Với nhà dân tộc nhạc học Trần Văn Khê “Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình” (Kỳ 4)
“Viết hồi ký khó quá !” Hôm ấy, tôi nảy ra ý kiến và hỏi “Anh”: -“Năm nay anh gần tám chục rồi, cuộc đời anh phong phú đến vậy, sao đến giờ nầy anh chưa viết hồi ký?” “Anh Khê” nhanh nhẩu đáp:

        “Anh Khê” - một người có cuộc đời hết sức phong phú, văn hay chữ tốt, uyên bác đến vậy mà sao lại cho chuyện viết hồi ký “khó quá” là sao? Với giọng bất mãn, tôi nói như than:

           - “ Một đại trí thức như anh mà bảo không viết được hồi ký là sao? Em không hiểu được!.”

           “Anh Khê” cười:

           - “Khó là vầy. Anh có nhiều mối tình, có mối dù chỉ gặp nhau trong một thời gian ngắn nhưng rất sâu đậm. Viết hồi ký mà không viết những chuyện tình ấy là không trung thực với mình, Nhưng nếu viết thì nó lại không hợp chút nào với cuộc đời hoạt  động dân tộc nhạc học của anh. Vì thế mà anh thấy khó.”

          Cái tính bộc trực của tôi nổi lên:

        - “Trời ơi, chuyện ấy có gì khó đâu!  Anh hãy viết một cuốn hồi ký của ông Trần nào đó, kể lại hết những chuyện tình lớn nhỏ của anh, người đọc hiểu đó là hồi ký của anh, nhưng “không phải của nhà dân tộc nhạc học” Trần Văn Khê; sau đó anh viết một bộ hồi ký đích thực của nhà dân tộc nhạc học của chính Trần Văn Khê. Nếu có những mối tình làm trở ngại cho việc nghiên cứu phổ biến dân tộc nhạc học của anh, anh cũng viết và anh cho biết anh đã vượt qua như thế nào để người đọc chia sẻ với anh. Ngược lại có những người đàn bà đã giúp anh trên bước đường nghiên cứu học tập để trở thành nhà dân tộc nhạc học Trần Văn Khê được thế giới biết đến như hôm nay anh cũng phải viết để cám ơn những người ấy. Những mối tình ấy tăng thêm sức hấp dẫn cho tập hồi ký của anh, chứ sao lại không viết được!”

         Đang ngồi “Anh Khê” bật đứng dậy đến ôm tôi:

        -“ Cám ơn em Xuân. Có vậy mà lâu nay anh không nghĩ ra. Anh hứa sẽ thực hiện theo gợi ý của em”.

Và rồi, trước khi về định cư ở TP HCM, “Anh Khê” đã bắt đầu thực hiện đúng lời hứa ấy.

Làm sao hiểu được Phạm Duy ?

        Một hôm cùng nằm trong một khoang tàu hỏa đi Hà Nội, tôi kể cho “Anh” nghe chuyện sau ngày thống nhất đất nước, ông Tố Hữu bảo tôi vào Sài Gòn tìm gặp nhạc sĩ Phạm Duy và nói với Phạm Duy ý kiến của Tố Hữu là “ Đất nước thống nhất rồi, anh Phạm Duy tiếp tục sáng tác đi. Lấy khúc đầu (kháng chiến) nối với khúc đuôi (hoà bình), để khúc giữa qua một bên !”  “Anh Khê” nhổm người dậy bảo tôi:

        -“ Năm 1976 ông Tố Hữu cũng nói với anh như vậy. Nhưng lúc đó Phạm Duy đã đi rồi. Chuyện cũ đã qua, bây giờ làm sao cho những người có trách nhiệm ở trong nước hiểu Phạm Duy, đánh giá đúng tài năng của Phạm Duy và đồng thời liên lạc thúc đẩy Phạm Duy nên tìm cách xin về nước.”

          Cái thông tin cũ về nhạc sĩ Phạm Duy đã khơi dậy cả một cái kho ký ức về Phạm Duy lâu nay giấu kín trong lòng hai người. Bao nhiêu chuyện lành chuyện dữ lôi ra kể.

         “Anh Khê” nhận định:

          -“ Phạm Duy là một thiên tài âm nhạc. Nhưng đánh giá Phạm Duy cho đúng không phải dễ đâu. Tài thì rất tài nhưng chơi cũng rất ham chơi. Có lần Phạm Duy qua Pháp hát khoe với anh những ca khúc anh ta mới làm cho mấy cô bồ nhí. Anh phải từ chối một cách nặng nề rằng: “Thôi Duy ơi! Bạn đừng bắt tôi phải đi rửa tai mệt lắm.” Phạm Duy năn nỉ : “Ông là nhà nghiên cứu ông sống với lý trí. Còn tôi là nhạc sĩ sáng tác, ông hãy cho tôi sống với trái tim của tôi ! Ông cứ nghe tôi hát rồi nếu thấy nhớp thì cứ đi rửa tai không sao cả”. Anh không ngờ anh chàng nầy tử tế đến vậy. Anh phải chấp nhận ngồi nghe Phạm Duy hát. Và nghe cũng được. Sau đó anh không đề cập đến các ca khúc anh ta làm cho bồ nhí nữa, anh hỏi: “Duy là một nhạc sĩ sáng tác tài giỏi không ai bằng, nhưng Khê có thể hát những bài Tục ca cho các cháu của Khê nghe không?” Phạm Duy khoát tay lia lịa: “Không được! Không được!” . “ Tại sao một nhạc sĩ như Duy mà lại đi sáng tác những bài hát đó?”. Phạm Duy giải thích rằng lúc đó (khoảng năm 1966, 1967) trong xã hội miền Nam có quá nhiều chuyện bức xúc, Duy phản ứng lại một cách xả láng bằng loạt bài gọi là Tục ca đó thôi. Mỗi loại nhạc nó có công chúng riêng của nó. Sau qua giai đoạn đó, Duy có nhắc, có phổ biến Tục ca nữa đâu”. Đó. Không hiểu Phạm Duy đánh giá anh ta khó lắm”.

          Hết chuyện nầy đến chuyện kia thao thao bất tuyệt. Cho đến lúc tàu chạy vào đến ga Hà Nội, mới tạm dừng. Rồi được tiếp tục ở Vịnh Hạ Long, sau đó ở Huế, ở Paris … cho mãi đến lúc Phạm Duy về định cư và qua đời ở TP HCM gần mười năm sau đó, vẫn chưa dứt.

H.6. Bút tích Trần Văn Khê   “Thương quí tặng em Nguyễn Đắc Xuân và quí quyến để nhớ lại những lúc anh em mình nói chuyện về Phạm Duy lúc mới gặp nhau và những lần cùng gặp Phạm Duy trên đất nước thương yêu.04/10/2013”

   H.7. Tiễn đưa NS Phạm Duy đến nơi an nghỉ cuối cùng ở Công viên Nghĩa trang Bình dương (Đầu năm 2014)

             Cú điện thoại lúc 11 giờ đêm

           11 giờ khuya giữa năm 2013, tôi vừa vào giường ngủ thì điện thoai bàn reo inh ỏi. Trong đầu tôi hiện lên ý nghĩ: Giờ nầy mà còn có người gọi, một là bạn bè ở ngoại quốc gọi về, hai là người thân ở xa có vấn đề gì quan trọng phải báo ngay trong đêm. Cầm ống nghe đặt vào tai mà trong lòng vừa vui vừa lo lắng.

          -“ A-lô tôi nghe đây!”

          -“ A-lô ! A-lô ! Em Xuân phải không? Anh Khê đây!”

          -“ Em đây ! Giờ nầy mà anh chưa ngủ sao còn gọi em nữa? Có việc gì vậy, thưa anh?”

            -“ Anh vừa gởi cho em một e-mail, em mở máy đọc giúp anh và cho anh biết ý kiến. Anh chờ ý kiến của em xong anh mới ngủ đươc! Anh chờ em”.

          -“ Dạ. Em mở máy đọc ngay đây!”

Tôi mở máy đọc e-mail của trantruongca@yahoo.com.vn. Người viết cho biết trong một tập Truyện ngắn giai thoại và ký của bà HHT có một tản mạn viết đoạn sau đây:         

         Một tay xưng là “Tiến sĩ, giáo sư” từ trời Tây về nhưng hóa ra cái Tiến sĩ đó là nhờ sang đoạt tài liệu nghiên cứu của người khác để làm luận văn Tiến sĩ, bởi thế có bằng cấp cao như vậy mà ở xứ người rất nghèo đói, không ai mướn làm gì cả, cuối cùng phải Hồi Hương sống bằng nghề “Nói dốc” khắp nơi để kiếm tiền. Đi nói dóc hàng nghìn lượt nhưng không dám gom hết những bài nói dóc ấy để in thành sách , vì nói dóc, nói dở, nói trùng lặp qua nhiều gần như trăm bài như một, in thành sách làm sao được. Và cũng chỉ đi nói dóc thôi chứ không hề có một công trình nghiên cứu chuyên ngành mà ông ta có bằng tiến sĩ. Ở Việt Nam có ba trường chuyên ngành ấy , một ở Hà Nội, một ở Huế, một ở TP. HCM nhưng cả 3 trường chuyên ngành âm nhạc ấy chưa bao giờ mời vị tiến sĩ nọ giảng dạy một giờ nào, cũng chưa hề được 3 trường  mời diễn thuyết một lần nào, cũng chưa hề được ba trường chuyên ngành ấy mời diễn thuyết một lần nào. Vì cả 3 trường chuyên ngành chính quy ấy thừa biết là tiến sĩ dỏm, nhạc sĩ dỏm

          Tản mạn nầy được nhà văn T.P. đưa lên internet. Một người học trò nào đó của GS Trần Văn Khê đọc được. Trong đoạn Tản mạn không nêu tên nhưng ai cũng có thể hiểu người viết ám chỉ Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê. Người học trò gởi lại cho thầy để thầy biết niện nay trên internet có một chuyện như thế.

          Đọc qua đoạn tản mạn tôi không nhịn được cười. Tác giả đoạn tản mạn nầy theo dõi Trần Văn Khê rất kỹ. Không rõ vì một lý do nào đó mà bà rất hận Trần Văn Khê. Ví dụ như bà yêu mà không được Trần Văn Khê để ý. Bà nói ngược để Trần Văn Khê tức lộn ruột chơi chứ bà biết chắc chắn không ai tin những điều bà viết ra như trên cả. Khi người đàn bà “trả thù” thì khỏi nói. Cũng có thể bà muốn làm “người đốt đền” đấu đá với Trần Văn Khê để được nổi tiếng. Trần Văn Khê hay đệ tử của ông mà lên tiếng về đoạn tản mạn trên sẽ sập bẫy của bà ngay.

            Tôi trao đổi với nhà tôi, hai người bình luận xuôi ngược hết lẽ để phát biểu ý kiến với “Anh Khê”.

           Loay hoay một lúc mà đồng hồ đã điểm 12 giờ đêm.  Tôi bấm số 08. 35511249 gọi “Anh Khê” và được “Anh” trả lời:

           - “ Anh nghe đây. Em đọc mail của anh chưa? Em có ý kiến gì không?”

           Để phá tang cái sự nóng lòng chờ ý kiến của tôi, với giọng thât vui tôi nói nửa đùa nửa thật:  

         -“ Không có chi làm cho anh phải khó ngủ cả. Bà ấy yêu anh mà không được anh để ý nên bà trả thù bằng cách nói ngược chọc cho anh tức lộn ruột lên chơi đó thôi. Bà mà nghe anh khó ngủ vì đoạn văn trong e-mail bà sướng lắm đó. Em đề nghị anh tự “giải độc” bằng cách “không nghe, không thấy, không biết” và ngủ thật ngon. Nếu cần phải đối phó với bà bọn em sẽ lo.”

         Qua ống nghe tiếng “Anh Khê” cười  ha hả vang lên:

        -“ Vậy thiệt không em? Trời ! Yêu gì một ông già tám chín chục tuổi  kỳ quặc vậy hả ! “

        -“ Chỉ có hận tình thì bà ấy mới ngược ngạo đến vậy. Yêu là yêu chẳng kỳ quăc gì cả. Bà ấy mê cái tài hoa của anh, cái tài hoa ấy càng già càng sắc sảo không bớt đi chút nào cả”.

       -“ Anh tin em. Một lần nữa cám ơn em. Chuyện đối chánh đối phó gì với bà ấy, tùy các em. Anh ngủ đây!”

      -“ Chúc anh ngủ ngon!”

        -“ Chúc em ngủ ngon!”.

       Nói chuyện với “Anh Khê” xong, tôi cảm thấy mệt và hơi lo, đặt ống nghe vào máy, rồi thở mạnh, thở đều để lấy lại sự bình thường. Những chuyện tôi vừa nói như khẳng định đó đã giúp cho  “Anh Khê” yên tâm ngủ yên chứ chưa chắc đã là sự thật. Biết đâu bà ấy yêu một người nào vì ganh tỵ tài năng người đó đã mớm cho bà viết ngược ngạo như thế cho bỏ ghét. Nếu thật như thế thì chưa chắc bà ấy dừng lại ở đó đâu. Tôi vào giường ngủ với ý nghĩ  phải làm gì đó để giữ lời hứa với “Anh Khê”.

        “Anh Khê” là một chuyên gia dân tộc nhạc học, không những “Anh” nghiên cứu viết lách về âm nhạc dân tộc Việt mà còn nghiên cứu dân tộc nhạc học châu Á, so sánh âm nhạc dân tộc Việt với âm nhạc dân tộc nhiều nước để thấy cái hay, cái hạn chế của âm nhạc dân tộc Việt Nam. Phần lớn anh viết bằng tiếng Pháp, không mấy nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học Việt Nam sờ tới được. Bây giờ  cũng khó tìm được người dịch các nghiên cứu dân tộc nhạc học bằng tiếng Pháp của “Anh Khê” qua tiếng Việt. Nếu không có một đề án của nhà nước thì khó tìm được một mạnh thường quân nào có thể giúp làm được việc nầy. Tôi liền nghĩ đến một “công trình” nho nhỏ mà “Anh Khê” tặng tôi từ năm 1996, cuốn sách “Tran Van Khê et le Viet Nam”. Đây là một thư mục chú giải những công trình, bài viết của Trần Văn viết bằng tiếng Pháp rất phong phú. Nhưng nhiều từ chuyên môn dân tộc nhạc học quốc tế rất khó,  trước mắt không thể tìm được người dịch, và nếu có người dịch mà đi vận động kinh phí dịch thuật cũng không dễ. Ý nghĩ nhớ về “Tran Van Khê et le Viet Nam”, thoáng qua đầu tôi rồi mờ nhạt dần[4].

 

H.8. Trần Văn Khê và Việt Nam, tạp chí Musicale

        Tôi nghĩ đến một giải pháp khác. Nhân chuyện “Anh Khê” bị nhận định ngược, nên chăng vận động in một tập sách gồm những bài “Anh” mới viết hay mới trả lời phỏng vấn báo chí, những bài báo chí trong và ngoài nước viết về Trần Văn Khê  từ sau ngày “Anh” về định cư tại Việt Nam? Ý tưởng nầy sáng lên trong đầu tôi. Cuốn sách nầy nếu được ra đời nhân kỷ niệm 10 năm Trần Văn Khê về định cư ở quê nhà (2006-2016) thì có ý nghĩa vô cùng.

        Tôi xem lại cặp sưu tập Trần Văn Khê đọc được bài viết của nhà báo Thế Thanh Nghĩ từ thư viện Trần Văn Khê đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị [5] hợp với suy nghĩ của tôi. Tôi điện thoại cho nhà báo Thế Thanh và hẹn chị sẽ trao đổi về việc làm sách cho GSTS Trần Văn Khê. Thế Thanh hoan nghinh ý kiến của tôi. Tôi vào TP HCM. Lúc ấy chị đang lo sửa nhà nên hôm chị rảnh thì tôi bận, khi tôi bận thì chị rảnh, nên nhiều cuộc hẹn chưa thực hiện được.

         Đến thăm “Anh Khê”, nhắc lại cú điện thoại lúc 11 giờ đêm hôm nọ, hai anh em không nhịn được cười. Tôi kể chuyện đang chờ gặp chị Thế Thanh để bàn việc làm sách Trần Văn Khê để kỷ niệm 10 năm “Anh” về nước, và cũng để…

        Đang vui vẻ, “Anh Khê” đổi giọng nghiêm nghị bảo tôi:

        -“ Cám ơn các em. Về chuyện làm sách thì một vài công-ty cũng đã làm việc với anh rồi. Họ còn đề nghị làm cả phim nữa. Còn….Anh sẽ nhờ các em giúp anh những việc quan trọng sau nầy”.

Rồi từ đó không bao giờ tôi nghe “Anh” nhắc lại chuyện “Anh” bị người đàn bà cầm bút viết ngược về “Anh” nữa.

Trước đây, qua những lời đề tặng sách, tài liệu đĩa nhạc “Anh” đã cho em được làm “một người bạn đồng hành trên con đường tìm hiểu và phổ biến văn hóa Việt Nam[6] với “Anh”, được làm “đứa em tinh thần của anh để nhớ những lúc gần nhau tại quê nhà, tại nước Pháp và trong lòng của hai anh em mình[7], làm “một người em theo tuổi tác, một người bạn đồng hành trong công việc nghiên cứu, một người đem sức mình cống hiến cho đất nước Việt Namnhững tài liệu quí giá về lịch sử văn hóa của nước Việt yêu thương[8], “để nhớ lại những lúc anh em mình nói chuyện về Phạm Duy lúc mới gặp nhau và những lần cùng gặp Phạm Duy trên đất nước thân yêu[9].

        “Anh Khê” cho tôi những tác phẩm quý giá của "Anh". "Anh Khê" đã góp phần un đúc cái hồn Việt, cái hồn Cố đô Huế trong huyết quản của tôi. Tôi không ngờ chuyện “Anh Khê” hẹn sẽ nhờ tôi sau nầy là chuyện: trong Di chúc - anh đặt cho tôi làm một thành viên trong ban tổ chức tang lễ cho “Anh” vào cuối tháng 6-2015. Đây là một việc khó khăn, nặng nề đối với tôi nhưng cũng là một vinh dự hơn cả những lời khen tặng mà người đời đã dành cho tôi trước đó.

     Thưa “Anh Khê” – em phải sống tiếp như thế nào đây để xứng đáng với vinh dự “Anh” đã dành cho em? 

                                                Huế, Tháng 3-2016

                                                          N.Đ.X.

 

 

 



[4]  Không ngờ sau đó không lâu, cô Ngọc Hân – một trong những thư ký của Trần Văn Khê đã tìm được tiền tài trợ và cũng đã tìm được người dịch.  Trước khi qua đời Trần Văn Khê  đã xem qua một số trang bản dịch rồi. Hiện nay (3-2016) việc dịch “Tran Van Khê et le Viet Nam “ sắp hoàn thành.

[5]  Sài Gòn Tiếp Thị số ra ngày 29-8-2012.

[6] Lời đề tặng Marrionnettes sur eau du Viet Nam, Huế 3-11-1993

[7] Lời đề tặng ngày 12-4-2001, Hồi ký Trần Văn Khê, tập I

[8] Lời đề tặng Tự truyện Trần Văn Khê, Những câu chuyện từ trái tim, ngày 8-3-2011

[9] Lời đề tặng Tính dân tộc trong âm nhạc Phạm Duy & Tình bạn Duy Khê, ngày 4-10-2013   

 

 
 
Các bài Người ấy trong tôi khác
Các bài Người ấy trong tôi