Bảy mươi năm (1945-2015) nhìn lại sự kiện vua Bảo Đại thoái vị và làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
Chủ tịch Hồ Chí Minh mời CH Bảo Đại làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ VNDCCH là một bài học về cách dùng người. Rất tiếc bài học ấy chưa được vận dụng tốt trong nhiều hoàn cảnh.

Sự kiện lãnh đạo Cách mạng tháng 8/1945 tổ chức lễ thoái vị cho Bảo Đại - ông vua cuối cùng của nhà Nguyễn, đã diễn ra cách đây đúng 70 năm (1945-2015). Từ đó đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu và bài viết dành cho sự kiện tài nầy.

Như lịch sử đã ghi: Sau ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh (15.8.1945), dưới sự lãnh đạo của  Chủ tịch Hồ Chí Minh và năm ngàn Đảng viên Cộng sản Việt Nam, quần chúng yêu nước từ Bắc đến Nam đã nổi dậy làm Cách mạng Tháng 8/1945 thành công. Vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim ở Huế hết sức lo sợ cho tánh mạng của mình.

 

Cựu hoàng Bảo Đại (1913-1997)

Ông Trần Huy Liệu - đại diện cho Chính phủ lâm thời VNDCCH vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại cho biết:   

Sau khi Nhật đã đầu hàng (15.8.1945), dân chúng biểu tình đoạt Chính quyền ở Huế, Bảo Đại đã hoang mang lo sợ. Cái hy vọng của Bảo Đại lúc này không phải là duy trì “ngôi báu” mà chỉ là bảo toàn tánh mạng. Nhất là khi thấy công an ta xông vào Hoàng thành bắt Vĩnh Cẩn là em họ của mình thì Bảo Đại càng lo sợ sẽ đến lượt bản thân hắn”. (1)

Và chính ông Trần Trọng Kim-người đứng đầu chính phủ của Bảo Đại lúc đó cũng phải thừa nhận một thực tế là:

  “Trong tình thế nguy ngập như thế, ở Huế còn có người bàn sự chống cự. Tôi muốn biết rõ sự thực, liền gọi trung úy Phan-Tử-Lăng người đứng coi đoàn thanh niên tiền tuyến ở Huế, hỏi xem có thể trông cậy bọn ấy được không. Trung úy Phan-Tử-Lăng nói: “Tôi có thể nói riêng về phần tôi thì được. Còn về các thanh niên tôi không dám chắc”.

  Bọn thanh niên tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế, huống chi những lính Bảo An và lính Hộ thành tất cả độ vài trăm người, những lính để canh giữ công sở, súng ống không ra gì, đạn dược không đủ, còn làm gì được, cũng bị Việt Minh tuyên truyền xiêu lòng hết rồi”.(2)

          Trong tình hình đó chuyện quần chúng cách mạng xông vào Hoàng thành bắt và giết vua Bảo Đại là chuyện rất dễ dàng. Nhiều bài viết và hồi ký cách mạng đã viết: Sở dĩ quần chúng cách mạng không giải quyết số phận của vua Bảo Đại giống như dân chúng Pháp (1789) đối với vua Louis XVI và dân chúng Nga (1917) đối với vua Nicolas đệ nhị là nhờ vào chính sách nhân hậu của Cách mạng tháng 8/1945. Chuyện đã rõ ràng không có gì cần phải nhìn lại nữa. Tuy nhiên, còn một khía cạnh khác mà sáu mươi năm qua giới sử học chưa quan tâm đúng mức là ý nghĩa chính trị của sự kiện “Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy” (tên thật của CH Bảo Đại) trong chánh thể Cộng hoà từ ngày nước ta tuyên bố độc lập (2-9-1945) cho đến sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946). Đề cập vấn đề nầy tôi không có mục đích “báo công cách mạng” cho Cựu hoàng Bảo Đại mà để hiểu hơn về thuật dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

1. Cách mạng Tháng 8/1945 diễn ra trong bối cảnh

“lưỡng đầu thọ địch”

Cách mạng Tháng 8/1945 diễn ra trong bối cảnh quân đội chiếm đóng Nhật (kẻ thù trực tiếp) đầu hàng các lực lượng Đồng Minh. Quân Đồng Minh có trách nhiệm sẽ đến Việt Nam giải giới hàng quân Nhật. Tại Hội nghị Potsdam (ngoại ô Berlin), Đồng Minh phân công cho quân Anh vào miền Nam VN (lên đến vĩ tuyến 16), và giao cho quân đội Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc (xuống đến 16) tước khí giới quân Nhật. Phía sau quân Anh có quân Pháp theo cùng với ý đồ lập lại thuộc địa ở Đông Dương. Quân Tưởng Giới Thạch vào Việt Nam với ý đồ thiết lập một chính phủ thân Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Hai lực lượng Đồng Minh có xu hướng chống Cộng sản ấy khi đến Việt Nam sẽ chính thức gặp các chính quyền “hợp pháp” thời Nhật chiếm đóng, tức là tìm gặp chính quyền của Bảo Đại-Trần Trọng Kim. Đối với chính quyền Cách mạng, các lực lượng Đồng Minh xem như những người lợi dụng tình thế soán đoạt “bất hợp pháp” nếu …(Chính các nhà viết sử Việt Nam cũng thường viết là ta “cướp chính quyền” trong Cách mạng Tháng 8/1945). Đúng như nhà sử học Pháp Daniel Hémery đã viết : “Từ tháng 9/1945, chính phủ của cụ Hồ Chí Minh đứng giữa hai lò lửa” (Des septembre, le gouvernement de Ho Chi Minh est pris entre deux feux) (3). Lò lửa thực dân Pháp và lò lửa Quốc dân đảng Trung Hoa. Hai lò lửa đó sẽ vin vào vấn đề pháp lý mà đốt cháy sự nghiệp cách mạng của ta. Chính luật sư Phan Anh - Bộ trưởng bộ Thanh Niên trong chính phủ Trần Trọng Kim (1945) và Bộ trưởng Ngoại thương lâu năm của Chính phủ VNDCCH sau nầy là người đã sớm thấy vấn đề đó.

   Mặc dù ta đã cướp được chính quyền: “Nhưng còn lại một vấn đề pháp lý (4). Chính phủ nước Cộng hòa Việt Nam là một Chính phủ Cách mạng hẳn là thế, nhưng ngay đối với một chính phủ cách mạng, nếu kẻ đương quyền tuyên bố từ chức và bằng cách nào đó thừa nhận chính phủ cách mạng thì cũng có thể coi là điều có lợi.... Đó là một vấn đề pháp lý và nhất là chính trị.

Sau ngày 19-8-1945 trong thực tế Chính phủ Lâm thời VNDCCH đã nắm được chính quyền nhưng chưa được một nước nào trên thế giới công nhận(5), nên chưa đủ tư cách pháp nhân để thương lượng với các lực lượng Đồng Minh. Điều đó có nghĩa là các lực lượng Đồng Minh sẽ có thể không thương lượng gì với Chính phủ Lâm thời VNDCCH. Nếu Chính phủ Lâm thời không vượt qua được sự thử thách nầy thì sẽ đánh mất cơ hội để thế giới công nhận nền độc lập non trẻ của Việt Nam..

Muốn hiểu được hoàn cảnh đó khó khăn đến như thế nào xin điểm lại những hoạt động của Quân Tưởng Giới Thạch và các toán đặc nhiệm Pháp sau đây:

1.1. Vấn đề pháp lý của chính phủ Lâm thời VNDCCH và vai trò của vua Bảo Đại dưới mắt của quân đội Tưởng Giới Thạch.

Vấn đề nầy được nêu rõ qua 3 văn thư của Tư lệnh Quân đoàn đặc nhiệm của Tưởng Giới Thạch là KuanHin (còn có tên Alexander) gởi cho Bảo Đại và Tổng Chỉ huy Ủy ban nhân dân cách ở Bắc Kỳ trong các ngày 21, 22 tháng 8/1945 mà Bảo tàng Cách mạng VN còn giữ được và báo Xưa và Nay của Hội Sử học Việt Nam đã giới thiệu trong số 66 tháng 8/1990 (6).

Ngày 19-8-1945, Cách mạng Tháng 8 đã thành công ở Hà Nội, chính quyền đã về tay nhân dân, thế mà hai ngày sau - 21 tháng 8 - Tư lệnh Quân đoàn đặc nhiệm của Tưởng Giới Thạch là KuanHin (Alexander) vẫn viết thư khuyên Bảo Đại với tư cách Bảo Đại là người đứng đầu chính quyền Việt Nam rằng:

   “Tôi xin được phép khuyên Hoàng thượng hãy cử những phái viên ngoại giao đến Trung Quốc càng sớm càng tốt để được công nhận nền độc lập của đất nước ngài”.

KuanHin (Alexander) cho rằng Việt Minh dù đã nắm chính quyền nhưng không hợp pháp và sẽ không được công nhận: 

 “Việt Minh đã nắm chính quyền. Nhưng họ có nguy cơ làm mất nền độc lập mà tôi đã đề nghị”.

Và, KuanHin thúc giục Bảo Đại thành lập một chính phủ hợp pháp để thương lượng với Tưởng Giới Thạch cho nền độc lập Việt Nam. 

“Xin Hoàng thượng hãy tổ chức ngay một chính phủ hợp pháp để việc yêu cầu Độc lập trở thành hợp pháp”.                                                                    

Không rõ thư của KuanHin có đến được tay Bảo Đại hay không, nhưng ngay ngày hôm sau - ngày 22 tháng 8 năm 1945 - ông ta lại gởi thư cho vị “Tổng chỉ huy Ủy ban  nhân dân cách mạng ở Bắc Kỳ” khuyến cáo Việt Minh:  

   “nên hợp tác trong điều kiện nhanh nhất có thể được với những lãnh tụ các đảng phái, để thực hiện sự đoàn kết của các ngài trước Ủy ban giải giáp (quân Nhật)” và “ký kết một hiệp ước cam đoan giữa Hoàng đế (Bảo Đại) và Ủy ban nhân dân cách mạng về việc thoái vị, hãy chờ khi các ngài hoàn toàn độc lập vì chính phủ chúng tôi chỉ có thể thương lượng với một chính phủ hợp pháp, mà việc điều đình là cực kỳ khẩn cấp”.

Thư gởi đi rồi, KuanHin có lẽ cảm thấy chưa đủ sức ép đôi với Việt Minh nên cũng ngay trong ngày 22.8.1945. lấy tư cách Tư  lệnh  Quân đoàn 3 đặc nhiệm Trung Hoa ông ta gởi tiếp một văn thư nữa cho Việt Minh nhấn mạnh đến tính cách chưa hợp pháp của chính phủ lâm thời VNDCCH:                                                                     

   “Chính phủ Trung Quốc sẽ không công nhận một chính phủ bất hợp pháp được tổ chức ở Bắc Kỳ. Chính phủ Trung Quốc chỉ có thể điều đình với một chính phủ hợp hiến. Chính phủ Trung Quốc hy vọng có một sự thỏa thuận ngay giữa Ủy ban với chính quyền ở Huế, và muốn có một chính phủ đoàn kết quốc gia thay vì một chính phủ chuyên chính của đảng”.

   Để có được độc lập, các ngài không nên có thái độ phản kháng với các nước Đồng Minh và nhất là với Trung Quốc, với Hoàng đế của các ngài đã hủy bỏ những hiệp ước bất bình đẳng và tuyên bố độc lập cho đất nước các ngài.

  Việc khẩn cấp nhất là hãy tiếp xúc với chính quyền ở Huế, để có một chính phủ hợp pháp ở Bắc kỳ và một chính phủ hợp pháp ở Huế, để tiến hành ngay cuộc đàm phán với chính phủ Trung Quốc. Nếu chậm trễ các ngài sẽ mất hết.  Hãy để vấn đề chính trị nội bộ về sau. Hơn nữa Hoàng đế của các ngài là người duy nhất chính thức được các chính phủ khác công nhận. Hoàng đế đã có những bước khởi động quốc tế đầu tiên đáng thừa nhận. Nếu các ngài muốn, các ngài có thể yêu cầu Hoàng thượng thoái vị sau, khi các ngài thực sự đã độc lập”(7).

Qua trích dẫn ba văn thư ngoại giao nêu trên ta thấy rõ quân Tưởng Giới Thạch:

- Vẫn xem Bảo Đại là người đứng đầu nhà nước Việt Nam; “là người duy nhất chính thức được các chính phủ khác công nhận”;

- Không đồng ý  cho Bảo Đại thoái vị ngay;

- Yêu cầu Bảo Đại cho người đến gặp quân Tưởng để được công nhận;

- Thông báo cho Việt Minh biết chính phủ của Việt Minh lập nên là không hợp pháp và không được quân Tưởng công nhận;

- Yêu cầu Việt Minh thương lượng với Bảo Đại để lập một “chính phủ đoàn kết quốc gia thay vì một chính phủ chuyên chính của đảng.”

Nếu thực hiện tất cả những yêu cầu của quân Tưởng Giới Thạch nêu trên thì sự nghiệp Cách mạng Tháng tám/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo sẽ tan thành mây khói. Đồng thời, nền độc lập vừa được quân Tưởng Giới Thạch công nhận ấy sẽ phải đương đầu với chủ trương lập lại thuộc địa ở Đông dương của Pháp dưới trướng tướng De Gaulle. Cuộc tranh chấp ấy chắc chắn sẽ  xoá mất cơ hội  giành độc lập của nước Việt Nam .

1.2. Các toán đặc nhiệm của thực dân Pháp nhảy dù xuống tìm chính quyền cũ của Bảo Đại.

Ngay khi Nhật tuyên bố đầu hàng, De Gaulle thực hiện việc Pháp trở lại Đông Dương: ngày 15.8.1945, cử Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu - một người rất bảo thủ, làm Cao ủy (Haut Commissaire de France pour l’ Indochine) và cử tướng Leclerc làm Tư lệnh tối cao các Lực lượng Pháp  tại Đông Dương. De Gaulle đã giao nhiệm vụ cho hai người nầy là:

“1. Cao ủy Pháp tại Đông Dương sử dụng những quyền hạn của mình là Toàn quyền Đông Dương và Tổng tư lệnh các lực lượng thủy, lục, không quân có căn cứ trên đất Đông Dương hoặc đã được chỉ định để đến chiếm đóng Đông Dương.

“Sứ mệnh đầu tiên của Cao ủy là khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên các lãnh thổ của Liên bang Đông Dương.

“2. Tướng chỉ huy tối cao của các lực lượng quân sự tại Viễn Đông chịu trách nhiệm, dưới quyền của Cao ủy, thi hành mọi biện pháp quân sự cần thiết nhằm khôi phục chủ quyền đó.”  (8)             

Để chuẩn bị chiến tranh tái chiếm Đông Dương, thực dân Pháp đã bí mật  tổ chức nhiều toán đặc nhiệm nhảy dù xuống Việt Nam để bắt liên lạc với các tổ chức thân Pháp cũ chuẩn bị chiến tranh. Toán nhảy dù xuống Bắc bộ (do Messmer chỉ huy), ở vùng chân núi Tam Đảo. (Sau cuộc đảo chính 9.3.1945, quân Nhật đã giam giữ Pháp kiều ở khu nghỉ mát Tam Đảo). Toán nầy đã gặp được phái đoàn Mỹ và Sainteny (Pháp) ở Hà Nội. Toán nhảy dù xuống Nam bộ (do Cédille chỉ huy) đáp xuống Hòn Quản (Lộc Ninh) rồi được quân Nhật đưa về gặp tướng Gracey đang chỉ huy quân Anh, Ấn ở Sài Gòn.  Riêng ở Huế, vào ngày 29.8.1945, một toán đặc nhiệm mang tên Lamda được trang bị đầy đủ vũ khí, điện đài, lương thực do Thiếu tá Castette cầm đầu từ một chiếc máy bay B.26 nhảy dù xuống Hiền Sĩ thuộc huyện Phong Điền (phía tây bắc Thành phố Huế). Toán đặc nhiệm Lamda nhân danh sĩ quan quân đội Đồng Minh đến Huế để tìm gặp thượng thư bộ Lại Phạm Quỳnh và vua Bảo Đại. Ngoài thiếu tá Castette còn có hai đại úy Aguirec và Lebel và trung úy Bourbon. Trong số Giấy tờ toán đặc nhiệm mang theo có tờ Công vụ lệnh nguyên văn như sau:

“ Gouvernement Provisoire de la République Francaise

ORDRE DE MISSION

Le Commandant Castette est chargé de mission spéciale en Indochine par le Gouvernement Provisoire de la République Francaise.

Toutes les forces Francaises Libres FFL et Forces Francaises de l’ Intérieur FFI sont priées de se mettre sous les ordres du Commandant  Castette.

Le Commandant Castette procédera, le moment venu, à l’occupation de tout bâtiment public et privé et au rétablissemnt de l’Administration francaise en Indochine.

.........

Général DE GAULLE.” (9)

(Tạm dịch như sau: Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Pháp

                                         CÔNG VỤ LỆNH

  Thiếu tá Castette được Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Pháp giao nhiệm vụ đặc biệt tại Đông Dương. Tất cả các lực lượng Pháp tự do FFL và lực lượng Pháp trong nước FFI được yêu cầu tự đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Castette. Thiếu tá Castette sẽ tiến hành, lúc thời cơ đến, chiếm đóng mọi công sở và cơ sở tư nhân và lập lại nền cai trị của nước Pháp tại Đông Dương.

   Ngày ......1945.

  Ký tên Tướng DE GAULLE.”

Khi biết ông Phạm Quỳnh đã bị Cách mạng bắt và vua Bảo Đại đã tuyên bố thoái vị (niêm yết tại Phu Văn Lâu, ngày 25.8.1945) để đứng về phía nhân dân chống Pháp lúc đó họ mới chịu để cho lực lượng Thanh niên tiền tuyến (10) tước vũ khí điện đài và hướng dẫn họ vào nơi quản thúc. Cũng trong khoảng thời gian đó, theo Giáo sư Tôn Thất Hoàng, đồn Biên phòng Thuận An của ông Đặng Văn Việt đã dùng mưu tóm gọn một toán đặc nhiệm khác của thực dân Pháp lăm le đổ bộ vào Thừa Thiên Huế bằng đường biển.

Giả sử vua Bảo Đại đã bị giết thì Chính phủ Lâm thời sẽ ăn nói làm sao với Đồng Minh ? Hoặc nếu vua Bảo Đại chưa được thuyết phục đứng về phía nhân dân mà lại trốn tránh ở đâu đó để chờ Đồng Minh đến cứu thì sự thể chính trị lúc đó sẽ xoay chuyển như thế nào ? Lịch sử không có chữ nếu nhưng nhà nghiên cứu lịch sử có thể đặt ra để thấy hết ý nghĩa của những việc tiếp diễn sau đó.

 

2. Vua Bảo Đại -  người công nhận tính hợp pháp

của chính phủ lâm thời VNDCCH

 

Do vấn đề pháp lý của chính quyền mới, ngày 30.8.1945, lễ thoái vị của vua Bảo Đại đã được tổ chức ở Huế. Ông Trần Huy Liệu đại diện cho Chính phủ lâm thời VNDCCH vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại đã viết:

“ (Ngày 30.8.1945) Bảo Đại chít khăn vàng, mặc áo hoàng bào đã đứng chực ở cửa. Phái đoàn bước lên Ngọ Môn, dân chúng hoan hô sôi nổi. Đến lượt vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị. Đọc xong, hoàng đế Bảo Đại giơ hai tay dâng lên chiếc kiếm dài nạm ngọc và sau đó là chiếc ấn vàng hình vuông. Tôi thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp nhận hai vật tượng trưng của chế độ phong kiến” (11).

Vua bảo Đại “là người duy nhất chính thức được các chính phủ khác công nhận” đã trao ấn kiếm cho đại diện Chính phủ lâm thời VNDCCH. Chính phủ Lâm thời được trao quyền một cách hợp pháp, tức là Chính phủ Lâm thời được chính phủ hợp pháp của Bảo Đại công nhận. Tiếp đến vào ngày 2.9.1945, Việt Nam tuyên bố độc lập và sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông Vĩnh Thụy (tức Cựu hoàng Bảo Đại) ra Hà Nội làm Cố vấn tối cao cho “Chính phủ Lâm Thời của nước Cộng hoà Việt Nam.” (12)

Chính phủ Lâm Thời VNDCCH là chính quyền (13) thừa kế, tiếp nối chính quyền của vua Bảo Đại chứ không phải “cướp” hay soán đoạt của chính quyền “hợp pháp” trước đó. Người lãnh đạo thời quân chủ  (CH Bảo Đại) nhận lời rời Huế ra Hà Nội giữ chức Cố vấn tối cao cho Chính phủ Cộng hoà bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (14). Nước Việt Nam đã có chủ hợp pháp. Từ đó trong các cuộc tiếp xúc với dân chúng cũng như tiếp các phái đoàn ngoại giao (kể cả quân đội Tưởng Giới Thạch nhân danh Đồng Minh), Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mời Cô vấn Vĩnh Thụy cùng dự và ngồi bên cạnh Người. Các Lực lượng Đồng Minh  không thể phủ nhận được thực tế hợp pháp ấy.

 

Cựu hoàng Bảo Đại họp mít-tin cứu đói

Chính phủ Lâm Thời VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và ông Vĩnh Thụy làm cố vấn tối cao là chính quyền hợp pháp, duy nhất của nước Việt Nam. Người đại diện hợp pháp của nước Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do đó Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng kiêm luôn chức Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Lâm thời. Tất cả các cuộc tiếp xúc ngoại giao với Việt Nam đều phải qua Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều lần Sainteny và tướng Raoul Salan của Pháp muốn gặp riêng Cố vấn Vĩnh Thụy đều bị Vĩnh Thụy từ chối. Ngày 16.10.1945 tại Hà Nội, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách người đứng đầu Chính phủ Việt Nam hợp pháp và Cố vấn Vĩnh Thụy tiếp Sainteny và chấp nhận nguyên tắc sẽ điều đình với Pháp. Ngày 24.3.1946, lại với tư cách trên Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Vịnh Hạ Long gặp D’ Argenlieu.  

Cố vấn Vĩnh Thụy có mặt trong Chính phủ Lâm thời xác nhận tính hợp pháp của Chính phủ Lâm thời. Và, sau đó Vĩnh Thụy vẫn được giữ vai trò “Cố vấn tối cao” trải qua các chính phủ chính thức do Quốc hội khoá 1 đề cử vào các ngày 2.3.1946 (Chính phủ Liên hiệp kháng chiến), và ngày 2.11.1946 (Chính phủ mới) (15). Lần đề cử ngày 2.11.1946, Cố vấn Vĩnh Thụy đang được Chủ tịch Hồ Chí Minh “giao công tác ở nước ngoài” (Trung Hoa) (16).      

Ngoài tác dụng về chính trị ấy, Cố vấn Vĩnh Thụy còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử :

- Thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc “Tuần Lễ Vàng” để lấy phương tiện mua súng;

- Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít-tin vận động cứu đói tổ chức trước nhà Hát lớn Hà Nội;

- Thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự lễ Tấn phong Giám mục cho linh mục Lê Hữu Từ tại  Phát Diệm;

 - Ứng cử đại biểu Quốc hội khoá 1 tại tỉnh Thanh Hoá và đạt được số phiếu cao nhất;

- Tham gia Hội đồng lập hiến soạn thảo dự thảo Hiến pháp (17);

 

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu cố vấn Vĩnh Thụy và Chính phủ VNDCCH với quốc Hội năm 1946

- Cầm đầu một phái đoàn ngoại giao sang Trùng Khánh thăm viếng xã giao Thống chế Tưởng Giới Thạch, cám ơn Thống chế đã công nhận nền độc lập Việt Nam (từ ngày 16.3.1946).  

Theo hồi ký Con Rồng An Nam của Bảo Đại và hồi ức của bà “thú phi” Bùi Mộng Điệp, ngày 23.2.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh định mời Cố vấn Vĩnh Thụy đứng ra lập chính phủ liên hiệp để đương đầu với các lực lượng chống Cộng, Bảo Đại đã đồng ý và chuẩn bị làm theo chỉ đạo của Cách mạng nhưng sau thấy không cần thiết nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh rút lui ý kiến và ông Cố vấn Vĩnh Thụy cũng rất vui lòng (18). Vào những ngày cuối đời CH Bảo Đại cũng đã kể lại chuyện ấy với nhà sử học Pháp Fédéric Mittérand như vậy.

Fédéric Mittérand hỏi.- Một sự kiện lạ lùng. Có lúc Cụ Hồ  đã nghĩ đến việc trao lại quyền hành cho Ngài?

          Bảo Đại trả lời.- Nhưng việc này chính tự tay Cụ Hồ. Một hôm Cụ Hồ đến  gặp tôi. Trước đó Cụ đã gọi điện thoại, Cụ nói sẽ đến gặp tôi. Tôi tưởng Cụ  ấy ốm. Cụ nói với tôi: “Không có, tôi muốn Ngài nắm lại chính quyền” Tôi hỏi: “Tại sao”. Ông nói: “Tôi bị để ý quá, tôi quá đỏ, tôi cảm thấy không được Đồng minh tín nhiệm.” Tôi tưởng Cụ Hồ đùa. Cụ nói: “Không ! Ngài hãy giúp chuẩn bị trình diện một chính phủ vào cuối ngày hôm nay”. Trong ngày hôm ấy, tôi đã có nhiều cuộc tiếp xúc, cho đến chiều thì Cụ Hồ lại gọi tôi. Cụ  nói: “Sau khi đã suy nghĩ kỹ lại, xin Ngài bỏ qua cho tôi chuyện vừa qua. Trước cái khó khăn của hoàn cảnh nầy, tôi không có quyền đào nhiệm”. Tôi nói: “Vậy thì xin Cụ hãy tiếp tục !

Nghe Bảo Đại thuật lại như thế, nhà sử học Fédéric Mittérand quá bất ngờ phải thốt lên: Quả là quá ngạc nhiên, rất xúc động khi thấy có sự đoàn kết cao đến như vậy (19).

Có được sự đoàn kết cao như vậy là nhờ tài sử dụng người và đức độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  

*

*     *

Cho đến ngày ấy (8.1945) nhiều người Việt Nam nghĩ rằng Bảo Đại chỉ là một sản phẩm của thực dân Pháp lập nên để làm bù nhìn, bất tài, ham chơi và cố bám lấy cái ngai vàng để thoả mãn các nhu cầu của cá nhân và dòng họ. Cách mạng Tháng tám/1945 thành công chế độ quân chủ bù nhìn của thực dân đế quốc cáo chung, vai trò chính trị của Bảo Đại đã chấm dứt. Nhiều tài liệu còn cho biết chính ngay bản thân Bảo Đại cũng đã nghĩ thế. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không nghĩ như thế. Người đã tạo cơ hội cho CH Bảo Đại chung tay lập nên nền Dân chủ Công hoà Việt Nam, hợp pháp hoá chính quyền non trẻ mà nhân dân vừa giành được trước thế giới, đặc biệt đối với Lực lượng Đồng Minh. Không những thế, Bảo Đại đã giúp cho Chủ tịch Hồ Minh thực hiện một số việc của chế độ mới như vừa nêu trên. Mặt khác CH Bảo Đại đi với Chủ tịch Hồ Chí Minh cho nên trong suốt thời gian ở Hà Nội ông không còn thấy một lực lượng quốc nội quốc ngoại nào xứng đáng hơn để ông tiếp xúc. Nhiều cuộc vận động bí mật và biểu tình công khai của các lực lượng Việt Quốc Việt Cách yêu cầu ông tham gia các lực lượng đối trọng với chính quyền mới ông đều từ chối. Sainteny đại diện cho Pháp, Tiêu Văn, Lư Hán đại diện  quân đội Tưởng Giới Thạch nhiều lần muốn tiếp xúc riêng với ông, ông đều không nhận lời và đồng thời báo cho Chủ tịch Hồ Chí Minh biết sự thể như thế (20). Về sau vì hoàn cảnh chiến tranh Lực lượng kháng chiến không đủ phương tiện để giữ chân Bảo Đại ở trong nước được nữa phải cử ông ra nước ngoài làm nhiệm vụ ngoại giao. Lúc đầu ông đã cố vượt qua thử thách khó khăn giữ vững tinh thần gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo ở trong nước. Nhưng dần dần về sau như chúng ta đã biết Bảo Đại vốn được đào tạo để làm vua (bù nhìn), quen với đới sống trưởng giả, ra nước ngoài hoạt động ngoại giao mà không có tiền, không có cán bộ giúp việc, không đủ phương tiện liên lạc với lãnh đạo trong nước nên ông đã bị lung lạc rồi bị sử dụng làm con bài của “Giải pháp Bảo Đại” bù nhìn cho kẻ thù của kháng chiến. CH Bảo Đại  chỉ có thể theo cách mạng bên cạnh Cụ Hồ. Khi ra khỏi “vùng phủ sóng” của Cụ Hồ, Bảo Đại trở lại con đường cũ là chuyện dễ hiểu. Thế mới thấy tài sử dụng con người của Bác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mời CH Bảo Đại làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ VNDCCH là một bài học về cách dùng người. Rất tiếc bài học ấy chưa  được vận dụng tốt trong nhiều hoàn cảnh.

                                                         

                                                      Gác Thọ Lộc (Huế), tháng 7-2015

                                                                                   N.Đ.X.

 

 

Chú thích:

(1) Trần Huy Liệu, Phái Đoàn Vào Huế Nhận Việc Thoái Vị Của Vua Bảo Đại  trích sách Bình Trị Thiên Tháng Tám bốn lăm-Hồi ký, Thuận Hóa.Huế, 1985, từ tr. 37 đến tr. 46.)

(2) Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi,  Nxb Vĩnh Sơn,1969, tr.92

(3) Daniel Hémery , Ho Chi Minh, De l’ Indochine au Vietnam, Découvertes, Gallimard, Paris 2002,  p.92

(4)  Stein Tonneson, Một nhà trí thức trong Cánh mạng dân tộc Việt Nam, Phụ lục Hồi ký Vũ Đình Hoè tập I, Nxb Văn Hoá Thông Tin, HN.1994, tr.452-454; những dòng in đậm để nhấn mạnh trong tất cả các trích dẫn trong bài nầy là của người viết (NĐX)

 (5) Mãi đến năm 1950, sau bốn năm tồn tại và thực hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chính phủ VNDCCH mới được Trung Quốc và Liên -xô công nhận.

(6) Tư Liệu Mới Về Cách Mạng Tháng Tám 1945, do Triệu Hiển Nguyễn Văn Khoan sưu tầm và dịch, Báo Xưa và Nay số 66/tháng 8 1990, tr. 18 -19,

(7) Xem (5).

(8) De Gaulle à d’Argenlieu, 16.8.45, SHAT 293 K 4 et Arch. Institut Charles de Gaulle, et Annam, Thierry d’Argenlieu, Chronique d’Indochine 1945-1947, Albin Michel, Paris,1985, tr..29-30

(9) Theo Jacques Massu và Jean Julien Fond, L’aventure viet-minh, Plon.1980, p. 91. 

(10) Do anh Lê Thiệu Huy (con trai cụ Lê Thước) khởi xướng

(11) Trần Huy Liệu, Sđd. tr.45

(12) Quyết định bổ nhiệm ngày 11/9/1945, theo báo Dân Chủ ngày 12/9/1945.

(13) Chính phủ Lâm Thời của nước Cộng hoà Việt Nam còn được gọi là “Nội các thống nhất quốc gia” gồm có 15 nhân vật: Hồ Chí Minh (Chủ tịch kiêm ngoại giao), Võ Nguyên Giáp (Bộ Nội vụ), Trần Huy Liệu (Bộ Thông tin-Tuyên truyền), Chu Văn Tấn Bộ (Quốc phòng), Dương Đức Hiền (Bộ Thanh niên), Nguyễn Mạnh Hà (Bộ Kinh tế quốc gia), Nguyễn Văn Tố (Bộ Cứu tế xã hội), Vũ Trọng Khánh (Bộ Tư pháp), Phạm Ngọc Thạch (Bộ Y tế), Đào Trọng Kim (Bộ Giao thông Công chánh), Lê Văn Hiến (Bộ Lao động), Phạm Văn Đồng (Bộ Tài chính), Vũ Đình Hoè (Bộ Quốc gia Giáo dục), Cù Huy Cận (Không giữ bộ nào), Nguyễn Văn Xuân (Không giữ bộ nào) (Theo báo Cứu Quốc, HN. 29.8.1945).   

(14) Pierre Brocheux, Hô Chi Minh, Du révolutionnaire à l’ Icône, Édi.Biographie Payot & Rivages, Paris 2003, p. 147

(15) Gồm 12 bộ trưởng, 9 thứ trưởng và 2 quốc vụ khanh do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu

 (16) Trước ngày toàn quốc kháng chiến (19.12.1946) - theo bà Mộng Điệp (vợ thứ của Vĩnh Thụy) - Bác Hồ đã cử  Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đem tiền và vàng qua Hồng Kông cho Cố vấn Vĩnh Thụy tiêu. Mãi đến tháng 7/1947, (sau gần 7 tháng kháng chiến) trả lời phỏng vấn của báo chí về Cố vấn Vĩnh Thụy, Bác Hồ không ngần ngại đáp rằng: “Nhiều thành viên trong Chính phủ và bản thân tôi, tất cả đều là bạn của ông Cố vấn Vĩnh Thụy, chúng tôi rất mong muốn gặp lại ông Cố vấn và cầu mong ông Cố vấn sớm trở về để cùng nhau lo việc nước. Nhưng Cố vấn Vĩnh Thụy hiện nay (7.1947 NĐX)  không thể rời Hồng Kông được. Chúng tôi xa mặt chứ không cách lòng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào sự trung thành của Cố vấn Vĩnh Thụy hiện đang ở nước ngoài nhưng vẫn tiếp tục làm việc cho chính phủ quốc gia mà Cố vấn vẫn là thành viên”.(trích lại của Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam  de 1940-1952,  Eïdition du Seuil, 1952, p.402 ).

(17) Trong hồi ký của ông Hoàng Xuân Bình - cận vệ của Cố vấn Vĩnh Thụy có đoạn viết: “Một hôm, gặp thầy cũ là ông Đặng Thai Mai, ông cho tôi biết nhận xét của ông (cũng là một thành viên của Hội đồng soạn thảo Dự thảo Hiến pháp): - “Ông Vĩnh Thụy tưởng là người ăn chơi nhưng không ngờ lại có những hiểu biết khá rộng về pháp lý và có nhiều ý kiến hay”.

(18) S.M.Bao Dai, Le Dragon d’ Annam, Nxb Plon, Paris 1980, p.150-151

 (19) Theo phim Fédéric Mittérand phỏng vấn CH Bảo Đại chiếu trên Đài Truyền hình Pháp vừa được chuyển ngữ và đăng phần đối thoại trên t/c Kiến thức Ngày Nay bắt đầu từ  10.7 đến đầu tháng 8.2005. 

(20) Theo hồi ức của bà “thứ phi” Bùi Mộng Điệp.

 

 
 
Các bài Lịch sử khác
Các bài Lịch sử
Các bài Bài mới viết
Các bài Lịch sử
Các bài Bài mới viết