ba góc đình hướng về phía sông có nhiều người qua lại có mấy trụ biểu (pylônes gigantesques) cao vút. Hồi ấy tôi định hỏi: “Cái đình tứ giác ấy là di tích gì vậy?” nhưng ngại không dám hỏi. Bởi vì trước khi đến đó tôi đã bị thầy Văn Đình Hy (thầy dạy Việt văn của tôi) la cho nhiều trận vì cái tội hay hỏi “lạc đề” của tôi. Thật như thế, trên vùng đồi phía tây nam Huế qui mô như cái đình nêu trên còn nhiều lắm, gồm chùa, khuôn hội Phật giáo, lăng mộ ông hoàng, bà chúa.v.v. Lúc ấy chưa có nhiều tài liệu sách vở nghiên cứu giới thiệu Huế như bây giờ, nên ít người biết các di tích bậc trung ấy là những di tích, công trình gì. Do vậy, đối với thầy trò chúng tôi, chuyện hỏi ngoài chương trình phải luôn luôn tế nhị, hạn chế. Sau nầy làm nhà nghiên cứu Huế, nhiều lần tôi muốn tìm hiểu giải đáp cái thắc mắc thời học trò của tôi. Nhưng rồi không hiểu sao tôi cứ hẹn rày hẹn mai, cái đình vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt trước sự mù tịt của tôi. May sao, cách đây gần hai mươi năm vô tình tôi được đọc cuốn cuốn  Hướng dẫn du lịch Việt Nam (Guide de l'Annam) của Ph. Eberhardt (thầy dạy văn minh văn hóa cho vua Duy Tân), do học giả Hoàng Xuân Hãn ở Paris gởi tặng Thành phố Huế, tôi mới vỡ lẽ: Cái đình ấy không phải chùa chiền, lăng mộ ai cả mà là cái nhà máy cung cấp nước cho thành phố Huế do Kiến trúc sư Bossard thiết kế xây dựng vào năm 1909 và hoàn thành vào năm 1911.

Sở dĩ kiến trúc sư Bossard phải thiết kế kiến trúc nhà máy nước giống như một cái lăng cổ hoặc một cái chùa như thế (xem ảnh) là để cái nhà máy của phương Tây nầy hài hòa với cảnh quan khu vực lăng Tự Đức - đồi Vọng Cảnh của phương Đông. Với một tấm lòng yêu Huế thiết tha, với một sự trân trọng văn hóa Huế tuyệt vời, kiến trúc sư Bossard mới thiết kế được kiến trúc nhà máy nước Huế đẹp như thế. Đó là một người phương Tây yêu Huế, làm việc cho Huế trước khi Hội Những người bạn Huế xưa (L’ Association des Amis du Vieux Hué) của L. Cadièrre được thành lập đến 4 năm. (1909-1913) Kiến trúc nhà máy nước Huế (cũng gọi là Nhà máy nước Vạn Niên) là niềm tự hào của trí thức Pháp có mặt ở Việt Nam lúc bấy giờ. Bởi thế Ph. Eberhardt mới viết chuyện xây dựng nhà máy nước Huế vào cuốn sách Hướng dẫn du lịch Việt Nam (Guide de l'Annam) xuất bản năm 1914 tại Paris của ông. Khách đến thăm lăng vua Tự Đức và lăng vua Đồng Khánh xong không thể không thăm nhà máy nước Vạn Niên. Khách du lịch phương Tây phải khó nhọc đi tàu biển hàng tháng trời để du lịch Việt Nam lại phải mất thì giờ đi xem một cơ sở của chính người phương Tây làm tại Việt Nam quả là một chuyện lạ. Ph. Eberhardt tiếp thị với khách du lịch về nhà máy nước Vạn Niên trong Hướng dẫn du lịch Việt Nam (Guide de l'Annam) như sau:

 “Nếu không có nhiều thời gian, sau khi tham quan hai lăng (Tự Đức và Đồng Khánh) du khách nên thăm  ngay nhà máy nước, công trình được xây dựng để chuyển về Huế nguồn nước uống sạch. Nhà máy nước Huế hấp dẫn vì nó đã được kiến trúc sư Bossard thiết kế mang bản sắc thuần Việt Nam” (Si l’on est pressé par le temps, il faut tout de suite, après la visite à ses deux tombeaux, jeter un coup d’oeil sur l’usine des eaux, bâtiment construit pour envoyer à Hué de l’eau potable. Il mérite l’attention, car il a été concu dans le style annamite d’ une facon très  heureuse par l’ architecte Bossard) ( p.167).  

Nhà văn Roland Dorgelès những ngày lưu trú tại Huế (3-1925). Ảnh TL NN

Một trong những người khách đến tham quan nhà máy nước Vạn Niên là nhà văn lớn của Pháp - ông Roland Dorgelès (1885-1973). Sau chuyến đi du lịch dọc đường thiên lý Việt Nam, Roland Dorgelès viết cuốn ký sự nổi tiếng trong văn học Pháp mang tựa đề Sur La Route Mandarine (Con Đường Cái Quan). Tuyển tập những bài viết và hình ảnh lưu trữ lớn (Les Grands Dossiers de l’Illustration) về Đông Dương vừa in ở Ý, có đăng lại một bài dài của Roland Dorgelès khi ông đến Huế (tháng 3.1925) và in hai tấm ảnh nhà máy nước Huế. Lời chú thích tấm ảnh trên có cái trụ biểu cao ngất rằng:

Cái ống khói của nhà máy được ngụy trang giống như cây bút lông của nhà Nho” (La cheminée de l’usine “camoufflé” en symbolique pinceau du Lettré).

Ảnh dưới được chú thích:

Cổng chùa là cổng của nhà máy” (Portail de pagode qui est une porte d’ usine).

Chú thích chung cho hai ảnh: “Tại Huế: Nhà máy nước bên bờ sông Hương” (A Hué, L’ Usine des eaux au bord de la rivière des Parfums).

Con Đường Cái Quan (Ký sự) của Roland Dorgelès, Nxb Albin Michel, Paris 1925. TL của NĐX

 

Cái ống khói của nhà máy được ngụy trang giống như cây bút lông của nhà NhoẢnh trích Les Grands Dossiers de l’Illustration, p. 163

Nhà máy nước Huế không lớn hơn bệnh viện Huế xây dựng trước đó mười mấy năm, không lớn bằng các Tòa Khâm sứ, Tòa Công sứ, Kho bạc, nhà Bưu điện... nhưng được quan tâm bởi sự độc đáo và cũng bởi một kiểu kiến trúc biết tôn trọng cảnh quan, tôn trọng văn hóa bản địa của một kiến trúc sư người Pháp.

Quan điểm xây dựng một kiến trúc mới trong khu di tích cổ của kiến trúc sư Bossard là quan điểm được nhiều giới chức và kiên trúc sư Pháp lúc đó quan tâm. Nghiên cứu lịch sử khách sạn nhà hàng Morin tôi được biết khi thiết kế các kiến trúc trong Khu Tây (Quartier européen) ở bờ nam sông Hương, các kiến trúc sư thời ấy rất đắn đo.

“Cổng chùa là cổng của nhà máy” Ảnh trích Les Grands Dossiers de l’Illustration, p. 163

Để khỏi phá vỡ cảnh quan kiến trúc Kinh thành Huế ở bờ bắc sông Hương, các ông Tây thiết kế khu vực nam sông Hương đã đề ra 3 nguyên tắc rất nghiêm ngặt: Một là các kiến trúc mới phải nằm xa bờ sông Hương (vào phía bên trong đường Lê Lợi ngày nay), hai là các kiến trúc không được cao quá hai tầng và ba là phải được che chắn bởi một dải cây xanh. Nhờ tinh thần tôn trọng cảnh quan ấy mà ngày nay nhà máy nước Vạn Niên vẫn còn được gìn giữ và không ngừng phát triển trong tinh thần tôn trọng cảnh quan khởi sự từ đầu thế kỷ XX.

Tôi có nhiều dịp trao đổi về đề tài kiến trúc Huế với các kiến trúc sư trẻ làm việc tại một địa phương có nhiều di tích cổ, vui miệng tôi thường kể chuyện nhà máy nước Vạn Niên có kiến trúc giống như một cái lăng cổ để hài hòa với cảnh quan nêu trên. Tất cả những người nghe tôi nói chuyện thú nhận rằng: “Lần đầu tôi nghe ông nói chuyện ấy. Trong chương trình học kiến trúc sư của chúng tôi không có chuyện ấy”.

Vâng. Đúng như thế. Bởi thế hiện nay, có quá nhiều công trình mới đã phá vỡ cảnh quan của các công trình đã được UNESCO công nhận di sản văn hóa của nhân loại. Theo tôi, mỗi lần kỷ niệm sự ra đời của nhà máy nước Huế - nhà máy nước Vạn Niên - Công-ty Cấp thoát nước Thừa Thiên Huế - là một dịp tốt để nhắc lại bài học mà kiến trúc sư Bossard đã để lại từ đầu thế kỷ XX. Bài học nầy rất có giá. Tiếc cho ông Louk Lennarts, nhà đầu tư Hà Lan đã không được học bài học ấy nên vào năm 2005 của thế kỷ XXI đã bỏ tiền ra thực hiện dự án resorts đồi Vọng Cảnh phía bên trên nhà máy nước Vạn Niên. Louk Lennarts định xây dựng hai tòa khách sạn như hai đoàn tàu mắc cạn bên khúc sông thượng nguồn của nhà máy nước Vạn Niên nên nhà tư bản giàu mà thiếu thông tin văn hóa đã bị dân Huế phản đối quyết liệt phải ngậm bồ hòn rút lui. Kiến trúc nhà máy nước Vạn Niên là một cái mẫu cho những công trình phương Tây xây dựng trong vùng có cảnh quan di tich lịch sử Huế. Không thể làm khác. Louk Lennarts không biết nên đã làm khác và tất nhiên phải thất bại. Tôi nghĩ, có lẽ hồn thiêng Bossard cũng đã báo mộng cho người đồng châu (Âu) Louk Lennarts: “Ấy ấy, đừng đụng vào đấy !” cho nên Louk Lennarts đã rút lui trong trật tự. Xin chia buồn cùng ông bạn đồng châu của Bossard.  .

Kỷ niệm 100 năm Nhà máy nước Huế (1909-2009), với tư cách một người dân Huế, một người với bao nhiêu nổi trôi thăng trầm của Huế, một nhà nghiên cứư lịch sử văn hóa Huế, tôi viết bài nầy thay cho một nén hương tưởng nhớ đên công ơn của Kiến trúc sư Bossard đã để lại cho Huế tôi món quà quý “kiến trúc phưong Tây hài hòa với cảnh quan Huế - phương Đông”. Và, tôi cũng không thể quên ơn Chính phủ Phàp và các nhà tài trợ, những người Pháp bạn của Huế có mặt trong lễ kỷ niệm Đệ Bách Chu Niên nhà máy nước Huế nầy. Quý vị là những người tiếp tục sự nghiệp của kiến trúc sư Bossard xưa, giúp Công-ty Cấp thoát nước TTH đưa dòng nước sạch không những cho Thành phố Huế mà cho tất cả người dân Thừa Thiên sắp được nâng lên làm dân Thành phố Huế mới trong thời gian tới.

Sự trong sáng trong tâm hồn kiến trúc sư Bossard cách đây 100 năm sẽ mãi tinh khiết như dòng nước sạch của Chính phủ Pháp đã và đang giúp cho Thưa Thiên Huế. Đề nghị các kiến trúc sư  TTH, các nhà xây dựng Huế từ nay mỗi lần bắt đàu một công trình mới giữa mảnh đất Cố đô Huế, các bạn hãy dùng một thứ nước giải khát được sản xuất từ dòng nước chảy ra từ nhà máy nước Vạn Niên do Bossard thiết kế năm xưa. Đó cũng là một cách bảo vệ Huế.

Gác Thọ Lộc 16-5-1999 - 18-6-2009

Nguyễn Đắc Xuân

Tài liệu tham khảo:

Les Grands Dossiers de l’Illus - tration, Indochine, Histoirre d’ un siècle (1843-1944), 1987. Le Livre de Paris by SEFAG et L’ILLUS - TRATION

Ph.Eberhardt, Guide de l'An- nam Paris, Augustin Challamel, Éditeur, 1914

Roland Dorgelès, Sur La Route Madarine, (Ký sự),  Albin Michel, Paris 1925

Tài liệu về nhà máy nước Huế do Kỷ sư Bùi Hữu Lân sưu tập  


[1] Người Huế, tốt nghiệp trường Bách khoa Paris, hiện thường trú tại TP HCM 

 

 
 
Các bài Giữ hồn cho Huế khác