Vui xuân đón tết trong cung Nguyễn
Di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại vào năm 1993. Từ đó, hằng ngày có hàng ngàn người trong và ngoài nước đến tham quan. Nhưng nhà Nguyễn - chế độ quân chủ cuối cùng ở Việt Nam, đã cáo chung bảy mươi năm rồi, Cố đô Huế lại trải qua hai cuộc chiến tranh rất ác liệt cho nên ngày nay khách đến tham quan chỉ chiêm ngưỡng được một số di tích, với một ít hình ảnh cũ chứ không thể biết được đời sống trong cung cấm - nhất là trong thời gian vui xuân đón tết - như thế nào cả.

Bài viết nầy cung cấp một số thông tin mà người viết đã biết được qua sử sách và hai người thân trong gia đình[*] như sau:

Mở đầu việc đón năm mới bằng lễ Ban sóc diễn ra vào ngày 1 tháng 12 tại lầu Ngọ Môn. Hôm đó Khâm Thiên Giám phân phát lịch mới của nhà vua cho bá quan và các Hoàng thân, Quốc thích. Tiếp đến là lễ Phất thức, tức là lau chùi các ấn ngọc ấn vàng, kim sách ngân sách, được cử hành tại điện Cần Chánh. Lau chùi xong bỏ vào trắp khoá chặt. Sau lễ Phất thức các cơ quan nhà nước nghỉ việc, chuẩn bị đón tết. Đến 30 tết là lễ dựng nêu. Cây nêu của Kinh Thành dựng lên, các dinh thự, chùa chiền, các địa phương theo đó cùng lên. Cây nêu báo hiệu toàn dân nghỉ việc ăn tết.

Lễ dựng nêu đón tết năm Ất mùi 2015. Ảnh TTBTDTCĐ Huế

Lễ Tết Nguyên đán chính diễn ra vào sáng sớm ngày Mồng một Tết. Hôm ấy quân lính mang khí giới, tàn quạt, cờ lọng, voi ngựa trang sức rực rỡ cùng các loại xe nhà vua thường dùng...sắp hàng từ trước sân điện Thái Hòa ra đến cửa Ngọ Môn. Vua mặc đại triều, từ điện Cần Chánh ra điện Thái Hoà rồi ngự lên ngai vàng để cho bá quan và hoàng thân quốc thích lạy mừng. Trong lúc vua ngự, trên lầu Ngọ Môn chuông rung, trống đánh liên, hồi hết sức uy nghiêm.

Đầu xuân còn có lễ Tịch Điền. Lễ diễn ra tại sở Tịch Điền trong Kinh Thành (phía bắc ngoài Hoàng Thành). Nhà vua, các hoàng thân, các vị đại thần cày mấy đường cày đầu năm để làm gương khuyến khích nhà nông theo đó mà siêng năng công việc cày cấy. Lúa gạo thu hoạch được từ ruộng Tịch Điền sẽ dùng để tế Nam Giao, tế các thần và tế ở các lăng, miếu. Từ triều vua Đồng Khánh (1885-1889) đến triều vua Bảo Đại có thêm lễ vua đi “Du Xuân.

Các vua Nguyễn coi trọng việc cúng tế liệt thánh. Từ ngày ba mươi đến mồng ba tết, đều có đặt cỗ bàn cúng ở các miếu Triệu (thờ Nguyễn Kim), miếu Thái (thờ chin đời chúa Nguyễn), miếu Hưng (thờ thân sinh vua Gia Long), miếu Thế (thờ các vua Nguyễn), các lăng vua và  điện Phụng Tiên (nhà thờ các liệt thánh dành cho phụ nữ trong cung). Mỗi lần cúng có 32 món ăn riêng (cổ) như nem, chả, tré, gà hầm, thịt quay, thịt dê ướp nướng, gỏi dê, bó sỗ dê..., bánh ngọt, trái cây, rượu. Buổi sáng cúng các vua, buổi chiều cúng các công thần.

Do cúng bái nhiều nơi, yêu cầu phải có một lượng vật phẩm lớn, đội ngũ chế biến, nấu nướng thức ăn rất đông. Vật phẩm mua ở Huế, vật phẩm các huyện và các tỉnh tiến dâng như Hà Nội thường tiến bánh phục linh, rượu sen, rượu cúc; tỉnh Hải Dương tiến danh nham hảo trà... Đội ngũ lo việc bếp núc được chia làm hai sở:

-Sở Lý Thiện: Ở phường Huệ An (đầu đường Lê Huân ngày nay). Dân làng Phước Yên - thuộc huyện Quảng Điền từng là Thủ phủ của chúa Nguyễn Phúc Nguyên - nổi tiếng nấu ăn ngon. Lúc thịnh thời nhà Nguyễn tuyển đến 350 người nấu ăn giỏi của Phước Yên sung vào việc nấu ăn ở sở Lý Thiện; 

-Sở Thượng Thiện: gồm có hai dãy nhà ở ngay phía bên trái trước mặt Nhà hát Duyệt Thị Đường trong Tử Cấm Thành làm năm Tự-Đức thứ 6 (1853). Đội Thượng Thiện ít nhất có 50 người. Lính Thượng Thiện lo đi chợ và nấu ăn cho vua và các bà trong Tam Cung, Lục Viện. Thượng Thiện lo nấu cho vua ăn, còn đối với các bà thì chia thực phẩm mới mua về, vì các bà đều có người hầu riêng.

Thế ngày xuân trong cung cấm, sinh hoạt của nhà vua với vợ con ông như thế nào?

Vào dịp tết Nguyên đán các hoàng tử, các công chúa đã xuất phủ (đã có nhà và gia đình riêng) không có dịp nào được gặp vua nữa cả. Còn các bà vợ vua thì vẫn ở trong Tử Cấm thành. Riêng các bà trong Tam Cung và các bà có chức sắc, ngày tết Nguyên đán, được mặc lễ phục đứng hai bên đường làm hàng rào danh dự từ điện Càn Thành ra điện Cần Chánh để chào vua đi qua. Không có bà nào, người con nào được ngồi ăn tết với vua cả. Vì thế có nhiều bà tiếng là vợ vua mà quanh năm không được thấy mặt vua, dù nơi ở của các bà chỉ cách điện Càn Thành - nơi vua ngự, chỉ năm ba chục mét. Để tạo cơ hội cho tất cả các bà  phi, tần, mỹ nữ trong chín bậc được nhìn thấy mặt vua vào những ngày chuẩn bị đón chúa Xuân, các vua Nguyễn đã nghĩ ra một cách gặp mặt rất độc đáo: Đến ngày đông chí hằng năm, tất cả lửa trong Tử Cấm thành đều phải tắt hết. Chỉ tại điện Càn Thành nhen một lò lửa thật lớn. Đúng vào lúc nửa đêm, tất cả các bà trong Tam cung Lục viện được phép mang lồng ấp đến điện Càn Thành để vua ban cho một ít lửa, ngụ ý rằng vua ban hơi ấm cho mọi người. Chút “lửa tình” nầy được các bà giữ suốt năm.

Các vua Nguyễn đều rất thích thi văn, đặc biệt là vua Tự Đức. Hằng năm nhà vua thường chọn bốn quan văn để họa thơ vua. Cứ gần đến Giao thừa, các quan được chọn họa ngự thi phải đứng đợi trước nhà mình bên cạnh hương án trầm hương nghi ngút với hai người lính hầu hai bên. Khi nghe có tiếng ngựa hí, lục lạc kêu leng keng, bọn lính hầu đưa áo rộng cho quan mặc. Quan mặc áo xong thì viên kỵ mã cũng vừa đến, hai tay ôm tráp dâng lên. Viên quan họa ngự thi phải quỳ xuống phụng thỉnh một bản thơ vua (có tất cả 4 bản dành cho 4 vị quan), xá hai xá rồi vào ngồi sau hương án xem thơ và chấm mực hoạ ngay trên giấy Hoa tiên. Viên kỵ mã chạy giao 3 bản thơ còn lại cho các quan ở các nơi. Giao xong viên kỵ mã quay trở lại nhận bài họa của người được họa đầu tiên. Nhà vua ngồi chờ 4 bài phụng họa bên lò hương trầm. Khi nhận đủ bốn bài nhà vua duyệt lại rồi giao cho một cận thần đọc trước văn võ bá quan vào ngày đầu năm. Lúc đó nhà vua sẽ phán bài phụng họa nào hay nhất và được thưởng.

Theo quan niệm ngày xưa, ông vua là con trời (thiên tử), nắm trong tay mọi quyền hành trong của xã hội. Ngày tết đối với bậc thiên tử không chỉ là thời gian nghỉ việc triều chính để chơi mà là để kiểm kê của báu (lễ Phất thức), chuẩn bị cho công việc của năm sau (Ban sóc), tưởng nhớ đến tổ tiên (cúng bái ở các miếu, điện), khuyến khích dân chúng siêng năng sản xuất (lễ Tịch điền). Nhà Nguyễn tuy không còn nữa, nhưng tất cả những sinh hoạt tết ấy vẫn còn tìm thấy trong sử sách và có một ý nghĩa nhất định. Phải chăng đó cũng là một phần trong di sản phi vật chất của chúng ta hôm nay!

Huế, tháng 1-2015

Nguyễn Đắc Xuân


[*] Ông nội tôi là cụ Nguyễn Đắc Tiêu (1879-1962) - nhạc công rồi đội trưởng đội Nhạc chánh Nam triều (tức đội Nhã nhạc cung đình Nguyễn) trải qua các triều Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại. Ông nội tôi thường được gọi đến tấu nhạc phục vụ các bữa Ngự thiện của các vua hoặc các buổi yến tiệc trong Nội. Còn bác tôi là ông Nguyễn Đắc Vọng (1907- 1980) buổi đầu theo ông nội tôi vào Nội học Nhạc chánh/Nhã nhạc, nhưng ngay sau đó ông được vua Khải Định chọn làm Thị vệ và được phong Ngũ đẳng ở bên cạnh suốt đời vua Khải Định. Ban đêm bác được ngủ với vua kể cả thời gian vua Khải Định sang Pháp năm 1922.

 

 
 
Các bài Huế xưa khác
Các bài Nghiên cứu
Các bài Bài mới viết