Trên con đường văn hóa Việt Nam, em theo Thầy Nhất Hạnh - P3
Đầu tháng 5-2005, em được mời theo Đoàn của Trung tâm Nghiên cứu quốc học - do GS Mai Quốc Liên dẫn đầu sang Pháp và một số nước Châu Âu.

5. Có một ngôi làng Việt Nam rất Việt Nam trên đất Pháp

Đoàn đã gặp Hội người Yêu Huế, thăm viếng những nơi Bác Hồ đã từng sống qua, gặp Hội Người Việt Nam ở Pháp, thăm các nhân sĩ trí thức như GS Lê Thành Khôi, Kỹ sư Lê Huy Cận, Tiến sĩ Thu Trang Công Thị Nghĩa.v.v. Trong buổi lễ kỷ niệm Sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nhà Việt Nam (23 Rue Cardinal Lemoine, 75005 Paris), em hân hạnh được gặp ông Nguyễn Đình Bin, Đại sứ Việt Nam tại Pháp. Trong lúc trao đổi chuyện đưa Nghị Quyết 36 vào cuộc sống, ông Đại sứ rất vui kể chuyện ông đã có dịp về thăm Làng Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở 13 Martineau, 33580 Dieulivol (Bordeaux). Ông nói đại ý rằng:

- “Ở miền Tây nam nước Pháp nầy có một ngôi làng Việt Nam rất Việt Nam - Làng Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Đạo Phật ở Làng Mai là đạo Phật của Việt Nam. Thế mà bao nhiêu năm nay mình không hề biết. Vừa qua chúng tôi có dịp xuống thăm, tìm hiểu và khi trở lại Paris tôi viết ngay báo cáo gởi về nước bổ sung vào hồ sơ xét duyệt chấp thuận cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh TTH, mòi Thiền sư Thích Nhất Hạnh về thăm quê nhà”.

Tại Nhà Việt Nam  (Paris, 5-2005), lắng nghe ông Nguyễn Đình Bin - Đại sứ VN tại Pháp kể chuyện ông đã về thăm Làng Mai  ở miền Tây nam nước Pháp

Sau đó không lâu, em theo Trung tâm Nghiên cứu quốc học về Trúc Lâm Thiền Viện tại Villebon-sur-Yvette, thuộc vùng ngoại ô cách trung tâm Paris khoảng hơn 20 km về phía Nam, để dự lễ Phật đản và nói chuyện chuyên đề “Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo trong Văn học Việt Nam” Trong bữa ăn trưa em được ngồi cùng bàn với Thượng tọa Phước Đường - bào đệ của Hòa thượng Thích Thiện Châu, hiện là Viện chủ Trúc Lâm Thiền viện và ông Nguyễn Cao Vân ... Khi được biết ông Nguyễn Cao Vân là Cố vấn ở bên cạnh ông Đại sứ Việt Nam tại Pháp, em vui miệng kể chuyện vừa qua em được hầu chuyện ông Đại sứ về Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Nhà Việt Nam. Ông Nguyễn Cao Vân rất vui, bảo cho em biết đại ý là: “Trong chuyến đi thăm Làng Mai đó, tôi có tháp tùng ông Đại sứ. Đúng là không ngờ trên đất Pháp có một ngôi làng Việt Nam mà bao lâu nay mình không hề biết. Làng Mai là một trung tâm Phật giáo thế giới, có nhiều ngôi chùa hoàn toàn được xây dựng theo kiến trúc chùa Việt Nam, nào là Pháp Vân, Từ Nghiêm, Cam Lộ ở các Xóm Thượng, Xóm Mới, Xóm Hạ.v.v..tôi không đi hết và cũng không thể nhớ hết nhưng rất ấn tượng. Lại được Thiền sư Thích Nhất Hạnh tiếp và nói chuyện Phật giáo Việt Nam. Thiền sư ở Pháp mà nói chuyện văn hóa Việt Nam còn hay hơn mình ở Việt Nam nữa. Phật giáo Việt Nam mà như thế là rất tuyệt. Sau nầy về hưu tôi sẽ vô Huế xin qui y theo Đạo Phật!”

Chị ơi,

Lần đầu tiên em được nghe ý kiến các quan chức cao cấp có trách nhiệm nhận xét về Thầy và Làng Mai như thế em rất vững tin. Những ngộ nhận mấy chục năm qua có thể được làm sáng tỏ. Em chưa về Làng Mai bao giờ nên trong lòng em lâu nay cũng có những áy náy. Như thế em có thể cởi bỏ những áy náy trong lòng em được rồi. Em cám ơn ông Đại sứ, cám ơn ông Cố vấn của Đại sứ - những người đã đưa Nghị quyết 36 vào cuộc đời một cách thiết thực.

Tại Trúc Lâm Thiền viện (ngoại ô Paris), cám ơn ông Nguyễn Cao Vân Cố vấn Tòa Đại sứ VN tại Pháp về những thông tin Phật giáo Làng Mai,  5-2005

Đầu tháng 6-2005, em tạm biệt Pháp, đi tàu tốc hành TGV qua Đức thăm gia đình người quen ở Stuttgart và được hướng dẫn đi chợ cũ. Em ngạc nhiên thấy giữa cuộc sống nhộn nhịp hối hả ở khu chợ Đức nổi lên nhiều gian hàng trưng bày tượng Phật rất đẹp. Gian nầy có đủ loại tượng, với nhiều phong cách (Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam...), bằng nhiều chất liệu (gỗ, đồng, đá quý...) khác nhau, gian kia chỉ đặt vài pho tượng lớn, hoặc chỉ một pho tượng cổ cao quá đầu người. Nhiều khách hàng Đức và các nước khác đứng vòng quanh chắp tay nhìn ngắm một cách nghiêm cẩn. Em giương máy ảnh lên chụp làm kỷ niệm thì bị nhân viên bán hàng khoát tay bảo cấm chụp. Người hướng dẫn hỏi lý do thì được biết những pho tượng cổ ấy mới khai quật được từ một nước ở Đông Nam Á, rất cổ. Người ta cấm chụp ảnh để bảo vệ chất liệu cổ của tượng trước tác động hủy diệt của ánh đèn phờ-lát.  Em hỏi giá bán pho tượng ấy là bao nhiêu, người bán hàng lắc đầu “Không bán” - “Vậy trưng bày ở đây làm gì?” - “Vì chuyện buôn bán bây giờ căng thẳng quá. Chợ phải trưng bày nhiều tượng Phật để thư giãn” - “Căng thẳng vì chuyện gì?” - “Vì phải cạnh tranh, hàng hoá của Trung quốc và Á châu tràn ngập thị trường châu Âu quá dữ dội”.  Thật là bất ngờ. Em tự giới thiệu với họ em là người Việt Nam. Một cô chủ gian hàng với nét mặt rạng rỡ báo với em: “Việt Nam hả, đang có một Thiền sư Việt Nam đang giảng Đạo Phật ở đây. Nhưng vì ban ngày phải lo buôn bán chúng tôi không theo học được. Rất tiếc.” Em buột miệng hỏi “Thiền sư Thích Nhất Hạnh phải không?” Người bán vui vẻ “Đúng rồi. Ông Thiền sư Việt Nam Thích Nhất Hạnh có một trung tâm Phật giáo ở Pháp, có nhiều sách viết về Đạo Phật đó!” Ôi, chị ơi, được làm một Phật tử, một đồng hương với Thiền sư Thích Nhất Hạnh lúc nầy em cảm thấy vinh dự làm sao. Văn hóa Việt Nam qua Thiền sư - trưởng tử của Như Lai, đã đến được với người thường dân phương Tây như thế xưa nay em chưa từng nghe bao giờ.

6. Về một người tu theo pháp môn đạo Phật Làng Mai tìm được hạnh phúc

Qua sự việc ấy làm cho em nhớ lại cách đây gần mươi năm, gia đình em được đón ông bà Woong - Tâm ở San Francisco về thăm Huế. Ông Woong là bác sĩ gây mê hồi sức nổi tiếng của Mỹ, người gốc Trung Hoa sinh trưởng ở Hoa Kỳ, bà Tâm là chị con ông cậu ruột của bà xã em, du học Hoa Kỳ từ đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Đến Huế, ông bà nhờ em giới thiệu một người hướng dẫn để ông bà đi hành hương chùa Từ Hiếu. Em rất ngạc nhiên, thông thường khách du đến Huế thường đi thăm lăng tẩm, Cung điện nhà vua rồi sau đó mới đi chùa - mà ngôi chùa tiêu biểu là Thiên Mụ chứ không phải Từ Hiếu. Em hỏi lý do vì sao chỉ đi hành hương chùa Từ Hiếu thôi?  Ông Woong giải thích :

-  “Vì tôi muốn đến bái lạy ngôi chùa tổ của người Thầy đã làm thay đổi đời tôi!”

- “Thầy ông là ai?”

Ông lặng lẽ lấy trong xắc ra một tấm ảnh trịnh trọng trưng lên trước mặt em và đáp:

- “Thiền sư Thích Nhất Hạnh”.

Nhìn tấm hình Thầy Nhất Hạnh trên tay một đệ tử trí thức ngoại quốc em vui làm sao! Em nhanh nhẩu tiếp lời: 

- “Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng là người Thầy đã làm thay đổi đời tôi!”.

Ông Woong trố mắt vô cùng ngạc nhiên    ;

- “Thay đổi như thế nào? Anh cũng là đệ tử của Thiền sư?”.

Em kể với ông Woong chuyện Trường Tuệ Quang của Thầy Nhất Hạnh đã cấp Học bạ lớp Nhất để em đi thi Tiểu học. Nhờ thế em đã bước qua được cái ngưỡng Tiểu học để học lên cao trở thành người sống bằng ngòi bút hôm nay và chuyện Thầy Nhất Hạnh xúc động khi nghe bài thơ được phổ nhạc Để lại cho em của em mà viết nên cuốn sách Nói Với Tuổi Hai Mươi - sách gối đầu giường của Sinh viên học sinh Phật tử Việt Nam một thời.

Nghe em kể chuyện, ông Woong rất bất ngờ, ông xúc động và tỏ ra thân thiết gấp nhiều lần so với tình anh em “cột chèo” với em trước đó. Ông cho biết ông vốn là Con chiên ngoan đạo Thiên chúa, ông có bằng cấp cao, có gia đình con cái hạnh phúc, có tiền bạc tài sản vào loại khá giả ở Hoa Kỳ nhưng hơn nửa đời người ông không tìm được sự an ổn tinh thần, nhiều lúc hạnh phúc tưởng đã có lúc bị đe doạ tan vỡ. Sau đó may mắn ông đọc được các sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ông biết tìm hạnh phúc trong giây phút hiện tại, trong từng hơi thở, từng bước đi..., ông ngộ ra và đi theo Đạo Phật Làng Mai. Chùa Từ Hiếu trở thành ngôi nhà thờ tổ - nơi nương tựa của đời sống tâm linh của ông.

Sau cuộc gặp gỡ ấy ông Woong và em ngoài tình anh em “cột chèo” còn tình đồng đạo rất thắm thiết. Năm 2006, em sang Hoa Kỳ, và được gia đình ông Woong đón về nhà ở lại. Buổi sáng đầu tiên ông Woong giới thiệu với em bộ sưu tập về Thiền sư Thích Nhất Hạnh của ông. Tất cả những sách viết bằng tiếng Anh của Thiền sư Nhất Hạnh ông đều có đủ, nhiều đầu sách tái bản nhiều lần, ông đều mua để theo dõi sự bổ sung và sửa đổi trong từng lần tái bản. Đặc biệt nhất là bộ sưu tập tạp chí và báo chí có đăng bài và hình ảnh thầy Nhất Hạnh ở Âu Mỹ. Ông đưa cho em xem một mẩu báo mà ông đã nhuộm màu vàng câu văn: “Nếu trên cõi đời nầy có một vị Phật sống, thì vị Phật ấy chính là Thiền sư Thích Nhất Hạnh”. Một sự đánh giá ngoài sức tưởng tượng của em. Biết em cũng có một sưu tập chuyên đề Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ông Woong tặng em một số tạp chí viết về Thầy mà ông có hai bản.  

Có một chuyện nhỏ nhưng có lẽ không bao giờ em có thể quên. Hôm đó về Quận Cam, em đi với mấy tăng sĩ đội nón lá mặc áo tràng màu nâu vào Nhà hàng ăn chay Âu Cơ. Có một đoàn khách người Mỹ cũng vào quán ăn và họ chắp tay cúi đầu chào chúng em. Anh bạn em hỏi nhỏ họ, và họ cho biết họ chào “những đệ tử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh”. Anh bạn lại hỏi: “Vì sao biết chúng tôi là đệ tử Thiền sư Thích Nhất Hạnh?” Một người Mỹ đáp “Vì thấy các vị đội nón lá và mặc áo nâu của Thiền sư.” Chúng em vỡ lẽ là hình ảnh chiếc áo tràng màu nâu của Phật giáo Đại thừa Việt Nam trên người Thầy Nhất Hạnh và Đệ tử Phật giáo Làng Mai đã trở thành biểu tượng văn hoá tâm linh của Việt Nam. Có lẽ vì thế mà Thầy Thích Nhất Hạnh cũng như toàn thể môn đồ Phật giáo Làng Mai không bao giờ mặc một chiếc áo nào khác, màu áo nào khác ngoài chiếc áo tràng màu nâu. Chiếc áo tràng màu nâu của truyền thống Việt Nam đã được thế giới quen thuộc như một biểu tượng của Văn hóa - Đạo Phật Việt Nam.

7. Trên kệ sách tôn giáo - tâm linh trong các siêu thị sách ở Hoa Kỳ

Chị ạ, như chị biết, em học ở các trường không được bao nhiêu, muốn sống bằng nghề cầm bút em phải tự học trau dồi kiến thức qua thực tiễn cuộc đời và sách vở. Cho nên đến bất cứ thành phố nào em cũng tìm các hiệu sách. Qua bên Mỹ cũng vậy. Vào các hiệu sách hay siêu thị sách của người Mỹ ở kệ lịch sử và chiến tranh có vô số sách viết về chiến tranh Việt Nam của người Mỹ viết. Em ước chừng có hàng trăm cuốn, người bạn đưa em đi tìm sách bảo là từ trước đến nay có đến hàng ngàn cuốn. Nhiều cuốn lớn và nặng hơn cả cái Laptop HP em đeo trên vai. Ví dụ như cuốn Việt Nam toàn bộ lịch sử bằng hình ảnh (Viet Nam, A Complete Photographic History) của M. Maclear, có trên 2.000 tấm ảnh và bản đồ chiến tranh Việt Nam. Tự nhiên em hơi chạnh lòng khi không thấy có một công trình lịch sử chiến tranh nào của người Việt Nam được bày bán trong các nhà sách Mỹ cả. Sách chiến tranh Việt Nam với Mỹ của các tác giả Việt Nam mà không có trong các hiệu sách của Mỹ thì mơ gì có sách văn hoá Việt Nam của người Việt Nam có mặt trong các cửa hàng, siêu thị sách Mỹ! Nhưng rồi một bất ngờ đột ngột hiện ra trước mắt em.

Nhiều đầu sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong một hiệu sách tư nhân  ở Houston (Texas). Ảnh NĐX

Khi dạo qua kệ sách Tôn giáo và Tín ngưỡng em thấy có nguyên một tủ dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma và Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Đức Đạt Lai Lạt Ma có năm bảy cuốn, còn Thích Nhất Hạnh có đến hàng trăm đầu sách. Và không chỉ có một siêu thị mà có thể nói tất cả những cửa hàng sách, siêu thị sách, hiệu sách mới, hiệu sách cũ đều có riêng một ngăn sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh như thế. Có một việc nhỏ mà rất ấn tượng đối với em là: Trong các siêu thị sách Mỹ, tất cả các sách mới in dù của bất cứ ai (kể cả Tổng thống Mỹ và người đứng đầu các nước) mà sau 3 đến 5 tháng bán không hết đều bị lùa ra quầy bán xôn, sách giá 25 USD hạ xuống có khi chỉ còn 1 USD. Rẻ như đất (sol). Em mua được nhiều bản sách quý từ các quầy sách xôn ấy. Nhưng chị biết không, trong các quầy sách xôn thỉnh thoảng em thấy có một vài tựa sách của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng thật lạ, chưa bao giờ em thấy một cuốn sách nào của Thiền sư Thích Nhất Hạnh nằm trong các quầy sách xôn của Mỹ cả. Một hôm một anh bạn vong niên của em ở Houston (Texas) đưa em đi tìm mua sách ở một hiệu sách Việt Nam - hiệu Thiên Nga. Chủ tiệm sách nầy là một người theo Đạo Thiên chúa nên tiệm sách của ông phát hành nhiều sách của các tác giả Thiên chúa giáo hoặc thân Thiên chúa giáo như Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Lý Tưởng, Lê Đình Bích, Trần Gia Phụng.v.v. (Bạn học sử cùng thế hệ với em ở Đại học Huế). Gần mười một giờ sáng rồi mà tiệm sách vắng hoe. Em hỏi ông chủ quán đang ngồi nhổ râu:

- “Sao giờ nầy mà chưa có khách, thưa ông?”

Ông chủ quán đáp với giọng buồn thiu:

- “Sách Việt xuất bản ở Mỹ bây giờ bão hòa rồi. Rất ít người tìm mua. Phần lớn họ đi Việt Nam, hoặc gởi mua sách xuất bản ở Việt Nam. Sách Việt Nam bây giờ in đẹp, sách hay và giá quá sức rẻ. Ở đây chúng tôi chỉ còn sống được nhờ sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh thôi!”. 

Câu trả lời của ông chủ tiệm sách Thiên Nga rất chân thành và cho em một thông tin bất ngờ thú vị. Đáp lại thịnh tình của ông chủ quán, em mua một số sách của những tên tuổi quen biết của em trước đây vừa để kỷ niệm vừa để biết anh em họ đang viết gì và viết như thế nào ở Hoa Kỳ. 

Những đầu sách của Thích Nhất Hạnh viết bằng tiếng Anh thuộc loại best seller ở các siêu thị sách Mỹ năm đó (2006) là các cuốn Anger (giận), Peace is Every Step (An lạc từng bước chân), Thundering Silence (Im lặng sấm sét), Taste of Earth (Hương vị của đất), và đặc biệt là cuốn Old Path White Cloud (Đường xưa mây trắng) đã được Nhà tỷ phú kiêm kỹ nghệ gia Bhupendra Kumar Modi của Đại công ty quốc tế Mcorp Global chọn lựa ký hợp đồng đưa lên phim ở Hollywood với một kinh phí khổng lồ 120 triệu USD. Trong giới Việt Kiều, dù là người theo hay không theo Đạo Phật, đều rất tự hào Việt Nam có tác giả Thích Nhất Hạnh. Văn hoá Việt Nam qua ngòi bút của Thích Nhất Hạnh đã lan toả ra khắp các nước phương Tây. Chưa có nhà sư nào, một nhà văn hóa nào, một trí thức khoa bảng Việt Nam nào ở trong cũng như ở ngoài nước từ xưa đến nay đã có được một thành tựu đáng kể như thế.

HS Đinh Cường trước hàng trăm đầu sách của tác giả Thích Nhất Hạnh trên kệ sách siêu thị sách ở Thành phố Virginia Hoa Kỳ. Ảnh NĐX

Ra khỏi cửa một siêu thị sách ở gần Đại học Harvard (Boston), anh bạn đưa em đi xem sách bảo em: “Đối với Mỹ bây giờ, họ nghĩ về Việt Nam chỉ có hai vấn đề. Nói đến quá khứ là chiến tranh, người đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nói về thời hiện tại là hòa bình - người tiêu biểu là Thiền sư Thích Nhất Hạnh.” Cái nhìn khái quát ấy làm cho em suy nghĩ hoài. Không ngờ sau đó vào tháng 11-2006, tạp chí Time Asia Magazine, trong số đặc biệt kỷ niệm 60 năm tạp chí xuất bản ở châu Á (ngày 13 tháng 11 năm 2006, bộ 168, số 20) dành để vinh danh “Những vị anh hùng châu Á đã xuất hiện trong vòng sáu mươi năm qua” - “đã góp phần tạo dựng xã hội chúng ta (châu Á) trong thời đại mới”. Trong danh sách những vị anh hùng châu Á được vinh danh, Việt Nam có hai người. Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Tướng Võ Nguyên Giáp đã lãnh đạo chiến tranh đánh thắng thực dân xâm lược, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã “góp phần chấm dứt khổ đau của chiến tranh Việt Nam”. Chiến tranh rất anh hùng. Hòa bình rất nhân hậu.

(Còn tiếp)

Huế, mùa thu năm 2008

Nguyễn Đắc Xuân

 

 
 
Các bài Người ấy trong tôi khác
Các bài Phóng sự - Bút ký
Các bài Phóng sự - Bút ký